1. Thủ tục tách hộ khẩu sau khi ly hôn ?

Thưa luật sư! Tôi ở Quảng ngãi, kết hôn được 1 năm tôi không hạnh phúc muốn li hôn,mà chồng tôi không đồng ý,giờ tôi muốn đơn phương ly hôn nhưng hộ khẩu tôi đã nhập cùng với chồng ở Thành phố Hồ Chí Minh vậy có cách nào mà cắt khẩu mà không cần đến hộ khẩu của chồng tôi không ạ?
Cảm ơn!

Thủ tục tách hộ khẩu sau khi ly hôn khỏi gia đình nhà chồng thực hiện như thế nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Trước hết, về vấn đề ly hôn, trường hợp của bạn là ly hôn đơn phương. Vì vậy, bạn cần phải thực hiện thủ tục sau:

* Hồ sơ bạn cần chuẩn bị (Hồ sơ có thể nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua đường Bưu điện) gồm có:

- Đơn xin ly hôn đơn phương (theo mẫu của Tòa án, hoặc tham khảo tại đây);

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

- Sổ hộ khẩu, CMTND (bản sao);

- Giấy khai sinh của con (bản sao - nếu có);

- Các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh tài sản chung như: GCNQSDĐ (sổ đỏ); Đăng ký xe; sổ tiết kiệm… (bản sao);

* Thủ tục ly hôn như sau:

- Nộp hồ sơ khởi kiện về việc xin ly hôn tại TAND quận/huyện nơi cư trú, làm việc của chồng bạn;

- Sau khi nhận đơn khởi kiện cùng hồ sơ hợp lệ Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc Tòa án kiểm tra đơn và ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí;

- Nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án quận/huyện và nộp lại biên lai tiền tạm ứng án phí cho Tòa án;

Thứ hai, về thủ tục cắt khẩu:

Theo quy định tại Điều 27 của Luật Cư trú năm 2003 sửa đổi bổ sung năm 2013 về tách sổ hộ khẩu, thì có hai trường hợp được tách sổ hộ khẩu là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có nhu cầu tách sổ hộ khẩu và người đã nhập vào sổ hộ khẩu quy định tại khoản 3 Điều 25 và khoản 2 Điều 26 của Luật này mà được chủ hộ đồng ý cho tách sổ hộ khẩu bằng văn bản.

Như vậy, sổ hộ khẩu gia đình là một tài liệu làm căn cứ để xác định việc đăng ký hộ khẩu thường trú của từng gia đình hoặc từng đơn vị lập sổ, và là một phương thức quản lý nhân khẩu và việc cư trú của người dân của cơ quan chính quyền. Hiện nay, hộ khẩu không liên quan đến quyền lợi về tài sản hay việc làm như trước. Vì vậy, Bản án của Tòa chỉ tuyên việc chấm dứt quan hệ vợ chồng, không đề cập đến vấn đề cư trú sau ly hôn. Mặt khác, hộ khẩu của một người là sự chứng nhận cư trú mang tính nhân thân. Chỉ có chính người đó mới có quyền điều chỉnh (di chuyển hoặc không). Đấy là quyền lợi của cá nhân (trừ khi cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định). Do đó, trường hợp của bạn, khi hôn nhân đã chấm dứt và bạn muốn cắt khẩu lên địa phương thì bạn cần liên hệ với cơ quan công an quận, huyện nhà chồng bạn để làm thủ tục cắt chuyển hộ khẩu cho bạn. Do bạn không phải là chủ hộ nên bạn cần có sự đồng ý của chồng bạn khi thay đổi hộ khẩu thường trú.

Những điều cần lưu ý: Bạn cần phải thực hiện thủ tục ly hôn hoàn tất, sau khi có bản án của Tòa án thì bạn mới có thể tiến hành thủ tục cắt khẩu. Và việc cắt khẩu này cần phải có sự đồng ý của chủ hộ (chủ hộ của gia đình chồng bạn)

>> Xem thêm:  Đã ly hôn chồng không cho gặp con phải làm như thế nào ? Quyền nuôi con khi ly hôn ?

2. Kết hôn hơn một năm, thủ tục ly hôn thế nào ?

Thưa Luật sư, em mệt mỏi với hôn nhân này. Chúng em cưới nhau gần 1 năm rồi ạ, chưa có con. Hai đứa không nói chuyện với nhau. Em muốn kết thúc hôn nhân này thì phải làm sao ?
Xin chân thành cảm ơn Luật sư.

Tư vấn luật ly hôn và chia tài sản cũng như nghĩa vụ trả nợ ngân hàng với khoản tiền vay chung ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân trực tuyến qua tổng đài, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội về thuận tình thuận ly hôn:

"Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.".

Theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về ly hôn theo yêu cầu của một bên:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hônnếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ củavợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Do đó bạn có thể chấm dứt quan hệ hôn nhân bằng việc nộp đơn thuận tình ly hôn khi hai vợ chồng bạn thỏa thuận được về việc ly hôn. Còn nếu vợ chồng bạn không thỏa thuận thì bạn có quyền ly hôn đơn phương.

Thủ tục ly hôn đơn phương bạn có thể tham khảo tại đây.

Thủ tục ly hôn thuận tình bạn tham khảo tại đây.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Thời hạn giải quyết nhanh nhất thuận tình ly hôn là bao lâu?

>> Xem thêm:  Những rủi ro khi vắng mặt không lý do tại tòa án buổi hòa giải và giải quyết việc ly hôn ?

3. Khi vợ chồng ly hôn thì có chia tài sản cho con không ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Vợ chồng tôi ly hôn mà tài sản nhà cửa thì do đứa con gái của tôi cấp tiền để mua và xây dựng trong đó có một số cũng là của vợ chồng tôi làm nên. Xin hỏi luật sư vậy tài sản này sau khi ly hôn chia như thế nào ?
Cảm ơn!
Người gửi : Huỳnh Thị Kiều Oanh

Luật sư trả lời:

Căn cứ theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Điều 60. Giải quyết quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba khi ly hôn

1. Quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau khi ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền, nghĩa vụ tài sản thì áp dụng quy định tại các điều 27, 37 và 45 của Luật này và quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết.

Điều 61. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Theo đó, khi ly hôn thì quan hệ vợ chồng sẽ chấm dứt, nó cũng sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ và con sau ly hôn cũng như quyền tài sản của hai vợ chồng. Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 không quy định cha mẹ khi ly hôn phải chia tài sản cho con cái. Việc chia tài sản hay không chia tài sản cho con hoàn toàn thuộc quyền quyết định của cha, mẹ. Vì vậy, để chia tài sản cho con thì cha, mẹ có thể thỏa thuận về việc chia tài sản cho con.

Theo thông tin mà bạn nêu thì ngôi nhà vẫn thuộc quyền sở hữu của bố mẹ bạn và là tài sản chung của bố mẹ bạn. Như vậy, theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 về nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng như sau: Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định của Luật này. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các Khoản 2, 3, 4 và 5 của Điều 59 và tại các Điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

Về nguyên tắc, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau: Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng; Việc chia tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Đối chiếu với quy định trên, tài sản chung của 2 bạn về nguyên tắc được chia đôi, không bắt buộc phải chia cho các con. Nhưng nếu con gái bạn đã thỏa thuận sẽ cho toàn bộ hoặc một phần tài sản cho hai bạn xây nhà thì hai bạn sẽ có quyền sở hữu phần tài sản được tặng cho đó. Tuy nhiên, do tất cả tài sản chỉ đứng tên 2 bạn nên khi 2 bạn ly hôn, con gái bạn sẽ không được chia khối tài sản này.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn giải quyết tranh chấp tài sản chung, tài sản riêng khi ly hôn?

4. Cách chia tài sản và nghĩa vụ trả nợ khoản tiền vay chung ?

Xin chào luật sư, Tôi đang làm điều dưỡng tại 1 bệnh viện tư nhân, công việc ổn định. Tôi đang nghỉ trong thời gian chăm sóc con nhỏ dưới 6 tháng tuổi. Vợ chồng tôi kết hôn được 2 năm, có 1 căn nhà chung mua.Căn nhà được mua bởi 1 phần tiền gia đình bên chồng bán nhà chia cho chồng tôi sau khi chúng tôi kết hôn và chúng tôi đứng tên chung vay ngân hàng 500 triệu để mua nhà, thế chấp bằng căn nhà hiện tại.Thời hạn vay là 10 năm, chúng tôi cùng trả nợ được 1 năm. Hiện tại cuộc sống vợ chồng tôi thấy không hạnh phúc, không có tiếng nói chung. Tôi muốn ly hôn. Xin hỏi luật sư, tình cảnh tôi như vậy có ly hôn được không. Tôi có được quyền nuôi dưỡng con hay không. Và nợ ngân hàng, tôi có thể không cùng trả nợ nữa hay không.
Tôi không cần trợ cấp nuôi của cha đứa bé, và cũng không muốn phân chia tài sản, tôi nhường ngôi nhà lại cho chồng tôi với điều kiện tôi muốn lấy lại số tiền mà tôi đã cùng trả nợ trong 1 năm có được không ?
Xin luật sư tư vấn dùm tôi. Và trả lời qua email giúp tôi. Tôi xin chânthành cảm ơn.

Luật sư trả lời:

1. Về quyền nuôi con:

Như thông tin bạn cung cấp con bạn dưới 6 tháng tuổi, bạn đang làm đều dưỡng tại 1 bệnh viện tư nhân, công việc ổn định. Căn cứ theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định như sau:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Như vậy căn cứ theo quy định của luật và điều kiện thực tế bạn cung cấp hiện tại bạn đang được quyền ưu tiên, trừ trường hợp chồng bạn chứng minh được bạn không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con những điều kiện đó có thể là:

Điều kiện về kinh tế: Bao gồm những vấn đề như có công ăn việc làm ổn định, có mức thu nhập phù hợp để chăm con không; Điều kiện về sức khỏe: có mắc những bệnh như lây nhiễm, bệnh hiểm nghèo mà không có đủ điều kiện chăm sóc cho con không; Điều kiện về môi trường sống cũng như thời gian chăm sóc cho con.

2. Vấn đề về phân chia tài sản chung của hai vợ chồng khi ly hôn. Căn cứ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định như sau:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Như vậy theo quy định tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân ..., quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng.

Như thông tin bạn cung cấp, Căn nhà được mua bởi 1 phần tiền gia đình bên chồng bán nhà chia cho chồng tôi sau khi chúng tôi kết hôn và chúng tôi đứng tên chung vay ngân hàng 500 triệu để mua nhà, thế chấp bằng căn nhà hiện tại. Như vậy đây là bất động sản hình thành trong thời kỳ kết hôn theo quy định là tài sản chung của hai vợ chồng. Vì vậy bạn hoàn toàn có quyền thỏa thuận chia tài sản với chồng, trường hợp hai vợ chồng không thỏa thuận được thì bạn hoàn toàn có thể gửi đơn ra tòa yêu cầu phân chia

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xin ly hôn bản mới nhất năm 2020

5. Giải quyết tài sản, việc nuôi con khi ly hôn ?

Thưa luật sư. Vợ chồng tôi đều là công nhân với mức lương của tôi cao hơn của chồng . Con tôi vừa được 4 tháng tuổi , do chồng tôi muốn đứng ra vay tiền hộ chị gái với số tiền 100 triệu đồng nhưng không hề bàn với tôi chỉ bàn với mẹ chồng , tôi không đồng ý nên đã xãy ra mâu thuẫn.
Chồng tôi lại thường xuyên nhậu bê tha . Ngay cả số tiền thai sản tôi nhận được là 24 triệu thì 2 vợ chồng đã tiêu hết 7 triệu còn lại 17 triệu thì chồng đã mua đồ trong nhà hết 7 triệu còn lại 10 triệu thì chồng đã đưa cho mẹ chồng 8 triệu mà không hề hỏi ý kiến tôi chỉ còn 2 triệu trong thẻ thì lại nói là cho tôi về quê trong ngày vợ chồng mâu thuẩn .
Vậy nếu ly hôn tôi có thể nuôi con không ? Số tiền thai sản của tôi có được hoàn trả lại không? Con tôi sẽ được cấp dưỡng như thế nào ?

Khi vợ chồng ly hôn thì có chia tài sản cho con không ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

1. Về việc nuôi con khi ly hôn

- Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

>> Như vậy, trường hợp của chị thì con chị vừa được 4 tháng tuổi sẽ được giao cho bạn nuôi theo quy ddinhjj tại khoản 3 điều 81 của luật hôn nhân và gia đình năm 2014

2. Về số tiền thai sản được giải quyết như sau:

Theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

Điều 30. Quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

1. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.

2. Trong trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên.

>> Như vậy, số tiền thai sản mà bạn nhận được là 24 triệu thì 2 vợ chồng đã tiêu hết 7 triệu còn lại 17 triệu thì chồng bạn đã mua đồ trong nhà hết 7 triệu còn lại 10 triệu thì chồng bạn đã đưa cho mẹ chồng 8 triệu mà không hề hỏi ý kiến bạn chỉ còn 2 triệu trong thẻ thì lại nói là cho bạn về quê trong ngày vợ chồng mâu thuẩn thì khhi ly hôn hai bạn có thể thỏa thuận về việc chia sản đó.

Do đó, việc số tiền thai sản của bạn sẽ không được trả lại cho bạn vì chồng bạn dùng số tiền này để mua đồ trong nhà nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình bạn được coi là tài sản chung nên khi bạn ly hôn sẽ tính vào công sức đóng góp của bạn vào khối tài sản chung đó căn cứ vào khoản 2 điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau: "

" 2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Về việc cấp dưỡng con khi ly hôn:

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau :

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Điều 117. Phương thức cấp dưỡng

Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.

Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết

>> Trong trường hợp của bạn, 2 vợ chồng bạn có thể thỏa thuận về mức cấp dưỡng khi nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay chưa có bất kỳ một văn bản nào quy định cụ thể về số tiền cấp dưỡng nuôi con là bao nhiêu do sự phong phú, đa dạng và rất khác nhau của mỗi hoàn cảnh, môi trường và điều kiện cũng như mức thu nhập của người không trực tiếp nuôi con. Tuy nhiên, khi xem xét quyết định mức cấp dưỡng, Tòa án sẽ dựa trên mức lương của chồng bạn, đồng thời cũng dựa trên những chi phí tối thiểu cần thiết cho việc nuôi dưỡng chăm sóc con, chẳng hạn như chi phí về ăn, mặc, ở học hành, khám, chữa bệnh, những chi phí tối thiểu để đảm bảo cuộc sống của một người bình thường.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Vợ có quyền yêu cầu tòa tăng mức tiền cấp dưỡng đã thỏa thuận trước đó không ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Hôn nhân - Công ty luật MInh Khuê

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?