Đến khoảng ngày 24/11/2016, tôi thông báo với chủ nhà là sẽ không gia hạn thêm hợp đồng thuê nhà. Theo như quy định của hợp đồng thì sẽ phải thông báo trước 30 ngày, nhưng khi thông báo chủ nhà đã đồng ý và nói là không sao. Đồng thời, chủ nhà cũng thông báo với tôi là họ đã làm giấy an ninh và nhập tạm trú cho tôi với chi phí là 18,800,000 VND. Khi tôi mới thuê nhà không thấy chủ nhà đề cập gì đến việc đăng ký giấy tờ cho người nước ngoài, nên tôi cũng tưởng sẽ không có việc gì. Khoảng mấy tháng sau chủ nhà cầm giấy tờ sang và bảo tôi ký vào, nói rằng đây là giấy tờ Công an bắt buộc phải làm. Trước khi chủ nhà làm giấy tờ thủ tục tạm trú cho gia đình tôi đã không có sự thông báo trước cho tôi biết và đã tự ý làm mọi thủ tục.

Đến nay, khi đã hết thời hạn thuê nhà, gia đình tôi cũng đã trao trả nhà nhưng chủ nhà vẫn không hoàn lại tiền cọc, và yêu cầu tôi phải chịu một nửa số tiền 18,800,000 VND. Theo như tôi tìm hiều thì thủ tục là tạm trú cho người nước ngoài tại Việt Nam thì sẽ chỉ mất 300 USD. Do tôi là người nước ngoài, không thành thạo tiếng Việt cũng như không nắm rõ được Luật Việt Nam. Nên tôi mong được Luật sư tư vấn giúp tôi sự việc trên.

Tôi xin trân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự công ty luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn thủ tục đăng ký tạm trú, gọi: 1900.6162

Trả Lời:

Kính thưa Quý khách hàng, Công ty TNHH Luật Minh Khuê đã nhận được yêu cầu của Quý khách. Vấn đề của Quý khách chúng tôi xin giải đáp như sau:

1. Quy định của pháp luật về hợp đồng thuê nhà và đặt cọc

Hợp đồng thuê nhà là một dạng của hợp đồng thuê tài sản và được quy định tại Điều 472 bộ luật dân sự 2015 như sau:

"Hợp đồng thuê tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, bên thuê phải trả tiền thuê.

Hợp đồng thuê nhà ở, hợp đồng thuê nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật nhà ở và quy định khác của pháp luật có liên quan."

Đặt cọc theo quy định tại Diều 328 bộ luật dân sự 2015 như sau:

"1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."

2. Nội dung tư vấn

Việc bạn đặt cọc số tiền 500USD cho chủ nhà là nhằm đảm bảo thực hiện hợp đồng thuê nhà. Vì vậy, theo quy định trên sau khi hết thời hạn thuê nhà, 2 bên sẽ chấm dứt hợp đồng thuê nhà chủ nhà có trách nhiệm trả lại số tiền đặt cọc cho bạn. Trong trường hợp chủ nhà không trả khoản tiền cọc này, bạn có thể khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Tòa án có thẩm quyền giải quyết trong trường hợp này là tòa án dân sự cấp tỉnh nơi bên cho thuê nhà cư trú.

Theo quy định tại điều 33 Luật xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 thì chủ nhà phải có trách nhiệm khai báo tạm trú đến cơ quan Công an xã, phường, thị trấn nơi đang cư trú. Về lệ phí đăng ký tạm trú theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, chủ nhà có yêu cầu bạn trả chi phí là 18.800.000 đ là không có căn cứ, do đó bạn phải yêu cầu chủ nhà cung cấp phiếu thu của cơ quan nhà nước về việc đăng ký tạm trú cho bạn. Trường hợp họ không cung cấp cho bạn được phiếu thu hay chứng từ hợp pháp thì bạn không có nghĩa vụ thanh toán khoản phí đó.

"Điều 33. Khai báo tạm trú

1. Người nước ngoài tạm trú tại Việt Nam phải thông qua người trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động của cơ sở lưu trú để khai báo tạm trú với Công an xã, phường, thị trấn hoặc đồn, trạm Công an nơi có cơ sở lưu trú.

2. Người trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động của cơ sở lưu trú có trách nhiệm ghi đầy đủ nội dung mẫu phiếu khai báo tạm trú cho người nước ngoài và chuyển đến Công an xã, phường, thị trấn hoặc đồn, trạm Công an nơi có cơ sở lưu trú trong thời hạn 12 giờ, đối với địa bàn vùng sâu, vùng xa trong thời hạn là 24 giờ kể từ khi người nước ngoài đến cơ sở lưu trú.

3. Cơ sở lưu trú du lịch là khách sạn phải nối mạng Internet hoặc mạng máy tính với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để truyền thông tin khai báo tạm trú của người nước ngoài. Cơ sở lưu trú khác có mạng Internet có thể gửi trực tiếp thông tin khai báo tạm trú của người nước ngoài theo hộp thư điện tử công khai của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

4. Người nước ngoài thay đổi nơi tạm trú hoặc tạm trú ngoài địa chỉ ghi trong thẻ thường trú thì phải khai báo tạm trú theo quy định tại khoản 1 Điều này."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về, luật thuế và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn pháp luật hành chính trực tuyến, gọi :1900.6162 .

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê