1. Thủ tục làm Giấy khai sinh của con nuôi ?

Thưa Luật sư: Tôi có một trường hợp muốn xin hướng dẫn của Luật sư Có một gia đình muốn xin khai sinh cho con, nhưng không phải là con đẻ qua sự trình bày của gia đình đó. Tôi được biết là có một gia đình vì hoàn cảnh khó khăn nên muốn cho con nuôi, Gia đình biết điều đó nên đã thỏa thuận cho và nhận con về nuôi, nhưng đứa bé mới sinh được vài ngày tuổi và cũng chưa đăng ký khai sinh.
Gia đình nhận nuôi muốn đăng ký khai sinh đứng tên trong giấy khai sinh mà không phải cha, mẹ đẻ và không muốn gia đình cho con nuôi biết nơi ở của mình ?
Kính mong Luật sư hướng dẫn. Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hành chính trực tuyến, gọi:1900.6162

Trả lời:

Khoản 4 điều 21 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định:

"Điều 21. Sự đồng ý cho làm con nuôi

1. Việc nhận nuôi con nuôi phải được sự đồng ý của cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi; nếu cha đẻ hoặc mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người còn lại; nếu cả cha mẹ đẻ đều đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người giám hộ; trường hợp nhận trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên làm con nuôi thì còn phải được sự đồng ý của trẻ em đó.

2. Người đồng ý cho làm con nuôi quy định tại khoản 1 Điều này phải được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi nhận hồ sơ tư vấn đầy đủ về mục đích nuôi con nuôi; quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi; quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ và con sau khi người đó được nhận làm con nuôi.

3. Sự đồng ý phải hoàn toàn tự nguyện, trung thực, không bị ép buộc, không bị đe doạ hay mua chuộc, không vụ lợi, không kèm theo yêu cầu trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác.

4. Cha mẹ đẻ chỉ được đồng ý cho con làm con nuôi sau khi con đã được sinh ra ít nhất 15 ngày."

Theo như bạn trình bày thì bạn mới nhận con nuôi là một em bé mới sinh vài ngày tuổi, nếu em bé đó mới sinh trong vòng 15 ngày tuổi đổ lại thì theo quy định pháp luật trường hợp này cha mẹ đẻ của bé không được đồng ý cho con làm con nuôi.

Theo quy định tại điều 13 Luật cư trú năm 2006 (Luật cư trú sửa đổi, bổ sung năm 2013) thì em bé này phải nhập hộ khẩu vào hộ khẩu của cha mẹ đẻ

"Điều 13. Nơi cư trú của người chưa thành niên

1. Nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha, mẹ có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha hoặc mẹ mà người chưa thành niên thường xuyên chung sống.

2. Người chưa thành niên có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha, mẹ nếu được cha, mẹ đồng ý hoặc pháp luật có quy định." Tham khảo bài viết liên quan:Thủ tục làm giấy khai sinh và nhập hộ khẩu cho con nuôi ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua emailđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Đăng ký khai sinh là gì ? Khái niệm về đăng ký khai sinh

2. Điều kiện nhận con nuôi là gì ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Chú thím tôi có nhận nuôi 1 đứa con nuôi từ bé, nay em 15 tuổi rưỡi. Chú thím tôi muốn cho em đi làm con nuôi gia đình khác. Xin hỏi trường hợp này có được pháp luật cho phép không và điều kiện, thủ tục như thế nào ?
Xin chân thành cảm ơn.

Luật sư tư vấn:

Điều 21 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định về sự đồng ý cho làm con nuôi như sau:

Điều 21. Sự đồng ý cho làm con nuôi

1. Việc nhận nuôi con nuôi phải được sự đồng ý của cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi; nếu cha đẻ hoặc mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người còn lại; nếu cả cha mẹ đẻ đều đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người giám hộ; trường hợp nhận trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên làm con nuôi thì còn phải được sự đồng ý của trẻ em đó.

2. Người đồng ý cho làm con nuôi quy định tại khoản 1 điều này phải được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi nhận hồ sơ tư vấn đầy đủ về mục đích nuôi con nuôi; quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi; quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ và con sau khi người đó được nhận làm con nuôi.

3. Sự đồng ý phải hoàn toàn tự nguyện, trung thực, không bị ép buộc, không bị đe dọa hay mua chuộc, không vụ lợi, không kèm theo yêu cầu trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác.

4. Cha mẹ đẻ chỉ được đồng ý cho con làm con nuôi sau khi con đã được sinh ra ít nhất 15 ngày.

Theo quy định tại điều 21 Luật nuôi con nuôi năm 2010, thì việc nhận con nuôi cần phải có được sự đồng ý của cha mẹ đẻ người được nhận làm con nuôi. Nếu cha hoặc mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải có được sự đồng ý của người còn lại. Trong trường hợp nếu cả cha mẹ đẻ đêù đã chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải có sự đồng ý của người giám hộ. Trong trường hợp này con nuôi của chú thím bạn hiện đã hơn 15 tuổi vì vậy việc nhận nuôi còn cần phải hỏi ý kiến và được sự đồng ý của đứa trẻ.

Đối với người nhận đứa trẻ làm con nuôi cần đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 14 Luật nuôi con nuôi năm 2010 như sau:

Điều 14. Điều kiện đối với người nhận con nuôi

1. Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;

c) Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;

d) Có tư cách đạo đức tốt.

2. Những người sau đây không được nhận con nuôi:

a) Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

b) Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;

c) Đang chấp hành hình phạt tù;

d) Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.

3. Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 điều này.

Người muốn nhận con nuôi cần phải đăng ký nhu cầu nhận con nuôi theo quy định tại Điều 16 và hoàn thiện hồ sơ theo quy định tại Điều 17 Luật nuôi con nuôi năm 2010 như sau:

Điều 16. Đăng ký nhu cầu nhận con nuôi

Công dân Việt Nam có nguyện vọng và đủ điều kiện nhận con nuôi theo quy định của Luật này nhưng chưa tìm được trẻ em để nhận làm con nuôi thì đăng ký nhu cầu nhận con nuôi với Sở Tư pháp nơi người đó thường trú; nếu có trẻ em để giới thiệu làm con nuôi thì Sở Tư pháp giới thiệu đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi trẻ em đó thường trú để xem xét, giải quyết.

Điều 17. Hồ sơ của người nhận con nuôi

Hồ sơ của người nhận con nuôi gồm có:

1. Đơn xin nhận con nuôi;

2. Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;

3. Phiếu lý lịch tư pháp;

4. Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;

5. Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 14 của Luật này.

Chú thím bạn cũng cần làm hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi theo quy định tại Điều 18 Luật nuôi con nuôi năm 2010 như sau:

Điều 18. Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi trong nước

1. Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi trong nước gồm có:

a) Giấy khai sinh;

b) Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp;

c) Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng;

d) Biên bản xác nhận do Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi lập đối với trẻ em bị bỏ rơi; Giấy chứng tử của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em là đã chết đối với trẻ em mồ côi; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất tích đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất tích; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất năng lực hành vi dân sự đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ để mất năng lực hành vi dân sự;

đ) Quyết định tiếp nhận đối với trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng.

2. Cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ lập hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi sống tại gia đình; cơ sở nuôi dưỡng lập hồ sơ của trẻ em được giới thiệu làm con nuôi sống tại cơ sở nuôi dưỡng.

Việc nhận nuôi con nuôi sẽ do Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét và tổ chức đăng ký nuôi con nuôi, trao giấy chứng nhận nuôi con nuôi hoặc từ chối đăng ký theo quy định tại Điều 22 Luật nuôi con nuôi năm 2010 như sau:

Điều 22. Đăng ký việc nuôi con nuôi

1. Khi xét thấy người nhận con nuôi và người được giới thiệu làm con nuôi có đủ điều kiện theo quy định của Luật này thì Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức đăng ký nuôi con nuôi, trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng, tổ chức giao nhận con nuôi và ghi vào sổ hộ tịch trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày có ý kiến đồng ý của những người quy định tại Điều 21 của Luật này.

2. Trường hợp Ủy ban nhân dân cấp xã từ chối đăng ký thì phải trả lời bằng văn bản cho người nhận con nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng và nêu rõ lý do trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có ý kiến của những người quy định tại Điều 21 của Luật này.

3. Giấy chứng nhận nuôi con nuôi được gửi Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Hưởng chế độ thai sản khi nhận con nuôi ?

3. Khi nào được chấm dứt việc nuôi con nuôi ?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: L được vợ chồng ông, bà D nhận nuôi từ lúc lên 5 tuổi, được cho ăn học đỗ đạt đến Tiến sỹ, hiện công tác tại Hunggari. Thương bố mẹ nuôi, anh chăm chỉ làm việc, dành dụm, tích góp tiền gửi về để bố mẹ có thêm tiền chi tiêu, chăm sóc sức khoẻ. Số tiền còn lại L nhờ bố mẹ nuôi mua được một ngôi nhà 4 tầng khang trang, đăng ký tên anh, để khi nào về nước L ở.
Sợ khi L về nước, số tài sản này phảỉ trả lại cho L, các con đẻ ông bà D bàn với bố mẹ làm đơn xin chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với L với lý do con nuôi đã trưởng thành, có học hành đỗ đạt, có công ăn việc làm tử tế. Ông bà D không muốn vậy những các con ép quá đành phải nghe nhưng ông tuyên bố dứt khoát: Ngôi nhà và tài sản mua được từ tiền của L gửi về ông sẽ giao lại toàn bộ cho L. Các con ông không chịu và cho rằng: khi đã chấm dứt việc nuôi con nuôi thì mọi quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng hoàn toàn chấm dứt. Các con đẻ ông, bà D nói như vậy đúng hay sai?
Cảm ơn luật sư!

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162


Trả lời:

Nếu việc nuôi con nuôi giữa L và ông bà D được Toà án nhân dân quyết định và quyết định có hiệu lực thì các quyền và nghĩa vụ giữa họ cũng chấm dứt (Theo quy định tại khoản 1 Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000).

Tuy nhiên tại khoản 2 Điều luật này cũng quy định rõ: “trong trường hợp con nuôi có tài sản riêng thì được nhận lại tài sản riêng đó; nếu con nuôi có công sức đóng góp vào khối tài sản chung của gia đình cha mẹ nuôi thì được trích một phần từ khối tài sản chung đó theo thoả thuận giữa con nuôi và và cha mẹ nuôi; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết”.

Trong trường hợp trên, hành vi của các con đẻ ông bà D là sai. Theo quy định của pháp luật, toàn bộ tiền mua nhà là tiền của L gửi về theo đúng mục đích của anh. Ngôi nhà này cũng được đăng ký tên anh L, là tài sản của riêng anh. Anh L là chủ sở hữu. Dù việc nuôi con nuôi giữa anh và ông bà D chấm dứt thì anh vẫn có quyền được nhận lại số tài sản này.

>> Xem thêm:  Quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con phát sinh dựa trên sự kiện nuôi con nuôi ?

4. Con đẻ được kết hôn với con nuôi ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Thực tế khá nhiều người còn đang vướng mắc về vấn đề con đẻ có được kết hôn với con nuôi hay không do đó với bài viết này chúng tôi xin giải đáp cho quý khách hàng được rõ ?
Cảm ơn luật sư!

Luật sư tư vấn:

Khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về các hành vi cấm khi kết hôn như sau:

"2. Cấm các hành vi sau đây:

a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

đ) Yêu sách của cải trong kết hôn;

e) Cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn;

g) Thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản vì mục đích thương mại, mang thai hộ vì mục đích thương mại, lựa chọn giới tính thai nhi, sinh sản vô tính;

h) Bạo lực gia đình;

i) Lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi..."

Dưa theo pháp luật trên chúng ta có thể thấy rằng pháp luật không hề có quy định cấm/hạn chế con đẻ được kết hôn với con nuôi do đó nếu hai bên nam nữ là con đẻ, con nuôi đáp ứng đủ các điều kiện kết hôn và tự nguyện muốn kết hôn thì hoàn toàn được phép kết hôn.

>> Xem thêm:  Cách yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi hợp pháp ?

5. Nhận con nuôi muốn giấu thông tin cá nhân được không ?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Tôi có người bạn hiếm muộn con cái. Sau khi tìm hiểu thông tin có thỏa thuận nhận con của một người (người này "chửa hoang") có giấy thỏa thuận việc cho con.
Sau khi xin con bạn tôi muốn thực hiện việc nhận con nuôi tại UBND xã nhưng có việc vướng mắc là bạn tôi không muốn mẹ đứa trẻ biết địa chỉ gia đình để phòng sau này...nhưng như vậy theo nghị định 158/2005/NĐ-CP với các trường hợp biết cha, mẹ đẻ là ai thì sẽ không đăng ký được.
Tôi xin hỏi có cách nào khắc phục được không? (không áp dụng với kiểu khắc phục cho đứa trẻ bị bỏ rơi) ?
Gửi bởi: Dai Nghia

Khi đã chấm dứt việc nuôi con nuôi thì mọi quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng chấm dứt. Đúng hay sai?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Tôi có người bạn hiếm muộn con cái. Sau khi tìm hiểu thông tin có thỏa thuận nhận con của một người (người này "chửa hoang") có giấy thỏa thuận việc cho con. Sau khi xin con bạn tôi muốn thực hiện việc nhận con nuôi tại UBND xã nhưng có việc vướng mắc là bạn tôi không muốn mẹ đứa trẻ biết địa chỉ gia đình để phòng sau này... nhưng như vậy theoluật nuôi con nuôi 2010 với các trường hợp biết cha, mẹ đẻ là ai thì sẽ không đăng ký được. Tôi xin hỏi có cách nào khắc phục được không? (không áp dụng với kiểu khắc phục cho đứa trẻ bị bỏ rơi)

Việc nhận con nuôi phải tuân thủ theo quy định của pháp luật về cho nhận con nuôi theo quy định của pháp luật. Bên cho và bên nhận con nuôi phải có sự thỏa thuận và làm thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi theo quy định điều 17 Luật Nuôi con nuôi 2010 như bạn đã nêu ở câu hỏi.

Do vậy, bạn của bạn nếu muốn nhận con nuôi không thể làm trái với các quy định của pháp luật.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thủ tục làm lại giấy khai sinh cho con với tên khác được không ? Quy định về việc sửa đổi giấy khai sinh ?