1. Thế nào là cho vay nặng lãi?

Vay nặng lãi, hay còn được gọi là vay "tín dụng đen," là tình trạng mà người dân không thực hiện việc vay vốn tại ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng được cấp phép, mà thay vào đó họ tìm đến các nơi hoạt động tín dụng chui, không có sự quản lý của các cơ quan chức năng và không được cấp phép.

Hoạt động vay tín dụng đen này đã gây ra tình trạng vỡ nợ, không khả năng trả nợ hoặc áp lực nợ gia tăng, tạo ra tác động tiêu cực lớn đến cuộc sống của người dân và tạo ra mất trật tự và an toàn xã hội. Tội vay nặng lãi cũng được quy định trong Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi và bổ sung năm 2017.

Theo quy định tại Điều 468 của Bộ Luật Dân sự năm 2015, lãi suất vay được tự do thỏa thuận bởi các bên tham gia, nhưng với mỗi khoản vay, lãi suất không được vượt quá 20% mỗi năm, trừ trường hợp một bên là tổ chức tín dụng, trong trường hợp đó hai bên có thể thỏa thuận mức lãi suất vượt quá giới hạn của ngân hàng và vẫn được công nhận theo pháp luật. Nếu tại thời điểm vay, hai bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không ghi rõ mức lãi suất, khi có tranh chấp về lãi suất, mức lãi suất được xác định bằng 50% của mức lãi suất giới hạn. Pháp luật quy định như vậy nhằm bảo vệ quyền lợi của người vay, được xem là phía yếu hơn trong giao dịch.

Do đó, nếu trong giao dịch dân sự giữa cá nhân với cá nhân, việc cho vay với mức lãi suất vượt quá 20% mỗi năm sẽ bị coi là vi phạm pháp luật và mức lãi suất đó sẽ không có hiệu lực. Trong trường hợp có tranh chấp, pháp luật sẽ không bảo vệ quyền lợi của bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá giới hạn này. Tùy thuộc vào mức độ, tính chất và hành vi của vụ việc, cũng như mức lãi suất vay, người vi phạm có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc chịu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, để chịu trách nhiệm hình sự về tội này, theo khoản 1 của Điều 201 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi và bổ sung năm 2017, người cho vay với mức lãi suất cao gấp 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ Luật Dân sự sẽ bị xem xét chịu trách nhiệm hình sự. Mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ Luật Dân sự hiện tại là không quá 20% mỗi năm, tương đương không quá 1,66% mỗi tháng. Do đó, nếu mức lãi suất cho vay vượt quá 8,33% mỗi tháng, tức là vượt quá 5 lần giới hạn này, thì đây được coi là tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

2. Phân tích cấu thành tội cho vay nặng lãi

Để làm rõ hơn về tội cho vay nặng lãi, chúng ta cần phân tích 4 yếu tố cấu thành của tội này như sau:

- Chủ thể của tội phạm:

Mọi người trên 16 tuổi và có đủ năng lực hình sự sẽ chịu trách nhiệm về tội này khi thực hiện hành vi cho vay nặng lãi.

- Khách thể của tội phạm:

Khách thể của tội này là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm phạm, cụ thể là trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ. Tội cho vay nặng lãi cũng có thể dẫn đến xâm phạm trật tự an toàn và an ninh khi có hành vi siết nợ xảy ra thực tế.

- Mặt chủ quan của tội phạm:

Mặt chủ quan liên quan đến lỗi của người phạm tội. Trong trường hợp tội cho vay nặng lãi, người phạm tội có lỗi cố ý, tức là họ biết rõ hành vi cho vay với lãi suất cao là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn thực hiện vì mục đích kiếm lợi bất chính.

- Mặt khách quan của tội phạm:

Về hành vi: Hành vi khách quan của tội này là việc cho người khác vay tiền với mức lãi suất cao gấp 5 lần mức lãi suất cao nhất trong hợp đồng dân sự. Cho vay có thể được lập thành hợp đồng hoặc không, nhưng do tính trái pháp luật của hành vi này, ít khi có hợp đồng vay ghi rõ mức lãi suất. Thay vào đó, hai bên thường thỏa thuận bằng miệng.

Người cho vay thường lợi dụng tình huống khó khăn về tài chính của người vay, có thể là do tai nạn, ốm đau hoặc khó khăn đột xuất. Họ áp dụng hình thức cho vay nhanh, quảng cáo thủ tục đơn giản và giải ngân dễ dàng so với ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng chính thống, đẩy người vay phải vay với lãi suất cao.

Hậu quả của tội này gây thiệt hại về tài sản cho người vay khi phải trả một khoản lãi suất quá cao so với quy định. Đôi khi, nó cũng gây tổn hại cho sức khỏe, tính mạng, danh dự và nhân phẩm. Không phải ai cũng có khả năng trả nợ khi vay nặng lãi, và tình huống này thường liên quan đến các hoạt động siết nợ xã hội đen. Do đó, thiệt hại không chỉ ảnh hưởng đến người vay mà còn đến trật tự và an ninh xã hội.

3. Thu lợi 4.000 tỷ từ hoạt động cho vay nặng lãi thì phạt tù bao nhiêu năm?

3.1. Cách xác định số tiền thu lợi bất chính để xử lý trách nhiệm hình sự hành vi cho vay nặng lãi

Theo Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP, việc xác định trách nhiệm hình sự trong trường hợp cho vay lãi nặng được quy định như sau:

- Trường hợp cho vay lãi nặng đã hết thời hạn vay theo thỏa thuận: Số tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự bao gồm tiền lãi và các khoản thu trái pháp luật khác mà người vay phải trả cho người cho vay sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự trong toàn bộ kỳ hạn vay.

- Trường hợp cho vay lãi nặng chưa hết thời hạn vay theo thỏa thuận mà bị phát hiện: Số tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự bao gồm tiền lãi và các khoản thu trái pháp luật khác mà người vay phải trả cho người cho vay sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự tính đến thời điểm cơ quan có thẩm quyền phát hiện và ngăn chặn.

Nếu bên vay đã trả tiền lãi trước hạn và các khoản thu trái pháp luật khác, số tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự bao gồm tiền lãi và các khoản thu trái pháp luật khác mà người vay đã thực tế trả cho người cho vay sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự.

3.2. Mức phạt đối với hành vi cho vay nặng lãi căn cứ trên số tiền thu lợi bất chính

Theo quy định của Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi điểm i khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017), tội cho vay nặng lãi được điều chỉnh như sau:

- Nếu khoản thu lợi bất chính từ việc cho vay nặng lãi từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức phạt từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ trong khoảng thời gian đến 3 năm.

- Nếu khoản thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, người phạm tội sẽ bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù trong khoảng thời gian từ 6 tháng đến 3 năm.

Ngoài ra, người phạm tội cũng có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định trong khoảng thời gian từ 1 năm đến 5 năm.

Hiện nay, đã xuất hiện nhiều công ty và tổ chức núp bóng dịch vụ cầm đồ, tư vấn tài chính để thực hiện hoạt động cho vay lãi nặng thông qua các trang web. Với lãi suất cao hơn nhiều lần so với mức lãi suất cao nhất quy định tại Bộ luật dân sự, những tổ chức này đã thu lợi bất chính hàng nghìn tỷ đồng. Trong trường hợp này, sẽ khởi tố các bị can là Giám đốc, Trưởng phòng, Trưởng bộ phận, Trưởng nhóm thuộc Công ty, tức là những người cầm đầu, tham gia và đủ yếu tố cấu thành tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự". Theo đó, những đối tượng này sẽ đối mặt với hình phạt cao nhất của tội cho vay nặng lãi với số tiền phạt từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù trong khoảng thời gian từ 6 tháng đến 3 năm.

Để tìm hiểu thêm những thông tin liên quan, mời quý bạn đọc cùng tham khảo thêm bài viết sau của Luật Minh Khuê: Tội cho vay nặng lãi theo quy định mới nhất 2023 luật hình sự?

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê liên quan đến vấn đề: Thu lợi 4.000 tỷ từ hoạt động cho vay nặng lãi thì phạt tù bao nhiêu năm? Mọi thắc mắc chưa rõ hay có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tư vấn qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.