Mục lục bài viết

 1. Thư cảnh báo vi phạm nhãn hiệu là gì?

Thư khuyến cáo/cảnh báo hành vi xâm phạm nhãn hiệu (Warning Letter/Notice) là một văn bản thông báo chính thức được ban hành bởi chủ sở hữu hợp pháp của nhãn hiệu nhằm yêu cầu một tổ chức hoặc cá nhân thứ ba chấm dứt và khắc phục hành vi bị coi là xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) đối với nhãn hiệu đã được bảo hộ. Văn bản này không chỉ thông báo về sai phạm mà còn cần nêu rõ thời hạn cụ thể để bên xâm phạm khắc phục hành vi, đồng thời cảnh báo về các biện pháp ngăn chặn và xử lý pháp lý tiếp theo trong trường hợp hành vi vi phạm vẫn tiếp diễn.

Bản chất pháp lý của Thư cảnh báo tại Việt Nam được xác định dựa trên Quyền tự bảo vệ của chủ thể quyền SHTT, được quy định cụ thể tại Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ. Khoản 1, điểm b Điều 198 quy định chủ thể quyền có quyền: "Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại". Thư cảnh báo chính là hình thức phi cưỡng chế đầu tiên và là cơ sở để thực hiện yêu cầu này, mang tính chất dân sự và khuyến nghị nhằm giải quyết tranh chấp ngoài hệ thống tư pháp chính thức.

Tuy nhiên, về mặt thủ tục, Thư cảnh báo không phải là thủ tục bắt buộc theo quy định hiện hành để chủ sở hữu quyền có thể khởi động các biện pháp xử lý vi phạm chính thức (như xử phạt hành chính hoặc tố tụng dân sự). Mặc dù tính chất không bắt buộc, việc gửi thư cảnh báo lại được xem là một bước đi chiến lược quan trọng và cần thiết.

 

2. Mục đích và ý nghĩa của thư cảnh báo vi phạm nhãn hiệu

Vị trí của Thư cảnh báo trong chiến lược bảo vệ nhãn hiệu vượt ra ngoài chức năng thông báo đơn thuần. Nó là công cụ hiệu quả để đạt được các mục tiêu pháp lý và kinh doanh phức tạp.

2.1. Tạo lợi thế đàm phán và tiết kiệm chi phí

Thư cảnh báo thiết lập một kênh đàm phán sơ bộ, cho phép giải quyết tranh chấp SHTT một cách nhanh chóng và ngoài khuôn khổ tòa án hoặc cơ quan hành chính. Nếu bên vi phạm tự nguyện chấm dứt hoạt động, chủ sở hữu quyền sẽ tiết kiệm được đáng kể chi phí kiện tụng và thời gian liên quan đến thủ tục pháp lý. Ngoài ra, việc gửi thư khuyến cáo còn có mục đích nâng cao ý thức pháp luật về SHTT cho các cá nhân, tổ chức kinh doanh. Quan trọng hơn, thông qua phản ứng của bên vi phạm, chủ sở hữu quyền có thể nắm bắt được ý đồ và mục đích của họ, từ đó xây dựng các phương án xử lý vi phạm tiếp theo một cách phù hợp.

2.2. Xây dựng căn cứ chứng cứ về ý đồ vi phạm

Giá trị chiến lược cốt lõi của Thư cảnh báo nằm ở khả năng chuyển hóa hành vi xâm phạm từ vô tình sang cố ý, đây là yếu tố then chốt để yêu cầu bồi thường thiệt hại lớn hơn trong tố tụng dân sự. Ban đầu, hành vi xâm phạm có thể là vô tình, do bên vi phạm không hề biết về quyền SHTT của chủ sở hữu. Tuy nhiên, sau khi nhận được Thư cảnh báo được gửi hợp lệ, bên vi phạm đã được thông báo chính thức và đầy đủ về quyền của chủ sở hữu và tính sai phạm của hành vi đang thực hiện. Nếu bên vi phạm tiếp tục hành vi sau khi đã hết thời hạn được nêu trong thư, hành vi đó sẽ được xem là xâm phạm có chủ đích. Việc chứng minh ý đồ cố ý này, dựa trên chứng cứ giao nhận thư cảnh báo, là cơ sở pháp lý vững chắc để yêu cầu các chế tài nghiêm khắc hơn và bồi thường thiệt hại ở mức độ cao hơn theo quy định của pháp luật.

 

3. Hướng dẫn chi tiết soạn thảo thư cảnh báo hợp lệ và sắc bén 

Thư khuyến cáo hành vi xâm phạm nhãn hiệu phải được soạn thảo một cách chuyên nghiệp, sử dụng ngôn ngữ sắc bén, căn cứ pháp lý chính xác và phải tuân thủ cấu trúc ba phần bắt buộc của một văn bản pháp lý thông thường: Mở đầu, Nội dung và Phần Kết.

3.1. Chi tiết phần mở đầu (Tiền đề pháp lý)

Phần mở đầu thiết lập tiền đề pháp lý cho toàn bộ văn bản và phải cung cấp đầy đủ thông tin để xác định rõ các bên liên quan và đối tượng của tranh chấp.

  • Tiêu đề: Phải rõ ràng, xác định đối tượng và mục đích của thư (Ví dụ: THƯ CẢNH BÁO HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU...).
  • Thông tin chủ sở hữu Qquyền: Cung cấp Tên, Địa chỉ và thông tin nhãn hiệu bị xâm phạm, bao gồm Số đăng ký và Nội dung nhãn hiệu. Việc đính kèm các tài liệu chứng minh quyền sở hữu hợp pháp, đặc biệt là bản sao Giấy chứng nhận Đăng ký Nhãn hiệu, là yêu cầu bắt buộc để xác lập tính hợp pháp của quyền ngay từ đầu.
  • Thông tin bên vi phạm: Xác định chính xác Tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân bị cáo buộc vi phạm.

3.2. Chi tiết phần nội dung (Phân tích lập luận và nằng chứng)

Phần nội dung là trái tim của Thư cảnh báo, nơi các lập luận pháp lý được xây dựng và chứng cứ được trình bày để khẳng định hành vi xâm phạm.

3.2.1. Chứng minh quyền sở hữu và phạm vi bảo hộ

Cần đưa ra những căn cứ, tài liệu chứng minh chủ sở hữu là chủ thể hợp pháp của nhãn hiệu, bao gồm Số giấy chứng nhận nhãn hiệu đã cấp và các tài liệu khác chứng minh quyền sở hữu, đặc biệt là phạm vi sản phẩm và dịch vụ được chỉ định bảo hộ.

3.2.2. Phân tích hành vi xâm phạm và bằng chứng

  • Trình bày hành vi cụ thể: Nêu rõ các dấu hiệu, hành vi, hoạt động của bên vi phạm được phát hiện qua thực tế kinh doanh hoặc dữ liệu hồ sơ Cục SHTT.
  • Lập luận pháp lý và so sánh: Sử dụng các biện pháp so sánh, đối chiếu, lập luận, phản biện kết hợp với quy định của Luật SHTT để khẳng định rõ ràng hành vi này cấu thành vi phạm quyền nhãn hiệu.
  • Tăng cường tính thuyết phục: Để gia tăng tính thuyết phục và tính pháp lý của thư khuyến cáo, chủ sở hữu nên cung cấp kèm theo Văn bản Giám định Sở hữu Trí tuệ (nếu có), do Viện Khoa học SHTT hoặc tổ chức giám định có thẩm quyền cấp. Văn bản giám định chuyển Thư cảnh báo từ một yêu cầu cá nhân thành một văn bản dựa trên căn cứ khoa học pháp lý rõ ràng.

3.3. Chi tiết phần Kết (Yêu cầu và cảnh báo hậu quả pháp lý)

Phần kết cần tóm tắt ý chí và nguyện vọng của chủ sở hữu, đưa ra các yêu cầu cụ thể và cảnh báo về hậu quả nếu không tuân thủ.

Yêu cầu khắc phục rõ ràng: Các yêu cầu cụ thể thường bao gồm:

  • Ngừng ngay lập tức việc thực hiện hành vi xâm phạm quyền SHTT.
  • Tiêu hủy toàn bộ tài liệu, bảng hiệu, hàng hóa và phương tiện có gắn yếu tố xâm phạm.
  • Yêu cầu bồi thường thiệt hại, xin lỗi và cải chính công khai.

Thiết lập thời hạn và cảnh báo hậu quả: Chủ sở hữu phải nêu rõ thời hạn cụ thể (ví dụ: 15-20 ngày làm việc) để bên vi phạm khắc phục. Trong phần này, cần cảnh báo rõ ràng về các biện pháp pháp lý cưỡng chế sẽ được áp dụng nếu yêu cầu không được thực hiện, bao gồm:

  • Áp dụng biện pháp hành chính (xử phạt, tịch thu, đình chỉ hoạt động kinh doanh).
  • Khởi kiện ra Tòa án hoặc Trọng tài (tố tụng dân sự) để yêu cầu bồi thường.
  • Tố cáo hình sự, nếu hành vi có dấu hiệu cấu thành tội phạm theo Điều 226 Bộ luật Hình sự.

 

4. Mẫu thư cảnh báo vi phạm quyền sở hữu trí tuệ với nhãn hiệu

Tình huống giả định: “Công ty nước giải khát Quốc tế Pepsxxx Việt Nam là chủ sở hữu nhãn hiệu “Aquafina và hình” cho sản phẩm nước uống tinh khiết. Thời gian qua, công ty phát hiện trên thị trường xuất hiện một số sản phẩm nước uống mang nhãn hiệu Aquavina, Aquafine với cách trình bày bao bì tương tự gây nhẫm lẫn với nhãn hiệu “Aquafina và hình” của công ty. Qua điều tra, Công ty Pepsxxx đã tìm ra công ty TX có địa chỉ tại Gia Lâm (Hà Nội) chuyên sản xuất và bán ra thị trường hai sản phẩm nước nói trên.

Công ty của tôi muốn nhờ luật sư với tư cách đại diện cho công ty giúp công ty thực hiện được quyền tự bảo vệ theo Luật Sở hữu trí tuệ để công ty đối thủ chấm dứt ngay hành vi xâm phạm này."

Trả lời:

Cảm ơn Công ty đã tin tưởng và gửi thư đến cho Công ty luật của chúng tôi, Trường hợp này tôi sẽ với tư cách là đại diện cho công ty viết thư Khuyến Cáo:

4.1 Mẫu giấy ủy quyền xử lý hành vi xâm phạm nhãn hiệu

Trước hết công ty Luật (tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp) cần giấy ủy quyền với mẫu như sau:

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

GIẤY UỶ QUYỀN

 

Hôm nay, ngày ….. tháng ….. năm 20..., tại địa chỉ : Phòng 2007, Tầng 20, Tòa nhà C2, Vincom Trần Duy Hưng, Đường Trần Duy Hưng, Phường Trung Hòa, Quận Cầu Giấy, Tp. Hà Nội.

Bên uỷ quyền

:

Địa chỉ trụ sở/cư trú

:

Điện thoại:

(Sau đây gọi là Bên A)

:

Bên nhận uỷ quyền

:

CÔNG TY LUẬT TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MINH KHUÊ

Địa chỉ trụ sở

:

Phòng 2007, Tầng 20, Tòa nhà C2, Vincom Trần Duy Hưng, Đường Trần Duy Hưng, Phường Trung Hòa, Quận Cầu Giấy, Tp. Hà Nội

Người đại diện

:

Chức danh:

Mã số thuế

(Sau đây gọi là Bên B)

:

0106143054 Điện thoại: 024399xxxx

Hai bên thỏa thuận việc Bên A ủy quyền cho Bên B thay mặt Bên A thực hiện các thủ tục liên quan đến việc thay mặt bên A thực hiện quyền tự bảo vệ trong luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.

Vì vậy, Bên B được phép soạn các giấy tờ cần thiết, cũng như các công việc khác liên quan đến việc bảo hộ pháp lý quyền sở hữu trí tuệ nêu trên.

Bên A cam kết sẽ chịu trách nhiệm trong phạm vi công việc đã ủy quyền cho Bên B. Bên B cam đoan sẽ thực hiện đúng nội dung công việc mà Bên A đã ủy quyền.

Giấy ủy quyền sẽ hết giá trị khi Bên B hoàn thành công việc mà Bên A ủy quyền

Bên ủy quyền

(Bên A)

Bên nhận ủy quyền

(Bên B)

 

4.2 Thư khuyến cáo hành vi xâm phạm nhãn hiệu

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Hà Nội, ngày... tháng... năm 20..

 

THƯ KHUYẾN CÁO

(V/v: Xâm phạm quyền sở hữu đối với nhãn hiệu ...)

 

Kính gửi: Công ty trách nhiệm hữu hạn TX .....

Địa chỉ: số … Gia Lâm, Hà Nội

Đầu thư, thay mặt Công ty nước giải khát Quốc tế Pepsxxx Việt Nam xin gửi lời chào thân mật tới quý công ty. Tôi là Bùi Thị H - Luật sư đại diện sở hữu công nghiệp của Công ty nước giải khát Pepsxxx Việt Nam, hôm nay viết thư khuyến cáo gửi tới quý công ty về vấn đề sau:

Hiện nay, Công ty Pepsxxx Việt Nam là chủ sở hữu nhãn hiệu “Aquafina và hình (1)” cho sản phẩm nước uống tinh khiết thuộc nhóm 32, theo văn bằng số 99173 được Cục sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp ngày 08/04/2008. Thời gian qua, công ty phát hiện trên thị trường xuất hiện một số sản phẩm nước uống tinh khiết mang nhãn hiệu Aquavina, Aquafine với cách trình bày bao bì tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu “Aquafina và hình” của công ty đang sở hữu và được bảo hộ. Sau khi tìm hiểu, chúng tôi được biết quý công ty chính là cơ sở chuyên sản xuất và bán ra thị trường hai sản phẩm nước nói trên. Chúng tôi cho rằng, việc công ty T X cho sản xuất, phân phối sản phẩm nước tinh khiết có gắn dấu hiệu “Aquavina”, “Aquafine” là hành vi xâm phạm quyền sở hữu đối với nhãn hiệu của Công ty Pepsxx. Với tư cách là Luật sư đại diện của công ty Pepsxxx, tôi viết thư khuyến cáo này yêu cầu công ty chấm dứt hành vi xâm phạm nói trên để có thể bảo đảm lợi ích và quan hệ hai bên.

Việc Công ty Pepsxxx chúng tôi viết thư khuyến cáo yêu cầu quý công ty T X chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu nhãn hiệu dựa trên những căn cứ sau:

Trước hết, xin khẳng định, công ty Pepsxxx là chủ sở hữu hợp pháp và độc quyền sử dụng đối với nhãn hiệu “Aquafina và hình”. Không phải ngẫu nhiên mà tôi khẳng định điều đó, bởi Cục sở hữu trí tuệ đã cấp Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu “Aquafina và hình” cho sản phẩm nước uống tinh khiết thuộc nhóm 32 của chúng tôi – văn bằng số 99173. Nội dung Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu có ghi rõ: chủ sở hữu nhãn hiệu “Aquafina và hình” là Công ty nước giải khát Quốc tế PepsiCo Việt Nam; đối tượng bảo hộ là nhãn hiệu “Aquafina và hình” (bao gồm cả màu sắc) cho sản phẩm nước uống tinh khiết thuộc nhóm 32; phạm vi bảo hộ bao gồm phần chữ “Aquafina” và phần hình (theo mẫu nhãn hiệu (1) mà chúng tôi đính kèm thư này). Giấy chứng nhận đăng kí nhãn hiệu của chúng tôi được cấp ngày 08/04/2008, do đó, đến nay vẫn còn hiệu lực, tức là chưa quá thời hạn bảo hộ nhãn hiệu. Đây là căn cứ pháp lí quan trọng mà chúng tôi mong quý công ty đặc biệt lưu tâm, bởi theo khoản 1 Điều 123 Luật sở hữu trí tuệ hiện hành, chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp có các quyền tài sản sau:

a, Sử dụng, cho phép người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp […];

b, Ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp […];

c, Định đoạt đối tượng sở hữu công nghiệp […]”.

Mà chủ sở hữu nhãn hiệu chính “là tổ chức, cá nhân được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hoặc có nhãn hiệu đã đăng kí quốc tế được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận hoặc có nhãn hiệu nổi tiếng” (khoản 1 Điều 121 Luật sở hữu trí tuệ 2005). Như vậy, đây là căn cứ pháp lí chứng minh chỉ công ty Pepsxxx Việt Nam mới là chủ sở hữu đối với nhãn hiệu “Aquafina và hình”, đồng thời cũng là chủ thể duy nhất được phép sử dụng nhãn hiệu này. Theo đó, chúng tôi có quyền ngăn cấm người khác, cụ thể trong trường hợp này là quý công ty sử dụng nhãn hiệu đã và đang được bảo hộ của công ty chúng tôi.

Thứ hai, chúng tôi cho rằng hành vi sản xuất và phân phối các sản phẩm nước uống mang nhãn hiệu Aquavina, Aquafine với cách trình bày bao bì tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu “Aquafina và hình” là hành vi xâm phạm quyền sở hữu nhãn hiệu của công ty Pepsxxx. Cụ thể, dựa theo quy định về hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu tại khoản 1 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, hành vi nói trên của quý công ty là hành vi “sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng kí kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ”, tức là có dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu của cùng một sản phẩm. Thêm vào đó, khoản 1 Điều 11 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP (2) “Yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu là dấu hiệu gắn trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch, biển hiệu, phương tiện quảng cáo và các phương tiện kinh doanh khác, trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ”.

Cũng trong Nghị định 105/2006/NĐ-CP, khoản 3 Điều 11 quy định “xác định một dấu hiệu bị nghi ngờ có phải là yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hay không, cần phải so sánh dấu hiệu đó với nhãn hiệu, đồng thời phải so sánh sản phẩm, dịch vụ đó với sản phẩm, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ” và có thể khẳng định có yếu tố xâm phạm khi chứng minh được cả hai điều kiện: “dấu hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ”; đồng thời “hàng hóa, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự về bản chất hoặc có liên hệ về chức năng, công dụng và có cùng kênh tiêu thụ với hàng hóa, dịch vụ. Dựa vào các quy định của pháp luật này, công ty Pepsxxx Việt Nam đã tiến hành so sánh, đối chứng hai mẫu vật theo điểm a, khoản 39.8, khoản 39.9 Điều 39 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN (3) và đưa ra kết luận sau:

Về phần chữ, “Aquafina” và “Aquavina”, “Aquafine” có sự tương tự rất lớn, hầu như không khác biệt.

Đánh giá mặt cấu trúc: cả ba từ đều có tổng số kí tự là 8; hai dấu hiệu mà chúng tôi coi là tương tự có số kí tự trùng với nhãn hiệu được bảo hộ là 7/8 kí tự, tức là chỉ khác 01 kí tự. Ba từ đều bắt đầu bằng tổ hợp chữ cái “Aqua”; xét theo từng cặp, “Aquafina” và “Aquavina” cùng kết thúc bằng thứ tự các chữ cái “ina”; “Aquafina” và “Aquafine” cũng có cùng cụm chữ cái “fin” ngày sau từ “Aqua”. Về mặt tổng thể cấu trúc từ, nếu không có sự chú ý đặc biệt, rất dễ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng. Như vậy, cấu trúc từ mà quý công ty sử dụng có sự tương tự gần như tuyệt đối với nhãn hiệu mà công ty Pepsxxx đã đăng kí bảo hộ.

Đánh giá mặt phát âm: có thể nhận thấy trước tiên, cả ba từ đều được phát âm thành 04 âm tiết, cụ thể tôi trình bày như sau: nhãn hiệu được bảo hộ “Aquafina” được đọc là “a-qua-phi-na”, hai dấu hiệu tương tự có cách phát âm là “a-qua-vi-na” và “a-qua-phi-ne”. Rất rõ ràng, hai dấu hiệu tương tự chỉ có được một chút khác biệt khi thay thế một phụ âm hoặc một nguyên âm trong từ, tuy nhiên, khi đọc nhanh cả 04 âm tiết, âm “vi-na” và “phi-ne” đều có thể bị biến âm trở thành “phi-na”.

Đánh giá mặt ý nghĩa: đây đều là các từ ngữ không thể dịch nghĩa, nó được ghép bằng các chữ cái thuộc bảng chữ cái La-tinh song không tạo nên một ý nghĩa nào.

Đánh giá hình thức thể hiện: ở hai dấu hiệu mà quý công ty gắn trên bao bì sản phẩm có phần chữ A ở đầu được trình bày nhô cao hơn các chữ cái khác, hoàn toàn giống với cách thể hiện kiểu chữ trong nhãn hiệu “Aquafina”. Tiếp đó, màu trắng của chữ “Aquavina”, “Aquafine” được kết hợp với nền màu xanh dương điểm thêm các chữ cái nhỏ bên dưới cũng tương tự sự kết hợp màu sắc cho nhãn hiệu độc quyền mà công ty Pepsxxx đăng kí.

Về phần hình, khi chúng tôi tiến hành so sánh cũng nhận thấy những điểm tương tự rất rõ ràng. Bao bì sản phẩm mà quý công ty sản xuất, phân phối có phần hình vẽ mặt trời màu đỏ tỏa sáng phía trên các ngọn núi, tương tự với hình ảnh mặt trời đang lấp ló phía sau những ngọn núi dài với màu sắc đầy tươi mới, trong sáng, đầy sức sống của buổi bình minh trên nhãn hiệu của chúng tôi. Nền màu nhãn hiệu “Aquafina và hình” là màu xanh, làm nổi bật dòng chữ màu trắng, thể hiện sự tinh khiết, trong lành của dòng sản phẩm nước uống chất lượng cao của chúng tôi, và sự thể hiện kết hợp các màu sắc này cũng được chúng tôi đăng kí bảo hộ. Quý công ty đã sản xuất các bao bì có cách trình bày hình ảnh, dấu hiệu kết hợpvới màu sắc tương tự như cách thể hiện màu sắc nhãn hiệu của công ty Pepsxxx.

Trong tổng thể nhãn hiệu “Aquafina và hình”, thành phần mạnh (yếu tố tác động mạnh vào cảm giác người tiêu dùng, gây chú ý, ấn tượng khi quan sát) chính là phần chữ. Dựa vào thành phần mạnh này mà khách hàng có thể phân biệt sản phẩm của chúng tôi với các hàng hóa khác trên thị trường, vậy mà, như đã trình bày, các đặc điểm của dấu hiệu chữ “Aquavina”, “Aquafine” đều gần như trùng với nhãn hiệu được bảo hộ của công ty Pepsxxx.

Ở khía cạnh khác, nếu sản phẩm của quý công ty là một hàng hóa khác loại so với sản phẩm mang nhãn hiệu bảo hộ của công ty Pepsxxx thì có thể vụ việc đã đi theo một chiều hướng khác, tuy nhiên, có lẽ chính quý công ty cũng nhận thức được sự giống nhau hoàn toàn giữa sản phẩm hai công ty, đều là nước uống tinh khiết. Đánh giá sự tương tự của hàng hóa này, chúng tôi đều dựa trên các cơ sở pháp lí, cụ thể, điểm a khoản 39.9 Điều 39 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN chỉ rõ:

Hai hàng hóa hoặc dịch vụ bị coi là trùng nhau (cùng loại) khi hai hàng hóa hoặc hai dịch vụ có các đặc điểm sau đây:

(i) Có cùng bản chất (thành phần, cấu tạo,…) và cùng chức năng, mục đích sử dụng; hoặc

(ii) Có bản chất gần giống nhau và cũng chức năng, mục đích sử dụng”.

Như vậy, hai dấu hiệu tương tự và nhãn hiệu được bảo hộ đều được sử dụng cho cùng một loại hàng hóa; điều kiện về tính trùng giữa hàng hóa của công ty T X với sản phẩm được bảo hộ của công ty Pepsxxx cũng đã được chứng minh.

Tất cả sự tương tự mà tôi đã nêu ở trên gần như đã trùng với nhãn hiệu được bảo hộ, đến mức làm cho người tiêu dùng nhầm lẫm giữa sản phẩm của công ty Pepsxxx và sản phẩm của công ty T X, theo khảo sát, chúng tôi còn được biết nhiều khách hàng đã tưởng lầm rằng sản phẩm mang dấu hiệu “Aquavina”, “Aquafine” là sản phẩm của công ty chúng tôi, và cho rằng hai dấu hiệu tương tự đó có thể là nhãn hiệu liên kết của công ty chúng tôi. Đây chính là căn cứ thực tế chứng minh cho sự tương tự đến mức gây nhầm lẫn của dấu hiệu mà quý công ty sử dụng so với nhãn hiệu được bảo hộ của công ty PepsiCo Việt Nam. Rõ ràng, cùng một kênh tiêu thụ, cùng nhóm hàng hóa, tương tự về dấu hiệu nhãn hiệu, thì khả năng sản phẩm của hai công ty được bày bán tại cùng một điểm bán hàng là rất lớn, việc nhầm lẫn của khách hàng giữa hai sản phẩm là không thể tránh khỏi. Đây là các sản phẩm có giá thành không quá cao, khách hàng khi mua thường không có sự chú ý soi xét kĩ lưỡng nhãn hiệu, vì thế, khả năng gây nhầm lẫn rất lớn.

Từ thực tế này, với tư cách là chủ sở hữu nhãn hiệu “Aquafina và hình”, công ty Pepsxxx hoàn toàn có quyền yêu cầu công ty T X chấm dứt ngay hành vi xâm phạm này để bảo đảm quyền lợi của công ty.

Thứ ba, giữa công ty Pepsxxx Việt Nam và công ty T X không tồn tại bất kì một hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp hay hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp nào. Như vậy, công ty PepsiCo chưa hề cho phép công ty Trường Xuân sử dụng mẫu nhãn hiệu đã đăng kí. Đồng thời, việc sử dụng dấu hiệu tương tự của quý công ty cũng không thuộc trường hợp giới hạn quyền của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định tại điểm b, điểm h khoản 2 Điều 125 Luật sở hữu trí tuệ.

Thứ tư, hành vi của quý công ty mà tôi cho rằng xâm phạm quyền sở hữu nhãn hiệu “Aquafina và hình” do công ty Pepsxxx độc quyền là hành vi xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam, do đó, chịu sự điều chỉnh của luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, văn bản dưới luật hiện hành.

Như vậy, tôi cho rằng, hành vi sản xuất, phân phối các sản phẩm có gắn dấu hiệu “Aquavina”, “Aquafine” với cách trình bày bao bì tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu “Aquafina và hình” của công ty Pepsxxx Việt Nam là hành vi xâm phạm quyền sở hữu nhãn hiệu.

Từ những lý lẽ trên, thay mặt công ty Pepsxxx Việt Nam, tôi đề nghị quý công ty:

Một là, chấm dứt sử dụng dấu hiệu tương tự nhãn hiệu bào hộ, chấm dứt sản xuất, phân phối sản phẩm có bao bì gắn các dấu hiệu tương tự đó để tránh sự nhầm lẫn của người tiêu dùng, tôn trọng quyền sở hữu hợp pháp của công ty Pepsxxx Việt Nam (các hành vi sử dụng dấu hiệu được hiểu theo quy định tại điểm a, b khoản 5 Điều 124 Luật sở hữu trí tuệ).

Hai là, đề nghị công ty thu hồi các sản phẩm có gắn dấu hiệu tương tự đã phân phối trên thị trường, tiêu hủy trong thời gian sớm nhất (tối đa 2 tháng kể từ ngày nhận được thư này).

Ba là, nếu công ty vẫn tiếp tục sản xuất hoặc không tiến hành thu hồi như thời hạn thì công ty chúng tôi sẽ gửi công văn đề nghị xử lí vi phạm tới Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ, như vậy, thiệt hại về tiền bồi thường của quý công ty sẽ chỉ tăng thêm. Do đó, công ty hãy thực hiện hành vi phù hợp với quy định của pháp luật, tránh những rắc rối sau này.

Bốn là, đề nghị quý công ty thiết kế một nhãn hiệu riêng cho sản phẩm của mình mà có sự phân biệt đối với nhãn hiệu “Aquafina và hình” của công ty Pepsxxx Việt Nam.

Với những gì tôi đại diện công ty Pepsxxx Việt Nam trình bày trong thư, hi vọng rằng công ty T X sẽ đưa ra quyết định đúng đắn, từ đó tiếp tục phát triển, hạn chế tối đa những tổn thất mà công ty có thể gặp phải, cũng vì thế mà quyền lợi hợp pháp của công ty chúng tôi có thể đươc bảo vệ, tạo nên môi trường kinh doanh lành mạnh giữa hai bên công ty.

Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi

Luật sư công ty Luật Minh Khuê

 

5. Thủ tục gửi, giá trị pháp lý và chứng cứ trong tố tụng 

5.1. Quy trình gửi thư cảnh báo hợp lệ và tính pháp lý của thông báo

Việc gửi thư cảnh báo phải tuân thủ quy tắc chứng minh giao nhận văn bản pháp lý để đảm bảo giá trị chứng cứ. Mặc dù Luật SHTT không quy định chi tiết về hình thức gửi, để một Thư cảnh báo được chấp nhận là chứng cứ thông báo tại Tòa án, chủ sở hữu quyền phải chứng minh bên bị cáo buộc đã thực nhận văn bản.

Do đó, phương thức gửi phải là Thư bảo đảm (Thư gửi có xác nhận) hoặc thông qua dịch vụ bưu chính có hồi báo. Điều này tuân thủ nguyên tắc chứng minh giao nhận văn bản pháp lý quan trọng. Việc gửi thông qua các công ty luật chuyên về SHTT cũng giúp đảm bảo quy trình pháp lý chuẩn hóa và tăng cường tính chuyên nghiệp của thông báo.

5.2. Giá trị chứng cứ của thư cảnh báo trong tố tụng dân sự Việt Nam

Trong tố tụng dân sự, Thư cảnh báo (kèm theo bằng chứng giao nhận) đóng vai trò là chứng cứ quan trọng giúp xác định sự thật khách quan của vụ án theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Thư cảnh báo thiết lập ngày chính thức mà bên vi phạm nhận được thông báo, làm cơ sở để xác định lỗi và tính toán thiệt hại phát sinh. Nếu bên vi phạm tiếp tục hoạt động kinh doanh sau ngày nhận cảnh báo và thời hạn đã nêu, điều này củng cố bằng chứng về hành vi cố ý vi phạm. Việc phớt lờ thư cảnh báo hoặc không phản hồi sau thời hạn 15–20 ngày sẽ được cơ quan chức năng hoặc Tòa án xem xét là yếu tố bất lợi, hỗ trợ mạnh mẽ cho lập luận của chủ sở hữu quyền về việc thiếu thiện chí hợp tác.

5.3. Thời hạn xử lý và chuyển đổi chiến lược hành động

Chủ thể quyền phải theo dõi sát sao phản hồi trong khung thời gian đã định (thường 15–20 ngày làm việc). Nếu bên vi phạm không thực hiện các yêu cầu hoặc thực hiện không đầy đủ, chủ thể quyền cần ngay lập tức chuyển đổi chiến lược. Các phương án tiếp theo là Yêu cầu cơ quan chức năng xử lý bằng biện pháp hành chính (Phương án 2) hoặc khởi kiện dân sự ra tòa án. Sự chuyển đổi kịp thời này là cần thiết để duy trì tính răn đe pháp lý và ngăn chặn thiệt hại tiếp diễn.

 

6. Chiến lược xử lý vi phạm sau khi gửi thư cảnh báo (phương án hành động) 

Khi Thư cảnh báo không đạt được sự chấm dứt tự nguyện, chủ sở hữu quyền cần phân tích kỹ lưỡng các lựa chọn cưỡng chế pháp lý.

6.1. Kịch bản lý tưởng: Thỏa thuận và chấm dứt tự nguyện

Kịch bản này xảy ra khi bên vi phạm tự nguyện chấm dứt hành vi, giúp chủ sở hữu quyền tiết kiệm đáng kể chi phí và thời gian. Các thỏa thuận chấm dứt cần được lập thành văn bản để đảm bảo bên vi phạm không tái diễn trong tương lai.

6.2. Kịch bản hành động cưỡng chế: Phân tích lựa chọn chiến lược

Lựa chọn 1: Biện pháp Hành chính (Administrative Action)

Biện pháp hành chính bao gồm việc yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (như Thanh tra SHTT, Công an Kinh tế) áp dụng biện pháp xử phạt.

  • Ưu điểm Chiến lược: Tác động nhanh chóng và mang tính cưỡng chế cao. Cơ quan chức năng có quyền áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung như tịch thu hàng hóa, nguyên vật liệu và đình chỉ có thời hạn hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực vi phạm.
  • Hạn chế: Biện pháp này chủ yếu là phạt tiền hành chính, do đó khả năng thu hồi bồi thường thiệt hại kinh tế thực tế cho chủ sở hữu quyền thường thấp hơn so với tố tụng dân sự.

Lựa chọn 2: Tố tụng Dân sự (Civil Litigation)

Chủ sở hữu quyền khởi kiện ra Tòa án hoặc Trọng tài để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

  • Ưu điểm Chiến lược: Đây là phương án tốt nhất để yêu cầu bồi thường thiệt hại (bao gồm thiệt hại vật chất và tinh thần), buộc xin lỗi, cải chính công khai. Tòa án có thể áp dụng các biện pháp dân sự cưỡng chế khác như buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hàng hoá xâm phạm không nhằm mục đích thương mại.
  • Hạn chế: Thời gian xử lý thường kéo dài, chi phí pháp lý cao và yêu cầu chứng minh mức độ thiệt hại phải rất chi tiết và có căn cứ.

Lựa chọn 3: Tố cáo Hình sự (Criminal Prosecution)

Áp dụng khi hành vi xâm phạm có dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự (Điều 226). Đây là biện pháp nghiêm khắc nhất và ít được sử dụng, thường dành cho các trường hợp vi phạm có quy mô lớn và gây hậu quả nghiêm trọng.

 

7. Chiến lược phản ứng khi nhận được thư cảnh báo (cho bên bị cáo buộc) 

Khi nhận được Thư cảnh báo, bên bị cáo buộc cần thực hiện ngay các bước pháp lý để đánh giá rủi ro và xây dựng chiến lược phản ứng tối ưu.

7.1. Đánh giá ban đầu và phân tích rủi ro

  • Kiểm tra Tính hợp lệ của Quyền: Bên nhận phải xác minh tính hợp pháp của quyền sở hữu nhãn hiệu của bên gửi bằng cách kiểm tra Số đăng ký, Nội dung thương hiệu và danh mục sản phẩm/dịch vụ được chỉ định bảo hộ.
  • Đánh giá Mức độ Xâm phạm: Phân tích kỹ lưỡng các lập luận và bằng chứng so sánh, đối chiếu của bên gửi để xác định liệu hành vi kinh doanh hiện tại có thực sự cấu thành vi phạm hoặc gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được bảo hộ hay không.
  • Hậu quả Pháp lý của Sự Im lặng: Việc không phản hồi thư cảnh báo sẽ làm tăng rủi ro pháp lý cho bên bị cáo buộc. Sự im lặng sau khi nhận thông báo có thể bị diễn giải là sự thừa nhận ngầm về hành vi vi phạm, củng cố thêm lập luận về lỗi cố ý nếu tranh chấp tiến triển đến tố tụng.

7.2. Các phương án phản hồi chiến lược (The Defensive Response)

Tùy theo kết quả đánh giá, bên bị cáo buộc có thể lựa chọn phản hồi theo các phương án sau:

Phương án 1: Phản hồi đồng ý khắc phục (Thương lượng Chấm dứt)

Phương án này phù hợp khi rủi ro vi phạm cao và bên bị cáo buộc muốn giảm thiểu chi phí. Phản hồi cần thể hiện thiện chí hợp tác, nhưng cần thỏa thuận chặt chẽ về phạm vi và thời gian chấm dứt, tránh thừa nhận hoàn toàn lỗi nếu không cần thiết.

Phương án 2: Phản hồi Bác bỏ và Bảo vệ (Defensive Response)

Nếu có căn cứ pháp lý mạnh mẽ để chống lại yêu cầu, bên bị cáo buộc nên gửi thư phản hồi bác bỏ chi tiết, trình bày các lập luận pháp lý phản đối sự tương tự hoặc khả năng gây nhầm lẫn.

Một chiến lược phòng thủ mạnh mẽ là chứng minh nhãn hiệu của bên bị cáo buộc đã được sử dụng rộng rãi, liên tục và đủ quan trọng trước nhãn hiệu của bên cảnh báo. Để thực hiện chiến lược này, cần lưu giữ hồ sơ chi tiết về việc sử dụng nhãn hiệu (ngày sử dụng đầu tiên, phạm vi địa lý), thu thập tài liệu bán hàng/tiếp thị, và tiến hành khảo sát người tiêu dùng để chứng minh sự nhận biết của công chúng đối với nhãn hiệu.

7.3. Chiến lược tấn công ngược (Hủy bỏ hiệu lực)

Trong những trường hợp đặc biệt, nếu có bằng chứng rõ ràng về việc đăng ký nhãn hiệu của đối thủ là không trung thực, bên bị cáo buộc có thể xem xét chiến lược phản công pháp lý bằng cách yêu cầu Cục SHTT hủy bỏ hiệu lực đăng ký của nhãn hiệu đó.

Kết luận và khuyến nghị từ Luật Minh Khuê:

Thư cảnh báo hành vi xâm phạm nhãn hiệu là một công cụ pháp lý không thể thiếu trong quản trị rủi ro SHTT. Nó vừa là biện pháp tự bảo vệ quyền (Điều 198 Luật SHTT), vừa là cơ chế chiến lược để tiết kiệm chi phí, và quan trọng nhất, là cơ sở để thiết lập bằng chứng về hành vi cố ý vi phạm trong quá trình tố tụng dân sự.

Báo cáo nghiên cứu chuyên sâu này khẳng định rằng hiệu quả của Thư cảnh báo phụ thuộc vào tính chính xác của nội dung và sự chuẩn hóa trong thủ tục gửi. Chủ sở hữu quyền được khuyến nghị luôn phối hợp với chuyên gia pháp lý SHTT để đảm bảo rằng văn bản được soạn thảo sắc bén, có đầy đủ căn cứ pháp lý và bằng chứng kỹ thuật (như Văn bản Giám định), và thủ tục gửi được thực hiện qua kênh có xác nhận (thư bảo đảm) để tối đa hóa giá trị chứng cứ.

Đối với bên nhận cảnh báo, việc phản ứng kịp thời, chính xác và có chiến lược pháp lý (bác bỏ dựa trên nguyên tắc sử dụng trước hoặc đàm phán chấm dứt) là bắt buộc để tránh rủi ro pháp lý gia tăng do hành vi cố ý vi phạm.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật sở hữu trí tuệ trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay tới số: 0986.386.648 để được giải đáp. Hoặc gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ nhanh nhất.