1. Thủ tục ly hôn khi không sống chung và ở khác tỉnh ?
Tôi muốn hỏi tình trạng của tôi bây giờ tôi phải làm sao để ly hôn mong được tư vấn của luật sư ?
Mong nhận được tư vấn của các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê vào địa chỉ email này. Kính thư!
Người gửi: Thuy Tran
Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến 24/24 Gọi số: 1900.6162
Trả lời:
Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến công ty. Chúc bạn mạnh khỏe và thành công. Về vấn đề của bạn chúng tôi xin giải đáp như sau:
Thứ nhất, bạn cần chuẩn bị một bộ hồ sơ ly hôn, bao gồm:
+ Đơn xin ly hôn (Tham khảo: Tải mẫu đơn xin ly hôn)
+ Bản sao Giấy CMND (Hộ chiếu); Hộ khẩu (có Sao y bản chính, của nguyên đơn và bị đơn).
+ Bản chính giấy chứng nhận kết hôn (nếu có), trong trường hợp mất bản chính giấy chứng nhận kết hôn thì nộp bản sao có xác nhận sao y bản chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhưng phải trình bày rõ trong đơn.
+ Bản sao giấy khai sinh con (nếu có con).
+ Bản sao chứng từ, tài liệu về quyền sở hữu tài sản (nếu có tranh chấp tài sản).
Thứ hai, sau khi bạn chuẩn bị xong hồ sơ ly hôn, bạn cần gửi lên tòa án có thẩm quyền giải quyết.
Theo quy định tại điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:
Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện
1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:
a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;
.....................
Căn cứ khoản 1 điều 35 BLTTDS, Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:
“a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này”;
Như vậy, trường hợp này bạn nộp hồ sơ yêu cầu giải quyết việc ly hôn của mình tại TAND cấp huyện nơi chồng bạn cư trú, làm việc.
Từ đó, thấy rằng để thực hiện thủ tục ly hôn của bạn có thể:
+ Gửi hồ sơ ly hôn lên tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc trung ương nơi chồng bạn cư trú hoặc làm việc.
+ Hoặc vợ chồng bạn thỏa thuận bằng văn bản lựa chọn Tòa án sẽ giải quyết ly hôn, sau khi thỏa thuận được thì gửi đến Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi mà vợ hoặc chồng đang cư trú hoặc làm việc.
Trân trọng cám ơn!
>> Tham khảo dịch vụ liên quan: Dịch vụ tư vấn pháp luật lĩnh vực Hôn nhân gia đình;
2. Làm thế nào để không phải ly hôn ?
Luật sư tư vấn luật hôn nhân gọi: 1900.6162
Trả lời:
Hiện nay, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chưa thừa nhận về việc ly thân của hai vợ chồng. Tuy nhiên, theo Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn
1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn."
Theo quy định trên, chồng bạn hoàn toàn có quyền đơn phương yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn mà không cần có sự đồng ý của bạn. Tuy nhiên, nếu bạn không muốn ly hôn, bạn có thể yêu cầu hòa giải ở cơ sở theo quy định tại Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013 hoặc hòa giải tại Tòa khi Tòa đã thụ lý đơn ly hôn của chồng bạn. Tuy nhiên, việc trong trường hợp không hòa giải được thì Tòa án vẫn sẽ xem xét giải quyết yêu cầu xin ly hôn của chồng bạn.
Về vấn đề trách nhiệm của cha, mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi ly hôn, luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó."
Như vậy, trong trường hợp bạn và chồng bạn ly hôn, bạn là người trực tiếp nuôi các con thì chồng bạn có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Trong trường hợp chồng bạn không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, bạn có thể yêu cầu cơ quan thi hành án áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án buộc chồng bạn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng ./.
3. Chồng hay cáu giận vợ có thể ly hôn được không ?
Trả lời:
Căn cứ Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn:
"1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."
Như vậy, theo quy định của pháp luật, vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nếu có căn cứ để ly hôn theo quy định của pháp luật. Trong một số trường hợp cha, mẹ hoặc người thân thích khác của vợ hoặc chồng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
Theo thông tin bạn cung cấp, bạn muốn ly hôn nhưng bạn không nói rằng chồng bạn có muốn ly hôn với bạn hay không? Hay chỉ có mình bạn muốn ly hôn. Do đó, chúng tôi sẽ tư vấn cho bạn cả hai trường hợp như sau:
Trường hợp thứ nhất, cả hai vợ chồng bạn đều muốn ly hôn:
Căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
"Điều 55. Thuận tình ly hôn
Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn."
Như vậy, trong trường hợp, cả hai vợ chồng bạn đều muốn ly hôn, thực sự tự nguyện ly hôn, đồng thời, vợ chồng bạn đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn cho hai vợ chồng bạn. Không bắt buộc cần lý do nào, cụ thể trong trường hợp của bạn là chồng bạn có nhiều tính xấu là hay cáu giận và nói chuyện thô tục, không biết phụ giúp vợ công việc nhà. Bạn đã cố gắng nhẫn nhịn đến nay chỉ mong anh ấy sẽ thay đổi nhưng ngày một tệ hơn. Lúc này, nếu chồng bạn đồng ý ly hôn và đáp ứng được các điều kiện trên thì Tòa án vẫn sẽ giải quyết ly hôn cho vợ chồng bạn.
Trường hợp thứ hai, chỉ mình bạn muốn ly hôn, chồng bạn không muốn ly hôn:
Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên
1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."
Theo đó, bạn muốn ly hôn đơn phương mà không có sự đồng ý của chồng bạn thì bạn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn cho bạn khi bạn có căn cứ về việc chồng bạn có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Những bằng chứng bạn cần đưa ra có thể là: băng ghi âm, ghi hình, hình ảnh, cuộc hội thoại, tin nhắn, video, hoặc có thể có người làm chứng, xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền về việc bạn bị thương tích khi chồng bạo hành hoặc có thể là xác nhận của cơ quan công an, Trưởng thôn, Tổ trưởng dân phố xác nhận,... Khi có các căn cứ và bạn thể hiện thái độ cương quyết muốn ly hôn với chồng thì Tòa án có thể giải quyết cho bạn ly hôn đơn phương mà không cần chồng bạn đồng ý.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân về quyền thăm con, gọi: 1900.6162 để được giải đáp.
>> Tham khảo bài viết liên quan:Ly hôn khi mất giấy đăng ký kết hôn?
4. Có thể ủy quyền cho người khác tham gia trong vụ án ly hôn không ?
Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Trong trường hợp này nếu vợ của anh bạn đã làm đơn xin ly hôn mà không có kí của anh trai bạn thì có thể hiểu đây là trường hợp chị ấy xin ly hôn đơn phương và theo quy định thì tòa án vẫn được thụ lý đơn ly hôn theo yêu cầu của một bên nếu có đủ căn cứ cho thấy cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài được nữa theo Luật hôn nhân và gia đình 2014 :
"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên
1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ củavợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."
Theo đó khi mà có thông báo của tòa án mời anh bạn đến để hòa giải thì anh bạn phải đến để tiến hành hòa giải.
Về việc bạn có thể đại diện cho anh mình không thì trong trường hợp này pháp luật tố tụng dân sự 2015 quy định như sau:
"Điều 85. Người đại diện
1. Người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Người đại diện có thể là cá nhân hoặc pháp nhân theo quy định của Bộ luật dân sự.
2. Người đại diện theo pháp luật theo quy định của Bộ luật dân sự là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự, trừ trường hợp bị hạn chế quyền đại diện theo quy định của pháp luật.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự của người được bảo vệ.
3. Tổ chức đại diện tập thể lao động là người đại diện theo pháp luật cho tập thể người lao động khởi kiện vụ án lao động, tham gia tố tụng tại Tòa án khi quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động bị xâm phạm; tổ chức đại diện tập thể lao động đại diện cho người lao động khởi kiện vụ án lao động, tham gia tố tụng khi được người lao động ủy quyền.
Trường hợp nhiều người lao động có cùng yêu cầu đối với người sử dụng lao động, trong cùng một doanh nghiệp, đơn vị thì họ được ủy quyền cho một đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao động thay mặt họ khởi kiện vụ án lao động, tham gia tố tụng tại Tòa án.
4. Người đại diện theo ủy quyền theo quy định của Bộ luật dân sự là người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự.
Đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng. Trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 2 điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì họ là người đại diện.
Theo đó trong trường hợp này thì anh bạn không thể ủy quyền cho bạn tham gia tố tụng trong trường hợp này được mà trực tiếp anh bạn phải trực tiếp tham gia.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
>> Tham khảo bài viết liên quan: Hồ sơ xin ly hôn đơn phương gồm những gì ?
5. Chia tài sản khi ly hôn có chia cho con không ?
>>Luật sư tư vấn luật hôn nhân trực tuyến qua tổng đài:1900.6162
Trả lời:
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:
"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.
Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.
Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.".
Và tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, tức là không bắt buộc phải chia cho các con. Nhưng nếu bố mẹ bạn của bạn đó thỏa thuận sẽ cho toàn bộ hoặc một phần tài sản cho ba người con thì các con vẫn được hưởng phần tài sản đó.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận Tư vấn Pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh KHuê