1. Các chứng cứ chứng minh mối quan hệ cha con 

Dựa trên tên gọi "các chứng cứ, căn cứ chứng minh quan hệ cha con, mẹ con," có thể hiểu đây là các tư liệu chứa đựng thông tin quan trọng thể hiện mối quan hệ huyết thống giữa các cá nhân trong gia đình, đặc biệt là quan hệ cha con hoặc mẹ con với người khác.

Theo quy định tại Điều 14 của Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28 tháng 5 năm 2020 của Bộ Tư pháp, chi tiết hóa về việc thi hành một số điều của Luật hộ tịch 2014 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ, chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con được định rõ như sau:

- Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.

- Trường hợp không có chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều này thì các bên nhận cha, mẹ, con lập văn bản cam đoan về mối quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại Điều 5 Thông tư 04/2020/TT-BTP, có ít nhất hai người làm chứng về mối quan hệ cha, mẹ, con.

Hiện nay, các cơ quan y tế và cơ quan giám định thường xác nhận quan hệ cha con và mẹ con dựa trên kết quả giám định ADN. Kết quả này được ghi lại trong văn bản kết luận giám định, thực hiện bằng cách so sánh mã gen trong hai mẫu bệnh phẩm được giám định. Các cơ quan đăng ký hộ tịch phải chịu trách nhiệm giải thích rõ về trách nhiệm và hậu quả pháp lý của việc cam đoan, làm chứng không đúng sự thật trong các giấy tờ và căn cứ liên quan đến quan hệ cha con, mẹ con khi thực hiện thủ tục này. Trong quá trình giải quyết, nếu phát hiện cơ sở nào đó cam đoan hay làm chứng không đúng sự thật, cơ quan đăng ký hộ tịch có thể từ chối giải quyết hoặc hủy bỏ kết quả đăng ký hộ tịch.

Loại tài liệu thứ hai là văn bản cam đoan của các bên cha, mẹ, con về mối quan hệ huyết thống. Được sử dụng khi không có chứng minh quan hệ cha con, mẹ con từ các cơ quan y tế hoặc giám định. Văn bản này đòi hỏi sự cam đoan đúng sự thật từ các bên và ít nhất hai người làm chứng về nội dung cam đoan.

2. Thủ tục từ chối nhận con vì phát hiện không phải con ruột

Căn cứ theo quy định tại Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về vấn đề xác định cha mẹ con như sau:

- Nếu con được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân, thì con được xác định là con chung của vợ chồng.

- Con sinh ra trong thời hạn 300 ngày tính từ thời điểm vợ chồng chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

- Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

- Trong trường hợp cha hoặc mẹ không thừa nhận con là con của mình, cần có chứng cứ và phải qua quyết định của Tòa án.

Dựa theo quy định trên, nếu con được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân, thì mặc dù có quyền thừa nhận con, nhưng cha mẹ vẫn có khả năng gửi yêu cầu đến Toà án, cung cấp chứng cứ để xác nhận rằng người con không phải là con chung của hai vợ chồng.

Để thực hiện thủ tục từ chối nhận con, đề xuất chuẩn bị các giấy tờ sau đây:

- Đơn yêu cầu không công nhận con - Một tài liệu chính thức trình bày ý muốn của người yêu cầu không nhận con.

- Giấy tờ tùy thân của người yêu cầu bao gồm:

+ Giấy đăng ký kết hôn - Chứng nhận về hôn nhân của người yêu cầu.

+ Chứng minh nhân dân (CMND) hoặc thẻ căn cước công dân (CCCD) bản sao - Chứng minh danh tính của người yêu cầu.

+ Giấy khai sinh con - Chứng minh về quan hệ cha mẹ với đứa trẻ.

+ Bản án ly hôn (nếu có) - Nếu người yêu cầu đã ly hôn, cung cấp bản án liên quan.

- Giấy xét nghiệm về ADN - Chứng minh ADN để hỗ trợ quyết định của Toà án.

Sau khi nộp hồ sơ, Toà án nhân dân cấp huyện tại địa phương người yêu cầu cư trú hoặc làm việc sẽ xem xét yêu cầu để không nhận làm cha hoặc mẹ của đứa trẻ. Quá trình này thường kéo dài khoảng 03 tháng, sau đó Toà án sẽ mở phiên họp và ra quyết định không công nhận con của người yêu cầu.

Căn cứ theo quy định trên, sau khi nhận được quyết định của Toà án, người yêu cầu cần đến Uỷ ban nhân dân xã nơi cư trú để yêu cầu không nhận con, chấm dứt mối quan hệ trên giấy khai sinh của đứa trẻ. Hồ sơ cần chuẩn bị bao gồm:

- Giấy tờ tùy thân - Để chứng minh về nhân thân của người yêu cầu.

 - Mẫu tờ khai không công nhận con - Thực hiện theo mẫu được quy định.

- Giấy tờ tài liệu liên quan đến quan hệ với con - Bao gồm các giấy tờ chứng minh đứa bé không phải con ruột và quyết định của Toà án.

Sau khi nộp hồ sơ, trong vòng 07 ngày, công chức tư pháp - hộ tịch tại Uỷ ban nhân dân xã kiểm tra hồ sơ, niêm yết thông tin về việc không nhận con tại trụ sở Uỷ ban nhân dân và báo cáo quyết định cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã. Trong trường hợp cần xác minh lại, thời gian giải quyết không vượt quá 12 ngày làm việc. Nếu xác minh đúng, công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung vào sổ Hộ tịch và điền thông tin vào sổ. Sau đó, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã ký mỗi bên 01 bản chính trích lục hộ tịch.

3. Có bắt buộc phải cho con theo họ cha ruột không?

Dựa theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 26 Bộ luật Dân sự 2015, quyền có họ, tên của công dân Việt Nam được thực hiện theo các nguyên tắc sau:

Cá nhân có quyền có họ, tên, bao gồm cả chữ đệm nếu có. Họ, tên của người đó sẽ được xác định dựa trên họ, tên được ghi trong giấy khai sinh của người đó.

Trong trường hợp họ của cá nhân được xác định theo thỏa thuận của cha mẹ, có thể là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ. Trong trường hợp không có thỏa thuận nào, họ của con sẽ được xác định theo tập quán.

- Trong tình huống chưa xác định được cha đẻ, họ của trẻ em sẽ được xác định theo họ của mẹ đẻ.

- Trong trường hợp trẻ em bị bỏ rơi và chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ, nhưng đã được nhận làm con nuôi, họ của trẻ em sẽ được xác định dựa trên thỏa thuận giữa cha mẹ nuôi. Nếu chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi, thì họ của trẻ em sẽ được xác định theo họ của người đó.

- Trong trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ, và chưa được nhận làm con nuôi, họ của trẻ em sẽ được xác định theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em hoặc theo đề nghị của người có yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em, nếu trẻ em đang được người đó tạm thời nuôi dưỡng.

Như vậy, căn cứ theo quy định nêu trên, không có yêu cầu bắt buộc về việc đặt họ của trẻ em phải theo họ của cha. Quá trình đặt tên và họ cho con sẽ tuân theo thỏa thuận giữa vợ và chồng khi đăng ký khai sinh.

Xem thêm: Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân không phải con ruột của chồng được xử lý như thế nào ?

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Thủ tục từ chối nhận con vì phát hiện không phải con ruột mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!