1. Thủ tục chuyển tiền thừa kế ra nước ngoài?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: "Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản có được do thừa kế có thể không phải chịu thuế thu nhập cá nhân và được phép mang, chuyển ra nước ngoài hay không?".
Cảm ơn!
Người hỏi: PTB.

Trả lời:

1. Về thủ tục chuyển số tiền có được do chuyển nhượng đất được thừa kế ra nước ngoài

Căn cứ Nghị định 70/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của pháp lệnh ngoại hối và pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều pháp lệnh ngoại hối:

Điều 7. Chuyển tiền một chiều từ Việt Nam ra nước ngoài

"...2. Người cư trú là công dân Việt Nam được mua, chuyển, mang ngoại tệ ra nước ngoài theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho các mục đích sau:

.....đ) Chuyển tiền thừa kế cho người hưởng thừa kế ở nước ngoài;......

4. Tổ chức tín dụng được phép có trách nhiệm xem xét các chứng từ, giấy tờ do người cư trú, người không cư trúxuấttrình để bán, chuyển, xác nhận nguồn ngoại tệ tự có hoặc mua từ tổ chức tín dụng được phép để mang ra nước ngoài căn cứ vào yêu cầu thực tế, hợp lý của từng giao dịch chuyển tiền."

Trường hợp của bạn, nếu bạn muốn chuyển tiền được nhận thừa kế từ Việt Nam ra nước ngoài là hoàn toàn hợp pháp.

* Hồ sơ để làm thủ tục bao gồm các loại giấy tờ sau:

- Đơn xin chuyển, mang ngoại tệ (theo mẫu của Ngân hàng);

- Bản chính hoặc bản sao công chứng văn bản của cơ quan có thẩm quyền về việc chia thừa kế hoặc di chúc, văn bản thỏa thuận giữa những người thừa kế hợp pháp;

- Văn bản ủy quyền của người thừa kế (có công chứng, chứng thực) hoặc tài liệu chứng minh tư cách đại diện theo pháp luật của người xin chuyển, mang ngoại tệ.

- Bản sao giấy chứng minh nhân dân (đối với trường hợp xin chuyển ngoại tệ) hoặc bản sao hộ chiếu (đối với trường hợp xin mang ngoại tệ).

2. Về thuế thu nhập phải chịu trong trường hợp chuyển nhượng đất được thừa kế:

Theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật thuế thu nhập cá nhân thì thu nhập từ nhận thừa kế là bất động sản giữa cha mẹ đẻ với con đẻ thuộc diện không phải chịu thuế.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật thuế thu nhập cá nhân, thu nhập có được do chuyển nhượng tài sản là bất động sản là thu nhập phải chịu thuế.

Tuy nhiên, đối với thu nhập có được do chuyển nhượng tài sản được hưởng thừa kế, người chuyển nhượng sẽ không phải chịu thuế thu nhập cá nhân trong trường hợp:

- Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau.

- Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp cá nhân chỉ có một nhà ở, đất ở duy nhất.

Do vậy, nếu bạn được thừa kế mảnh đất của cha mẹ tại Việt Nam và có ý định chuyển nhượng mảnh đất này để nhận tiền mặt, bạn sẽ chỉ được miễn thuế thu nhập cá nhân đối với việc chuyển nhượng khi mảnh đất này là tài sản duy nhất thuộc sở hữu của bạn tại Việt Nam hoặc bạn chỉ chuyển nhượng mảnh đất đó cho những người thân thích trong gia đình (bao gồm: ông bà nội (ngoại); cha mẹ nuôi, cha mẹ chồng (vợ); anh chị em ruột).

Luật Minh Khuê (biên tập)

>> Xem thêm:  Tính toán bồi thường thiệt hại trong tranh chấp hợp đồng ? Quyền thừa kế đất đai ?

2. Tư vấn quyền sử dụng đất thừa kế ?

Thưa luật sư, Mẹ tôi được cậu ruột tôi cho đất. Khi bà mất không để lại di chúc. 3 anh em chúng tôi thỏa thuận chia đều. Khi lấy vợ, tôi về quê vợ và để lại đất cho các anh sử dụng.

Các anh tôi đã lần lượt bán phần đất của mình. Nhưng giờ anh thứ 2 của tôi đã làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở phần đất mà tôi được chia. Vì ở xa và không còn sống ở quê lâu năm nên tôi không hề biết việc đó.

Vậy luật sư cho tôi hỏi việc làm của anh tôi có hợp pháp không? Tôi có được thừa hưởng phần đất mà anh em tôi đã chia nhau trước đây không?

Mong luật sư tư vấn giúp. Xin cảm ơn luật sư.

Người gửi: N.T.D

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Mẹ bạn trước khi mất không để lại di chúc. Theo điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015, di sản mà mẹ bạn để lại là ngôi nhà sẽ được chia theo pháp luật. Những người thừa kế theo pháp luật theo Điều 651 Bộ luật Dân sự gồm:

- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Từ quy định trên, cả bạn và các anh bạn đều là một trong những người được hưởng thừa kế theo pháp luật của bà bạn. Bạn có quyền đòi lại phần di sản được hưởng và việc anh bạn làm giấy làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên mảnh đất thuộc quyền thừa kế của bạn là không đúng quy định của pháp luật.

Bạn có thể thực hiện một trong những cách sau để đòi lại quyền lợi của mình:

-Nếu việc chia di sản của mẹ bạn đã được lập thành văn bản xác định rõ ràng diện tích từng phần đất mà mỗi người được hưởng thì bạn có thể căn cứ vào đó mà khởi kiện tranh chấp về đất đai theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 hoặc bạn có thể khiếu nại quyết định của văn phòng đăng ký đất đai nơi đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh bạn theo quy định của luật khiểu nại 2011.

-Nếu thỏa thuận chia di sản chỉ được nói bằng miệng, không có văn bản gì thì sẽ có hai trường hợp như sau:

Trường hợp 1: Còn thời hiệu khởi kiện tranh chấp thừa kế.

Quy định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế tại Ðiều 623 Bộ luật dân sự như sau:

Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Theo quy định trên, sau thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (thời điểm người để lại di sản chết), người thừa kế không còn quyền khởi kiện thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác và sau thời hạn là 3 năm, cá nhân, tổ chức không còn quyền khởi kiện yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại.

Trường hợp 2: Nếu hết thời hiệu khởi kiện:

Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình và hướng dẫn như sau:

- Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

+ Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

+ Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thỏa thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

+ Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

- Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản.

Do vậy, nếu các đồng thừa kế gửi đơn khởi kiện đến tòa án nhưng nội dung khởi kiện là yêu cầu giải quyết việc chia tài sản chung của các đồng thừa kế thì tòa án sẽ thụ lý đơn; trong trường hợp này, tòa án sẽ áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết.

Khi đó bạn đã có bản án của tòa án về chia di sản rồi thì bạn tiền hành khởi kiện đòi lại đất từ anh trai bạn hoặc khiếu nại quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của văn phòng địa.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Tư vấn về việc thừa kế theo pháp luật?

Kính chào Luật Minh Khuê, Cháu có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Bà cháu có 2 người con trai. Năm 2017 bà cháu mất có để lại một mảnh đất và không để lại di chúc. Chú cháu mất năm 2018, hiện nay con bà chỉ còn 1 mình bố cháu. Cho cháu hỏi mảnh đất đó theo luật thì có phải chia cho người con của chú cháu không?

Cháu xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: V.T.M

Tư vấn về việc thừa kế theo pháp luật ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:

Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Vì bà của bạn không để lại di chúc nên di sản được chia theo pháp luật, những người thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015

Căn cứ quy định trên, các con không phân biệt trai gái, đã lập gia đình hay chưa đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Như vậy, tất cả 2 người con của bà bạn (Bố và chú bạn) đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất.

Và theo quy định tại Ðiều 613 Bộ luật dân sự năm 2015 thi:

Điều 613. Người thừa kế

Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Do đó, chú bạn mất vào năm 2018, tức là sau thời điểm bà bạn qua đời (năm 2017) nên vẫn được hưởng di sản thừa kế của bà. Phần di sản chú bạn được hưởng sẽ được chia lại cho các hàng thừa kế thứ nhất của chú bạn, trong đó có cả các con và dì của bạn. Như vậy, con của chú bạn vẫn được hưởng một phần trong khối di sản thừa kế mà bà bạn để lại.

>> Xem thêm:  Thời điểm có hiệu lực của di chúc chung vợ chồng là khi nào ? Di chúc miệng có hiệu lực không ?

4. Tư vấn pháp luật thừa kế?

Vấn đề vụ việc này xảy ra ở Cần Thơ. Em xin kể vụ việc như sau: Nhà Nội em có 4 người con A.B.C.D. (Riêng về phần ông Nội thi có 4 người vợ trước khi sống với bà Nội. Ông bà Nội đều có hôn thú và ông Nội cũng có con riêng với 4 người vợ trước). Về thành phần gia đình: Người A lập gia đình sống ở Hậu Giang và có 3 người con. Người B có vợ nhưng đã ly dị và không có con. Người C thì lúc mới sinh ra có tật bẩm sinh và sống đến năm 2011 thì mất. Người D kết hôn vào năm 2008 và hiện giờ có 2 người con. Đến năm 2012, do bị bệnh nên ông Nôi mất và không để lại di chúc gì?

Vào Năm 2017, do tuổi bà Nội đã cao nên Nội đã kêu các con lại để lập di chúc. Về phần di chúc thì có 4 người con thì chia đều cho nhau. Vụ việc vẫn không có gì xảy ra.

Cho đến đầu năm 2018 thì bà Nội muốn mua miếng đất để làm mộ sau khi bà Nội trăm tuổi, do không đủ tiền mua nên mới vay ngân hàng với số tiền là 100tr(triệu) và đã mua ở gần nhà của người A ở Hậu Giang và cho người A đứng tên để tiện cho việc chăm lo phần mộ sau này. Do bà Nội đã lớn tuổi và người A lại ở xa, nên bà Nội đã ủy quyền cho người B đứng ra trên mặt giấy tờ để vay tiền ngân hàng. Người B này nắm hết tất cả giấy tờ nhà của của bà Nội và lấy tiền cho thuê nhà hiện bà Nội đang ở với số tiền hàng tháng là 10tr. Về lý do mà người B lấy số tiền cho thuê nhà có được là lo sinh hoạt hằng ngày cho bà Nội và người B chưa có vợ, nên người A và người D đều đồng ý. Cho đến khi vay tiền được và mua miếng đất thì người A thắc mắc sao không có chữ ký của A và D mà sao người B được bà Nội ủy quyền lại đi vay tiền ngân hàng được. Nhưng A và D chỉ thắc mắc nhưng không nói ra. Đến khi có người muốn mua nhà của bà (vì bà muốn bán khi mấy năm trước). Thì người A và D nói với bà Nội là có người cần mua và muốn xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nơi bà Nội ở. Thì Bà nói bà không giữ mà người B giữ nên kêu A và D mở tủ của B tìm (do B lúc đó đi việc) thì không thấy chỉ thấy giấy photo coppy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại căn nhà bà đang ở nhưng điều bất ngờ là hiện người đứng tên giấy tờ là người B đứng tên. Thì vụ việc mới phơi bày ra vì sao chỉ có người B mà vẫn vay tiền được.

Thấy vụ việc này là không đúng vì sao từ giấy tờ từ bà Nội lại sang qua tên của người B giấy chỉ hiệu lực lúc cuối năm 2017 mà trong nhà không ai hay biết kể cả bà Nội cũng không biết điều này. Người A và người B mới hỏi lại mẹ mình sao giấy tờ lại như vậy thì bà nói không biết. Và tìm trong xấp giấy tờ trong tủ người B thì thấy toàn giấy photo coppy trong đó có nhiều giấy tờ và quan trọng các giấy tờ liên quan như sau:

1/ Giấy hủy di chúc năm 2017 do bà Nội lập.

2/ Giấy nhận thừa kế của bà Nội từ phần thừa kế mà bà đã cho người C, nay nhập lại cho bà Nội theo hàng thừa kế thứ nhất.

3/ Hợp đồng tặng cho đất và nhà cửa tại nơi bà sinh sống.

Thấy vụ việc này người A và D không nói cho bà hay vì sợ bà lớn tuổi và người B hay ăn nhậu về kiếm chuyện người D. Nên A và D có nhờ luật sư tại Cần Thơ với yêu cầu là làm giấy tờ chuyển sang tên người mẹ lại. Trong thời gian khoảng 1 tháng thì để hoàn thành hồ sơ để khởi kiện thì luật sư cho biết là giấy tờ 1 2 3 là được công chứng ở phòng công chứng 24/giờ, các giấy tờ này thì người làm chứng là những người lạ trong đó có bảo vệ ở phòng công chứng 24/giờ. Luật sư nói với người A và D hỏi bà Nội xem có ký các giấy tờ 1 2 3 không. Khi A và D về hỏi mẹ mình thì bà nói chỉ có mấy người do người B dẫn về nhà khi đó bà đang nằm nghỉ trưa thì mấy người này lại nói bà khỏi đứng dậy nằm lăn tay được rồi bà chỉ tưởng là người B kêu mấy người này lại để làm giấy nhận di chúc từ người C theo hàng thừa kế thứ nhất. Khi lăn tay và ký giấy tờ thì những người này không đọc cho bà nghe. Bà tin con mình nên đã làm theo cho đến nay được A và D nói nên bà mới biết. Bà đã nói với A và D làm lại giấy tờ cho mình. Khi A và D nói cho B biết và có mặt bà ở đó B không nói gì vì bằng chứng đã rõ. Người không nói mình lo cho mẹ từ đó đến giờ nên đáng được như vậy.

Sau đó luật sư nói A và D thương lượng với B ký giấy chuyển tên sang cho bà và B đã ký. Nhưng nếu muốn đổi sang tên lại thì phải trả 100tr cho ngân hàng mới rút giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhưng đến khi A và D kiếm được tiền thì B không chịu đi rút giấy ra và nói với A và D " tao không rút không ký gì hết cho tụi mày mất trắng". Hiện vụ việc là vậy ngày 20/10/2018. Luật sư thì cứ kêu thương lượng hoài. Trong lúc ký chiệu đồng ý sang tên thì B hẹn với luật sư mà A và D nhờ để nói chuyện riêng cho đến nay vụ việc cứ kéo dài thời gian ra. Nay bà Nội đã 83 tuổi bà rất yếu.

Em có thắc mắc như sau:

1/ Những giấy tờ mà người B làm vậy có đúng không khi đã lừa bà Nội. Nhưng điều lạ là giấy chứng minh của bà đã hết hạn mà phòng công chứng vẫn nhận là công chứng. Điều đó có đúng pháp luật không?

2/ Luật sư nói để tòa án nhận hồ sơ vụ án này thì không đủ? Nhưng em thấy giấy tờ thì đã rõ ở phòng công chứng. Bà Nội thì không tặng cho căn nhà. Giấy tờ người làm chứng thì toàn là người ở phòng công chứng?

3/ Anh Chị luật sư cho em hỏi nếu vụ này đưa ra tòa thì người B có chịu trách nhiệm hình sự hay không. Vì trị giá căn nhà là khoảng 8 tỷ (Vì có người đã trả giá như vậy)?

4/ Theo anh chị thì nếu như luật sư kéo dài thời gian như vậy. Bà Nội lỡ chết thì người A và D có thể kiện được người B không?

Anh, chị giúp em tìm hướng đi vì em muốn ba em lấy lại giấy tờ sớm. Mong anh chị hướng dẫn em để khởi kiện người B. Vì người B đã cố tình để cho sự việc kéo dài ra để bà trăm tuổi chết không đối chứng. Anh chị luật sư có thể chỉ em luật sư nào giỏi ở Cần thơ để giới thiệu cho em.

Em xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

- Thứ nhất, Trả lời cho câu hỏi: những giấy tờ mà người B làm vậy có đúng không khi đã lừa bà Nội? Giấy chứng minh của bà đã hết hạn mà phòng công chứng vẫn nhận là công chứng. Điều đó có đúng pháp luật không?

+ Về giá trị pháp lý của văn bản hủy di chúc:

Khoản 1 Điều 640Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đã lập vào bất kỳ lúc nào.”

Ngoài ra, tại Điều 56 Luật công chứng 2014 quy định:

" Điều 56. Công chứng di chúc

1. Người lập di chúc phải tự mình yêu cầu công chứng di chúc, không ủy quyền cho người khác yêu cầu công chứng di chúc.

2. Trường hợp công chứng viên nghi ngờ người lập di chúc bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình hoặc có căn cứ cho rằng việc lập di chúc có dấu hiệu bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép thì công chứng viên đề nghị người lập di chúc làm rõ, trường hợp không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng di chúc đó.

Trường hợp tính mạng người lập di chúc bị đe dọa thì người yêu cầu công chứng không phải xuất trình đầy đủ giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này nhưng phải ghi rõ trong văn bản công chứng.

3. Di chúc đã được công chứng nhưng sau đó người lập di chúc muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ di chúc thì có thể yêu cầu bất kỳ công chứng viên nào công chứng việc sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ đó. Trường hợp di chúc trước đó đang được lưu giữ tại một tổ chức hành nghề công chứng thì người lập di chúc phải thông báo cho tổ chức hành nghề công chứng đang lưu giữ di chúc biết việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đó.”

Như vậy, việc hủy di chúc phải do chính người lập di chúc thực hiện. Văn bản hủy di chúc năm 2017 nêu trên không có giá trị pháp lý và là một giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối theo điều 127 Bộ luật dân sự 2015 vì B đã tự ý lập văn bản hủy di chúc năm 2017 đó và cố ý làm cho bà nội bạn nhầm lẫn rằng bà đang làm giấy nhận di chúc từ người C theo hàng thừa kế thứ nhất sau đó yêu cầu bà nội bạn điểm chỉ trong khi bà nội bạn không biết về việc hủy di chúc đó.

Công chứng viên đã công chứng cho văn bản hủy di chúc đó phải Chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người yêu cầu công chứng về văn bản công chứng của mình (theo điểm g, khoản 2 điều 17 Luật công chứng 2014).

+ Về giá trị pháp lý của hợp đồng tặng cho nhà đất giữa bà nội bạn và B:

Vì B đã cố ý gây nhầm lẫn để bà nội bạn điểm chỉ vào hợp đồng tặng cho nhà và đất ở nên đương nhiên hợp đồng tặng cho này không có giá trị pháp lý vì nó không phải là hợp đồng theo đúng bản chất của nó mà chỉ là hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối theo điều 127 Bộ luật dân sự 2015.

Điều 127. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.

+ Về việc dùng Chứng minh thư hết hạn để công chứng.

Theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 170/2007/NĐ-CP ngày 19/11/2007 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 03/02/1999 của Chính phủ về chứng minh nhân dân.

CMND chỉ được coi là hợp pháp khi nó còn giá trị lưu hành và không trái với quy định của Nghị định số 05/1999/NĐ-CP của Chính phủ. Việc chứng nhận trong hoạt động công chứng chỉ được coi là xác thực khi nó có các căn cứ xác thực, và căn cứ xác thực thì phải dựa vào các quy định của pháp luật hiện hành.

Luật công chứng 2014 quy định hồ sơ yêu cầu công chứng phải bao gồm bản sao giấy tờ tùy thân của người yêu cầu công chứng, Ngoài chứng minh thư nhân dân thì theo khoản 3, điều 4 Nghị định số 136/2007/NĐ-CP ngày 17/8/2007 của Chính phủ quy định về xuất nhập cảnh thì Hộ chiếu quốc gia được sử dụng thay thế CMND.

Do vậy để xác định tính hợp pháp của việc công chứng cần xem xét việc văn phòng công chứng đó đã căn cứ vào loại giấy tờ tùy thân nào.

- Thứ hai, Trả lời cho câu hỏi: Luật sư nói để tòa án nhận hồ sơ vụ án này thì không đủ? Nhưng em thấy giấy tờ thì đã rõ ở phòng công chứng. Bà Nội thì không tặng cho căn nhà, giấy tờ người làm chứng thì toàn là người ở phòng công chứng.

Trong vụ việc trên, bạn muốn khởi kiện vụ án ra tòa án, nếu mục đích của bạn là mong muốn lấy lại giấy tờ sớm thì tốt nhất Bà nội bạn nên khởi kiện vụ án dân sự với yêu cầu giải quyết tranh chấp về tài sản gắn liền với đất. ( bà nội bạn có thể ủy quyền cho người khác thực hiện việc khởi kiện). Khi khởi kiện về tài sản gắn liền với đất thì sẽ không phải qua thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã/phường/thị trấn trước khi khời kiện ra tòa án.

- Thứ ba, Trả lời cho câu hỏi: Nếu vụ này đưa ra tòa thì người B có chịu trách nhiệm hình sự hay không, vì trị giá căn nhà là khoảng 8 tỷ (có người đã trả giá như vậy) ?

Để xác định B có phải chịu trách nhiệm hình sự không cần căn cứ vào tình tiết vụ án và con đường giải quyết tranh chấp mà gia đình bạn lựa chọn.

- Về bản chất tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự cụ thể tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 do đó nên giải quyết theo con đường Tố tụng dân sự để nhanh chóng và đơn giản hơn.

- Trường hợp bạn muốn giải quyết theo Tố tụng Hình sự thì bước đầu tiên bạn phải trình báo cơ quan công an về hành vi của B. Cơ quan điều tra sẽ xác định có dấu hiệu phạm tội hình sự trong vụ án này không? Trường hợp xác định B có dấu hiệu phạm tội hình sự thì vụ án sẽ được giải quyết theo thủ tục tố tụng hình sự, các yêu cầu về dân sự có thể được giải quyết luôn hoặc tách riêng thành vụ án dân sự nếu chưa có đủ căn cứ. Tuy nhiên giải quyết theo thủ tục tố tụng hình sự tốn nhiều thời gian, thủ tục phức tạp và mục đích chính là trừng phạt người phạm tội chứ không phải là giải quyết các yêu cầu về dân sự, Nhiều trường hợp không đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự thì bạn lại phải bắt đầu thủ tục khởi kiện vụ án dân sự gây lãng phí thời gian và tiền bạc. Do đó bạn nên khởi kiện vụ án theo thủ tục tố tụng dân sự.

- Thứ tư, Trả lời cho câu hỏi: Nếu như luật sư kéo dài thời gian như vậy, bà Nội lỡ chết thì người A và D có thể kiện được người B không ?

Trường hợp Bà Nội chết, A và D có thể khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết các tranh chấp về thừa kế tài sản Theo Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Thời hiệu khởi kiện về thừa kế là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế theo quy định tại Điều 623 Bộ luật dân sự 2015.

- Thủ tục khởi kiện vụ án dân sự:

Được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bao gồm các bước sau:

Bước 1: Thu thập chứng cứ, tài liệu chuẩn bị khởi kiện:

Thu thập chứng cứ để xác định điều kiện khởi kiện vụ án tranh chấp về tài sản gắn liền với đất, chứng minh quyền khởi kiện cũng như để bảo vệ quyền và lợi ích trong quá trình tham gia tố tụng.

Bước 2: Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện:

Gồm đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo.

Bước 3: Nộp hồ sơ khởi kiện tại Tòa án.

Các hình thức nộp đơn như: Nộp đơn khởi kiện trực tiếp tại Tòa án hoặc nộp qua đường bưu điện

Bước 4: Nộp tiền tạm ứng án phí.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được giấy báo của tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí tại Tòa án.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến về đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất

5. Tư vấn về quyền nhận di sản thừa kế?

Thưa luật sư, Tôi có câu hỏi mong Luật sư giải đáp như sau: Bà nội tôi đã tái giá, vậy sau khi bố tôi mất thì bà nội tôi có quyền hưởng di sản thừa kế mà bố tôi để lại không?
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Người gửi: Q.D.H

Tư vấn về quyền nhận di sản thừa kế ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 thì mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Trong câu hỏi cảu bạn có đề cập đến trường hợp bố bạn mất thì tài sản sẽ được giải quyết theo pháp luật hoặc theo di chúc.

Đối với thừa kế theo pháp luật: Căn cứ điểm a khoản 1 điều 651 BLDS 2015 thì bà nội bạn (mẹ đẻ của người để lại di sản) tuy đã tái giá nhưng là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật. Do đó, bà bạn sẽ được hưởng phần di sản bằng những người thừa kế cùng ở hàng thừa kế thứ nhất. Quy định về thừa kế theo pháp luật được thể hiện tại Điều 651 BLDS như sau:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại...

Trường hợp bố bạn mất đi và có để lại di chúc thì pháp luật có quy định về quyền của người lập di chúc như sau:

Điều 626. Quyền của người lập di chúc

Người lập di chúc có quyền sau đây:

1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

Theo đó, bố bạn có thể lập di chúc truất quyền thừa kế của bà bạn hoặc cho bà bạn hưởng thừa kế một phần hoặc toàn bộ di sản của mình. Trong trường hợp bà bạn bị truất quyền hưởng di sản hoặc chỉ được hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật thì căn cứ điều 644 BLDS 2015, bà bạn vẫn có quyền hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật. điều này đucợ quy định tại Điều 644 BLDS 2015 như sau:

"Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này."

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với theo địa chỉ email: [email protected] hoặc qua Tổng đài luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900.6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư giải quyết các tranh chấp về thừa kế