1. Thủ tục ly hôn với người Đài Loan ?

Thưa luật sư. Em muốn hỏi về người bạn em đang sống ở Việt Nam muốn ly hôn với chồng bên Đài Loan thì làm thủ tục giấy tờ như thế nào ? Và sau khi ly hôn ai sẽ là người nuôi đứa bé 10 tháng tuổi. Cảm ơn!

Người gửi: Lan Mai

Thủ tục ly hôn với người Đài Loan ?

Luật sư tư vấn hôn nhân về thủ tục ly hôn, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Như bạn đã nêu, Vì bạn không nói người chồng là người Việt Nam đang sống ở Đài Loan hay người chồng là người Đài Loan nên chúng tôi chia hai trường hợp như sau:

1. Người chồng là người Việt Nam đang sống ở Đài Loan

Khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"2. Thẩm quyền giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Tòa án được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự."

Khoản 2 Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: "2. Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam."

Theo Điều 35, 37 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì thẩm quyền giải quyết vụ án ly hôn khi một bên đương sự ở nước ngoại và một bên đang ở Việt Nam thuộc về Tòa án nhân dân câp tỉnh nơi bị đơn cư trú. Vì chồng bạn đang ở Đài Loan nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi chồng bạn đăng ký thường trú trước khi xuất cảnh.

Hồ sơ thuận tình ly hôn:

- Đơn xin đơn phương ly hôn.

- Giấy đăng ký kết hôn (bản chính).

- Chứng minh thư nhân dân, sổ hộ khẩu của bạn ( bản sao).

- Giấy khai sinh của các con (bản sao).

- Hộ chiếu, thường trú của chồng bạn (bản sao, công chứng).

- Giấy tờ về tài sản.

- Đơn của người chồng đồng ý ly hôn với người vợ tại Việt Nam, nội dung đơn gồm: nguyện vọng, yêu cầu của con chung (nếu có); nguyện vọng, yêu cầu về tài sản (nếu có); và yêu cầu tòa án giảu quyết ly hôn vắng mặt. Đơn này phải được hợp pháp hóa lãnh sự.

Hồ sơ đơn phương ly hôn:

- Đơn xin đơn phương ly hôn.

- Giấy đăng ký kết hôn (bản chính hoặc bản sao).

- Chứng minh thư nhân dân, sổ hộ khẩu của bạn ( bản sao).\

- Giấy khai sinh của các con (bản sao).

- Hộ chiếu, thường trú của chồng bạn (bản sao, công chứng).

- Giấy tờ về tài sản.

Sau khi nhận Hồ sơ, Tòa án ra thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí và giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

2. Chồng bạn là người Đài Loan

Khoản 1 Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: "1. Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này."

Do đó, nếu chồng bạn là người Đài Loan và đang thường trú ở Việt Nam thì vụ việc ly hôn được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Bạn tham khảo TẠI ĐÂY.

Nếu chồng bạn không thường trú tại Việt Nam thì Hồ sơ giải quyết ly hôn như sau:

Hồ sơ thuận tình ly hôn:

- Đơn xin ly hôn.

- Giấy đăng ky kết hôn (bản chính hoặc bản sao).

- Giấy khai sinh cuả các con (bản sao).

- Sổ hộ khẩu, chứng minh thư nhân dân (bản sao).

- Giấy tờ của người chồng: Bản sao hộ chiếu hoặc visa được hợp pháp hóa lãnh sự, Đơn xin ly hôn vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án ly hôn tại Tòa án được hợp pháp hóa lãnh sự.

Hồ sơ đơn phương ly hôn:

- Đơn xin ly hôn.

- Giấy đăng ky kết hôn (bản chính hoặc bản sao).

- Giấy khai sinh cuả các con (bản sao).

- Giấy tờ chứng minh tài sản chung.

Nộp hồ sơ tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi đương sự thường trú hoặc tạm trú.

Về việc xác định quyền nuôi con 10 tuổi:

Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, việc nuôi con sau khi ly hôn sẽ gồm các trường hợp như sau:

- Nếu hai vợ chồng thỏa thuận được ai là người nuôi con, dựa trên các yếu tố vật chất, tinh thần có lợi nhất cho sự phát triển của con thì Tòa án tôn trọng quyết định này.

- Nếu hai vợ chồng không thỏa thuận hoặc thỏa thuận không thành về việc ai là người nuôi con thì Tòa án sẽ quyết định, dựa vào các điều kiện vật chất và tinh thần cụ thể mà mỗi bên hiện có.

2. Tranh chấp tài sản, đất đai khi ly hôn giải quyết như thế nào ?

Mặc dù không có di chúc thừa kế tài sản của cha mẹ để lại và không được sự đồng ý của năm anh chị em trong gia đình, thế nhưng từ năm 2001 ông Lâm Ngọc Khanh và bà Lưu Thị Ái Liên vẫn có thể “hoàn tất thủ tục” xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở (CNQSHN & QSDĐƠ) để chiếm đoạt căn nhà hương hoả số 67/3 đường Hà Nội, ấp Trung Chánh 1, xã Trung Chánh, huyện Hóc Môn.

Bà Liên và ông Khanh đã chấm dứt quan hệ vợ chồng (có quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn của TAND huyện Hóc Môn ngày 22-6-2000) nhưng hai người vẫn được đứng tên chủ sở hữu nhà và đất ở do UBND huyện Hóc Môn cấp ngày 6-9-2001). Sau ngày ông Khanh mất, bà Lưu Thị Ái Liên treo bảng bán căn nhà, từ đó đã phát sinh tranh chấp…

Bà Lâm Thị Bích Liên cho biết, căn nhà này là tài sản của cha mẹ bà là ông Lâm Văn Khoa và bà Phạm Thị Chai lúc sinh thời đã tạo lập. Năm 1988, cả cha và mẹ bà lần lượt qua đời, không để lại di chúc. Sau đó, do điều kiện mưu sinh lập nghiệp ở xa, năm anh chị em trong gia đình nhất trí giao căn nhà trên cho vợ chồng ông Khanh ở và lo việc thờ cúng cha mẹ. Đến ngày 22-6-2007, mọi người giật mình khi hay tin bà Lưu Thị Ái Liên đang rao bán nhà. Tiếp theo đó, mọi người phát hiện việc ly hôn giữa ông Khanh và bà Liên đã xảy ra từ năm 2000, cũng như việc họ giả mạo chữ ký của mẹ và năm anh chị em trong gia đình để chiếm đoạt căn nhà… Vụ kiện đã được toà án hai cấp sơ và phúc thẩm thụ lý xét xử.

Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2009 ngày 27-2-2009 và bản án dân sự phúc thẩm TAND TPHCM số 819 ngày 19-5-2009 đã tuyên: ngày 6-6-1988, bà Chai và các con (Liên, Yến, Dũng, Kiệt) có lập giấy ủy quyền chấp thuận cho ông Khanh được thừa kế, sở hữu toàn bộ căn nhà của cha mẹ để lại (có xác nhận của bà Phạm Thị Bích Mai – Trưởng ban ấp Trung Chánh 1 – dì ruột của bà Lưu Thị Ái Liên và Chủ tịch UBND xã Trung Chánh tại thời điểm đó xác nhận), ông Khanh – bà Liên được xác lập quyền sở hữu do được thừa kế từ năm 1988 là hợp pháp. Đã nhiều lần năm anh chị em bà Lâm Thị Bích Liên gửi đơn khiếu nại về việc bà Lưu Thị Ái Liên cung cấp tài liệu, chứng cứ giả mạo cho toà án. Đó là các chữ ký trong giấy ủy quyền ngày 6-6-1988 và trong biên bản nhận vàng ngày 10-10-1991 đều là những chữ ký giả. Bà Chai lúc sinh thời không biết chữ, năm anh chị em bà Lâm Thị Bích Liên đều chưa từng đặt bút ký vào bất kỳ một văn bản nào thỏa thuận về việc phân chia hay nhường quyền sở hữu căn nhà trên cho ông Khanh. Từ đó, bà Lâm Thị Bích Liên và các anh chị em đã đồng loạt yêu cầu toà án sơ thẩm và phúc thẩm cho tạm hoãn phiên toà, trưng cầu giám định chữ ký theo luật định.

Tuy nhiên, thẩm phán thụ lý vụ án của toà án hai cấp đã bác bỏ những yêu cầu chính đáng của nguyên đơn, để đi đến kết luận một cách phiến diện là căn nhà được xác lập quyền sở hữu cho ông Khanh do thừa kế năm 1988 có thể hiện ý chí của cha mẹ và tất cả anh chị em. Điều nghịch lý nữa ở đây là theo điều 142 và 147 Bộ luật Dân sự về đại diện theo ủy quyền và chấm dứt đại diện theo ủy quyền của cá nhân thì việc ủy quyền (nếu có) cũng đã chấm dứt khi người ủy quyền (là bà Phạm Thị Chai) đã chết vào năm 1988. Vì vậy không thể đồng nhất giữa hai nội dung là ủy quyền và di chúc làm một, để cho rằng ông Lâm Ngọc Khanh được hưởng thừa kế di chúc. Mặt khác, việc toà sơ thẩm và phúc thẩm cho rằng thời hiệu chia thừa kế đã hết và các đương sự không có văn bản nào thỏa thuận đây là tài sản chung chưa chia để bác yêu cầu chia tài sản chung của anh chị em bà Lâm Thị Bích Liên đối với căn nhà của cha mẹ để lại là không đúng.

Ngoài ra, việc toà sơ thẩm và phúc thẩm căn cứ vào công văn số 189/QLĐT của UBND huyện Hóc Môn để nhận định rằng việc UBND huyện Hóc Môn cấp giấy CNQSHN & QSDĐƠ ngày 6-9-2001 cho ông Khanh – bà Liên là đúng nên bác yêu cầu của anh chị em bà Lâm Thị Bích Liên là hoàn toàn thiếu sức thuyết phục. Tại sao biết rằng việc UBND huyện Hóc Môn cấp giấy CNQSHN & QSDĐƠ cho ông Khanh – bà Liên là dựa trên các chứng cứ tài liệu do ông Khanh – bà Liên cung cấp khi hợp thức hoá nhà đất, trong khi các tài liệu chứng cứ này đang bị các anh chị em của bà Lâm Thị Bích Liên tố cáo là giả mạo mà toà án hai cấp lại dễ dàng bỏ qua không cho trưng cầu giám định để xác định tính xác thực của chứng cứ? Việc kết luận của toà án sơ thẩm là buộc bà Lâm Thị Hồng Yến (em út của ông Khanh) phải giao trả toàn bộ căn nhà cho bà Lưu Thị Ái Liên và Lâm Ngọc Thùy Đan (người có quyền lợi liên quan của ông Lâm Ngọc Khanh), bác yêu cầu của các đương sự Lâm Thị Bình, Lâm Thị Bích Liên, Lâm Thị Hồng Yến, Lâm Tấn Kiệt, Lâm Văn Dũng đòi chia thừa kế và tài sản chung đối với căn nhà số 67/3 đường Hà Nội, ấp Trung Chánh 1, xã Trung Chánh… là thiếu căn cứ và không đúng quy định của pháp luật. Ngoài ra, toà án hai cấp cho rằng trong di chúc ông Khanh được định đoạt 1/2 khối di sản là không đúng. Vì thực tế bà Phạm Thị Chai sinh được sáu người con, do vậy khi bà Chai chết thì tài sản sẽ được chia đều cho 6 người, mỗi người được hưởng 1/6 di sản thừa kế. Cho nên, ông Khanh chỉ được định đoạt 1/6 khối tài sản chung mà thôi…

Căn cứ theo bản án dân sự phúc thẩm – TAND TPHCM số 819 ngày 19-5-2009 của TAND TPHCM, ngày 19-10-2009, Đội Thi hành án huyện Hóc Môn đã có quyết định cưỡng chế trục xuất bà Lâm Thị Hồng Yến dù rằng theo di chúc của ông Lâm Ngọc Khanh lập ngày 24-7-2007 (có xác nhận của UBND xã Trung Chánh), bà Yến và con gái là Lâm Ngọc Thùy Đan được thừa kế căn nhà (?). Trước nguy cơ mất nhà, chị em bà Yến đang lo lắng không biết hài cốt của cha mẹ rồi sẽ đi về đâu…

Trước việc quyền lợi chính đáng của chị em bà Yến bị xâm hại nghiêm trọng, chúng tôi đề nghị TAND TPHCM nên sớm đưa vụ án ra xét xử lại một cách công bằng, thấu tình đạt lý nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của người dân.

3. Ly hôn khi một bên xuất ngoại (đi nước ngoài) ?

Ngày 7-1- 2010 vừa qua đã là lần thứ 12 TAND TP.HCM quyết định hoãn xử vụ ly hôn giữa bà T. (Việt kiều Mỹ) với ông B. Vụ án ban đầu đã được tòa giải quyết khá nhanh vì hai bên đương sự thỏa thuận được với nhau nhưng rồi một bên đổi ý khiến quá trình tòa xử lại phát sinh nhiều rắc rối.

Cấp giám đốc thẩm chỉ hủy phần phân chia tài sản chung nhưng tòa sơ thẩm lần hai giải quyết lại cả yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, được không?

Thỏa thuận ban đầu

Theo hồ sơ, năm 1989, sau khi lấy ông B., bà T. sang Mỹ sống, mỗi năm chỉ về nước với chồng vài tháng. Năm 2000, bà sinh được một bé gái, có ý đưa chồng sang Mỹ định cư luôn nhưng ông B. không chịu, nói “phải 60 tuổi mới đi”. Thấy tình cảm sứt mẻ vì mỗi người một phương, tháng 11-2005, bà T. đâm đơn xin ly hôn, chia tài sản chung…

Theo bà T., vợ chồng bà có một căn nhà, một căn hộ chung cư, một xe hơi, một xe máy, ba chiếc tivi, tổng giá trị hơn 5,4 tỉ đồng. Bà yêu cầu được chia đôi mỗi người khoảng 2,2 tỉ đồng. Ngược lại, ông B. nói căn nhà là ông tự bỏ tiền ra mua và đứng tên, còn xe hơi đã bán nên yêu cầu tòa cho vợ chồng ông tự thỏa thuận.

Tháng 3-2006, TAND TP.HCM đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa hai bên. Theo đó, bà T. được nuôi con, ông B. có trách nhiệm cấp dưỡng 2 triệu đồng/tháng đến khi con trưởng thành. Về tài sản chung, ông B. được quản lý, sử dụng hết nhưng phải trả cho bà T. 1,6 tỉ đồng…

Hủy phần chia tài sản chung

Sau đó, bà T. đã khiếu nại xin xem xét giám đốc thẩm vì cho rằng giá trị tài sản mà tòa sơ thẩm công nhận là quá thấp so với thực tế. Bà nói mình không sống tại Việt Nam nhiều nên không biết rõ giá trị thật của hai căn nhà. Cạnh đó, do ông B. dây dưa việc trả tiền và cấp dưỡng nuôi con nên bà yêu cầu tòa tăng mức cấp dưỡng nuôi con là 2.000 USD/tháng tính đến năm cháu bé 18 tuổi và trả một lần.

Tháng 10-2007, viện trưởng VKSND Tối cao đã kháng nghị giám đốc thẩm quyết định của TAND TP. Theo văn bản kháng nghị, TAND TP công nhận sự thuận tình ly hôn và giao bà T. nuôi con là có căn cứ. Tuy nhiên, tòa không định giá khối tài sản chung của vợ chồng bà T. là thiếu sót. Cạnh đó, các bên đương sự phải nộp án phí sơ thẩm có giá ngạch theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được hưởng. Ở đây, tòa lại không tính mức án phí này là chưa đúng luật, gây thiệt hại cho ngân sách.

Đồng tình, một tháng sau, TAND Tối cao đã chấp nhận kháng nghị, hủy quyết định thỏa thuận về phần tài sản chung giữa vợ chồng bà T.

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình trực tuyến

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.6162

Xử lại yêu cầu cấp dưỡng, được không?

Tháng 2-2008, TAND TP thụ lý lại vụ việc. Về phần chia tài sản chung, đến nay tòa vẫn chưa giải quyết xong do phía ông B., luật sư cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan liên tục xin hoãn xử.

Riêng về yêu cầu thay đổi tiền cấp dưỡng nuôi con của bà T., tòa tách ra thành vụ án khác và đưa ra xử sơ thẩm, tiếp tục tuyên bà T. được nuôi con, còn ông B. phải cấp dưỡng 2 triệu đồng/tháng đến khi cháu bé đủ 18 tuổi. Xử phúc thẩm, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM đã sửa một phần bản án này. Theo đó, bà T. vẫn tiếp tục được nuôi con, còn ông B. phải cấp dưỡng một lần 258 triệu đồng.

Cách xử lý trên của hai cấp tòa đã gây tranh cãi bởi cấp giám đốc thẩm chỉ hủy phần thỏa thuận về phân chia tài sản chung để giải quyết lại chứ không hủy về phần thỏa thuận nuôi con và cấp dưỡng.

Theo một kiểm sát viên cao cấp VKSND Tối cao, quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa hai bên đương sự mà tòa ban hành có giá trị như một bản án. Phần thỏa thuận nuôi con, cấp dưỡng đã có hiệu lực pháp luật vì không bị kháng cáo, kháng nghị. Như vậy, việc tòa thụ lý, giải quyết lại theo yêu cầu của bà T. là sai.

Ngược lại, luật sư Lê Thành Kính (Đoàn Luật sư TP.HCM) khẳng định việc TAND TP giải quyết yêu cầu thay đổi tiền cấp dưỡng nuôi con của bà T. bằng một bản án khác là hợp lý. Theo Luật Hôn nhân và Gia đình, khi có phát sinh mâu thuẫn về quyền nuôi con hoặc trợ cấp nuôi con thì tòa có thể giải quyết bằng một vụ án khác để đảm bảo quyền lợi của đứa trẻ được tốt nhất.

Quy định cho phép tòa thụ lý:

Điều 168 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định tòa trả lại đơn kiện khi sự việc được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà tòa án bác đơn ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện. Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình cũng quy định khi có lý do chính đáng thì người nuôi con sau khi ly hôn có thể yêu cầu tòa thay đổi mức cấp dưỡng cho phù hợp.

Như vậy, trong bất kỳ trường hợp nào đương sự cũng có quyền yêu cầu tòa thay đổi quyền nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con và tòa phải thụ lý. Thậm chí không chỉ người trực tiếp nuôi con mới có quyền yêu cầu tăng cấp dưỡng mà phía người cấp dưỡng cũng có quyền yêu cầu tòa giảm tiền chu cấp hằng tháng, miễn là trưng ra được lý do chính đáng. Khi ấy tòa án thụ lý giải quyết bằng một vụ án khác mà không bị phụ thuộc vào quyết định thỏa thuận giữa vợ chồng hoặc bản án thuận tình ly hôn trước đó.

Đây là một quy định đặc biệt chỉ trong ly hôn mới có nhưng mang ý nghĩa nhân đạo lớn vì luật đã đặt lợi ích của đứa trẻ lên hàng đầu khi cha mẹ đã ly hôn.

LS Trương Xuân Tám (ủy viên Hội đồng luật sư toàn quốc)

4. Quyết định người nuôi dưỡng trong các vụ án ly hôn ?

Trong một vụ án ly hôn, ngoài vấn đề phân chia tài sản, việc giao con cho ai nuôi dưỡng là một trong những nội dung quan trọng nhất Tòa án phải quyết định. Bởi vì, khi cha mẹ ly hôn, người bị tổn thương nhiều nhất vẫn là những đứa con, nhất là khi đang ở lứa tuổi chưa thành niên – lứa tuổi rất cần sự chăm sóc của cả cha và mẹ để có thể phát triển toàn diện.

Về nguyên tắc, việc ai là người nuôi con sau khi ly hôn có thể được các bên đương sự (vợ, chồng) tự thỏa thuận với nhau và được Tòa án ghi nhận trong bản án. Sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con khi chưa thành niên (dưới 18 tuổi) hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng (mức cấp dưỡng tùy theo điều kiện kinh tế hoặc theo thỏa thuận) để người kia chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Nếu hai bên không thể tự thỏa thuận được với nhau, Tòa án sẽ xem xét, giao quyền nuôi con cho một bên vợ hoặc chồng.

Cụ thể hóa nguyên tắc nêu trên, tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: 2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Trong Công văn hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao cũng hướng dẫn: “Trước khi ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn mà không hỏi ý kiến của con chưa thành niên là điều tra chưa đầy đủ”. Như vậy, theo quy định, trong một vụ án ly hôn, việc hỏi ý kiến của con từ 7 tuổi trở lên có ý nghĩa bắt buộc, làm cơ sở để Tòa án xem xét, quyết định giao con cho ai nuôi. Quy định này nhằm bảo đảm tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ.

Quyết định người nuôi dưỡng trong các vụ án ly hôn

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình gọi số: 1900.6162

Tuy nhiên, trong nội dung hướng dẫn việc thực hiện khoản 2 Điều 81 Luật HN và GĐ năm 2014, việc hỏi ý kiến của người con chỉ đặt ra trong trường hợp cha mẹ không thoả thuận được việc giao con cho ai nuôi. Vì vậy, trong thực tiễn áp dụng pháp luật, các Tòa án vận dụng những quy định này không giống nhau. Ở một số Tòa án, việc quyết định giao con cho ai nuôi không cần phải hỏi ý kiến của người con, nhưng có Tòa án lại cho rằng cần phải lấy ý kiến của con cả khi cha mẹ thoả thuận được việc giao con cho ai nuôi.

Thực tiễn cho thấy, việc xem xét ý kiến, nguyện vọng của con và coi đó là một trong những cơ sở để Tòa án quyết định việc giao con cho ai nuôi là cần thiết, xét dưới cả góc độ lý luận và thực tiễn. Bởi vì, khi cha mẹ ly hôn, con cái mất đi một điểm tựa quan trọng nhất, đó chính là mái ấm gia đình. Việc hỏi ý kiến để các em nói lên tâm tư, nguyện vọng của mình. Điều này là hoàn toàn chính đáng, phù hợp với tinh thần của Điều 12 Công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em mà Việt Nam là quốc gia thành viên. Theo đó: Các quốc gia thành viên phải bảo đảm cho trẻ em có đủ khả năng hình thành quan điểm riêng của mình, được quyền tự do phát biểu những quan điểm đó về tất cả mọi vấn đề có tác động đến trẻ em, những quan điểm của các em được coi trọng một cách thích ứng với tuổi và độ trưởng thành của các em. Khi quyết định người trực tiếp nuôi con, Tòa án sẽ xem xét các điều kiện về việc chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như tình cảm, đạo đức, phương pháp nuôi dạy con cái… của cha và mẹ. Ý kiến của con tuy không có ý nghĩa quyết định cuối cùng nhưng cũng là một trong những cơ sở cần thiết để Tòa án xem xét, lựa chọn người nuôi con, bảo đảm cho trẻ sự phát triển tốt nhất.

Xây dựng mỗi gia đình bình đẳng, hạnh phúc là mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta, cũng là ước mong của tất cả mọi người. Tuy nhiên, có những cuộc hôn nhân, vì nhiều lý do không thể tiếp tục tồn tại thì cần phải có một hướng đi phù hợp, trong đó có việc giải quyết bằng cách thức ly hôn. Và trong một vụ án ly hôn, việc hỏi ý kiến của con là cần thiết, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người con.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua điện thoại, gọi: 1900.6162

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân và gia đình - Công ty luật Minh KHuê