Theo trí nhớ của mẹ tôi và cũng có một phần thông tin từ bà ngoại của tôi là mẹ tôi được sinh ra (thời điểm năm 1960) là ở Hà Nội. Tuy nhiên, mẹ tôi cũng không rõ tại thời điểm năm 1960 cách thức quản lý hộ khẩu như thế nào vì lúc đó mẹ tôi còn nhỏ, nhưng hiện tại mẹ tôi không có hộ khẩu hoặc giấy tờ gì tương tự chứng minh tại thời điểm sinh ra mẹ tôi ở Hà Nội. Nay, do mẹ tôi bị mất giấy khai sinh bản chính & cả bản sao, mẹ tôi có lên UBND quận BĐ làm thủ tục xin trích lục lại gốc & xin cấp lại giấy khai sinh bản chính. Hồ sơ của mẹ tôi bao gồm đơn xin cấp lại giấy khai sinh (theo mẫu của UBND), sổ hộ khẩu (chứng nhận chuyển đến quận BĐ từ năm 1974), chứng minh thư còn hạn (cấp lại năm 2009). UBND quận họ đã làm thủ tục trích lục nhiều lần (mỗi lần họ yêu cầu mẹ tôi xin trích lục 3 tháng kể từ ngày sinh kê khai) nhưng không tìm thấy kết quả. Mẹ tôi trình bày nếu không có lưu trong sổ gốc thì cho mẹ tôi làm thủ tục xin cấp lại bản chính nhưng họ không đồng ý, yêu cầu mẹ tôi phải chứng minh tại thời điểm mẹ tôi sinh ra là có hộ khẩu tại quận BĐ hoặc phải có giấy tờ gì đó tương đương chứng minh tại thời điểm sinh ra mẹ tôi ở đây thì họ mới cấp lại. Tôi xin hỏi Luật sư UBND quận BĐđang giải quyết yêu cầu của mẹ tôi như trên đây có đúng hay không? Nếu đúng thì mẹ tôi phải làm gì trong trường hợp này vì thực sự có thể việc quản lý hộ khẩu ngày xưa không chặt chẽ & mẹ tôi rất khó khăn nếu phải đi xin lại hộ tịch thời điểm mẹ tôi sinh ra năm là năm 1960. Kính mong Luật sư giúp đỡ trả lời sớm cho tôi qua email này hoặc cho tôi xin số điện thoại trực tiếp để tôi liên hệ. Ngoài ra, trong quá trình đi làm lại giấy khai sinh cùng mẹ, tôi có cảm giác UBND quận gây rất nhiều khó khăn. Vậy luật sư cho tôi hỏi là ở công ty luật có dịch vụ kê khai & đi làm hộ giấy khai sinh như trường hợp trên của mẹ tôi không thì tư vấn thêm cho tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn.

NHN (tel: 0987.868.xxx)

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của công ty luật Minh Khuê.

Thủ tục cấp lại giấy khai sinh cho người cao tuổi ?

Luật sư tư vấn luật dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Nghị định 158/2005/NĐ-CP

>> Xem thêm:  Thủ tục làm lại giấy khai sinh và cải chính giấy khai sinh ?

Nghị định 06/2012/NĐ-CP

Thông tư 01/2008/TT-BTP

2. Nội dung tư vấn:

Căn cứ Điều 48 Nghị định 158/2005/NĐ-CP về thủ tục đăng kí lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi như sau:

Điều 48. Thủ tục đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi

1. Người có yêu cầu đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định).

Trong trường hợp đăng ký lại tại Ủy ban nhân dân cấp xã, không phải nơi đương sự đã đăng ký hộ tịch trước đây, thì Tờ khai phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký hộ tịch về việc đã đăng ký; trừ trường hợp đương sự xuất trình được bản sao giấy tờ hộ tịch đã cấp hợp lệ trước đây.

2. Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ hộ tịch theo từng loại việc và bản chính Giấy khai sinh, Giấy chứng tử, Giấy chứng nhận kết hôn hoặc Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho người đi đăng ký một bản chính giấy tờ hộ tịch theo từng loại việc. Các giấy tờ hộ tịch cũ liên quan đến sự kiện hộ tịch đăng ký lại (nếu có) được thu hồi và lưu hồ sơ. Trong cột ghi chú của sổ hộ tịch và dưới tiêu đề của bản chính giấy tờ hộ tịch phải ghi rõ “Đăng ký lại”.

Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 5 ngày.

3. Khi đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi, nếu người đi đăng ký lại xuất trình bản sao giấy tờ đã cấp hợp lệ trước đây, thì nội dung khai sinh, khai tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi được ghi theo nội dung của bản sao giấy tờ hộ tịch đó.

>> Xem thêm:  Thủ tục làm lại giấy khai sinh và xin cấp lại bản chính giấy khai sinh ?

Trường hợp đăng ký lại việc sinh cho người không có bản sao Giấy khai sinh đã cấp trước đây, nhưng đã có hồ sơ, giấy tờ cá nhân như: Sổ hộ khẩu, Giấy chứng minh nhân dân, học bạ, bằng tốt nghiệp, lý lịch cán bộ, lý lịch đảng viên, mà trong các hồ sơ giấy tờ đó đã có sự thống nhất về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán, thì đăng ký đúng theo nội dung đó. Trường hợp họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán trong các hồ sơ, giấy tờ nói trên của người đó không thống nhất thì đăng ký theo hồ sơ, giấy tờ được lập đầu tiên.Trong trường hợp địa danh đã có thay đổi, thì phần khai về quê quán được ghi theo địa danh hiện tại.

Phần khai về cha mẹ trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh được ghi theo thời điểm đăng ký lại việc sinh. Riêng phần ghi về quốc tịch của cha, mẹ trong trường hợp cha, mẹ đã được thôi quốc tịch Việt Nam, đã nhập quốc tịch nước ngoài, thì quốc tịch của cha, mẹ vẫn phải ghi quốc tịch Việt Nam; quốc tịch hiện tại của cha, mẹ được ghi chú vào Sổ đăng ký khai sinh và mặt sau của bản chính Giấy khai sinh.

4. Khi đăng ký lại việc kết hôn, nhận nuôi con nuôi, các bên đương sự phải có mặt. Quan hệ hôn nhân, quan hệ giữa cha mẹ nuôi với con nuôi được công nhận kể từ ngày đã đăng ký kết hôn hoặc đăng ký việc nuôi con nuôi trước đây.

Căn cứ Điều 1 Nghị định 06/2012/NĐ-CP như sau:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch 
... 
13. Khoản 1 và khoản 2 Điều 48 được sửa đổi, bổ sung như sau: 

“1. Người có yêu cầu đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) và xuất trình bản sao giấy tờ hộ tịch đã cấp hợp lệ trước đây (nếu có); trong trường hợp không có bản sao giấy tờ hộ tịch, thì đương sự phải tự cam đoan về việc đã đăng ký, nhưng sổ hộ tịch không còn lưu được và chịu trách nhiệm về nội dung cam đoan.

Căn cứ mục 7 thông tư 01/2008/TT-BTP như sau:

7. Đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi 

a) Trong trường hợp Ủy ban nhân dân cấp xã không có căn cứ để xác định được đương sự đã đăng ký hộ tịch, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã chỉ xác nhận về việc sổ đăng ký hộ tịch của năm đó không còn lưu trữ; trong trường hợp việc hộ tịch trước đây được đăng ký tại Ủy ban nhân dân cấp huyện, thì do Ủy ban nhân dân cấp huyện xác nhận. Xác nhận về việc sổ hộ tịch không còn lưu trữ được thay cho xác nhận đương sự đã đăng ký hộ tịch. 

Hướng dẫn này cũng được áp dụng đối với trường hợp đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài theo quy định tại Khoản 1 Điều 59 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, mà việc hộ tịch trước đây đã được đăng ký tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện. 

b) Trong trường hợp người đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi xuất trình được bản sao giấy tờ hộ tịch đã cấp hợp lệ trước đây, thì không cần phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký hộ tịch. 

c) Trong trường hợp đương sự có bản chính Giấy khai sinh, nhưng Sổ đăng ký khai sinh trước đây không còn lưu trữ hoặc việc đăng ký khai sinh trước đây không ghi vào Sổ đăng ký khai sinh, mà đương sự có yêu cầu đăng ký lại, thì cũng được giải quyết tương tự như đối với trường hợp đăng ký lại, mà đương sự có bản sao Giấy khai sinh đã cấp hợp lệ trước đây. 

Nội dung khai sinh được ghi theo nội dung của Bản chính Giấy khai sinh mà đương sự xuất trình. Sau khi đăng ký lại và cấp bản chính Giấy khai sinh mới, bản chính Giấy khai sinh cũ phải được thu hồi và lưu vào hồ sơ.

Như vậy, trong trường hợp không có bản sao giấy tờ hộ tịch, thì mẹ của bạn phải tự cam đoan về việc đã đăng ký, nhưng sổ hộ tịch không còn lưu được và chịu trách nhiệm về nội dung cam đoan chứ không cần phải có chứng nhận của UBND cấp xã, phường về việc đã đăng kí khai sinh trước đó. Về thủ tục: Mẹ của bạn cần nộp Tờ khai (theo mẫu quy định) và xuất trình bản sao Giấy khai sinh đã cấp hợp lệ trước đây, trường hợp của mẹ bạn đã mất thì không cần, mà thay vào đó mẹ bạn phải tự cam đoan về việc đã đăng ký, nhưng Sổ đăng ký khai sinh không còn lưu được và chịu trách nhiệm về nội dung cam đoan. Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh. Chủ tịch UBND cấp xã ký và cấp cho người đi đăng ký một bản chính Giấy khai sinh. Các giấy tờ hộ tịch cũ liên quan đến sự kiện đăng ký lại việc sinh (nếu có) được thu hồi và lưu hồ sơ. Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn được kéo dài không quá 5 ngày.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Chưa đăng ký kết hôn và chưa chung sống với ai nhưng đã có con thì giấy xác nhận hôn nhân được ghi như thế nào ?

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật dân sự. 

>> Xem thêm:  Làm mất giấy khai sinh thì có được cấp lại không ?