Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân không phải con ruột của chồng được xử lý như thế nào ?

Con sinh ra nhưng không phải con ruột của chồng mình thì phải làm sao? Nếu ly hôn thì phân chia quyền nuôi con như thế nào? Có bi kết vào tội lừa đảo không? Bố ruột có quyền giành con không? Có thể thay đổi thông tin trên giấy khai sinh không?

Kính chào Luật Minh Khuê, tôi có vấn đề thắc mắc mong được Luật sư giải đáp.

Trước khi kết hôn tôi với chồng tôi có chung sống với nhau như vợ chồng. Trong quá trình chung sống chúng tôi có 1 lần xảy ra mẫu thuẫn lớn nên tạm chia tay nhau. Lúc đó tôi có quen một người đàn ông khác và phát sinh quan hệ tình dục với anh ta một lần. Ngay sau đó tôi với chồng tôi làm lành và chúng tôi quyết định kết hôn. Khi làm đám hỏi thì tôi phát hiện mình có bầu. Cả tôi và chồng đề tin rằng đó là con của chúng tôi. Con sinh ra đến nay được 4 tháng, tôi nghi ngờ cháu không phải con của chồng tôi nhưng cảm thấy không thể có chuyện đó được nên tôi cũng kệ.Rồi chồng tôi cũng nghi ngờ và đi làm xét nghiệm ADN. Kết quả xét nghiệm đùng là không phải con của chồng tôi. Tôi đã van xin tha thứ rất nhiều lần nhưng chồng tôi vẫn chửi bới và đánh đập tôi thậm tệ. Tôi yêu cầu ly hôn nhưng anh ấy không chịu.Anh ấy nói sẽ kiện tôi đi tù vì ngoại tình, lừa dối anh ấy và bắt con tôi đi ,không cho tôi được nuôi con mình. Bây giờ bố ruột của con tôi cũng biết sự thật và muốn đòi con. Tôi thật sự rất sợ mất con . Tôi không biết phải làm như nào nữa.

- Mong sớm nhận được phản hồi từ quý công ty,tôi xin chân thành cảm ơn.

Trả lời : Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới chuyên mục hỏi đáp của công ty chúng tôi.Câu hỏi của bạn được giải đáp như sau :

1 Nam nữ chung sống như vợ chồng

Hiện nay, pháp luật không công nhận nhưng cũng không cấm trường hợp nam nữ còn độc thân mà chung sống với nhau như vợ chồng. Pháp luật hôn nhân và gia đình chỉ cấm 2 trường hợp dưới đây:

- Người đang có vợ có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ có chồng chung sống như vợ chồng vợ chồng với người đang có vợ có chồng.

- Chung sống như vợ chồng giữa những người chung dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời,giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng làm cha mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng với con dâu;mẹ vợ với con rể;cha dượng với con rieeg của vợ; mẹ kế với con riêng của chồng.

Thứ nhất, chung sống như vợ chồng được hiểu là việc nam,nữ dọn về ở với nhau và coi nhau như vợ chồng nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp của bạn, bạn và chồng bạn thời điểm đó chung sống với nhau như vợ chồng nhưng về thủ tục pháp lý thì chưa có đăng ký kết hôn nên quan hệ này sẽ không được pháp luật công nhận. Chính vì vậy, việc hai bạn chia tay và bạn có quan hệ tình cảm với một người khác trong thời gian đó không được xem là ngoại tình và chồng bạn không có cơ sở để kiện bạn vì vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng.

Thứ hai, bạn và người kia chỉ phát sinh quan hệ đúng một lần và sau khi kết hôn bạn không còn bất cứ liên lạc nào với anh ta nữa. Khi có bầu bản thân bạn cũng không biết là con của ai, chồng bạn cũng tin là con của hai người, vi hai bạn sống chung với nhau trước khi kết hôn nên có thể khẳng định đưa bé là con của hai bạn. Do đó, bạn cũng không vi phạm vào Luật hôn nhân và gia đình quy định về lừa dối kết hôn.

2 Con chung trong thời kỳ hôn nhân

Theo khoản 1 Điều 88 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định các trường hợp được xem là con chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đó là:

1.Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

2. Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điêtm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

3.Con sinh ra trước ngay đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.

Từ quy định nêu trên, có thể hiểu thực tế những trường hợp được xem la con chung của vơ chồng như sau:

- Không cần biết có thai khi nào,nhưng cứ sinh trong thời kỳ hôn nhân thì là con chung

- Vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân nhưng sau khi ly hôn mới sinh con cũng là con chung

- Vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân nhưng sau khi chồng chết mới phát hiện mình có thai và sinh con

- Vợ chồng chưa đăng ký kết hôn ma có con và thừa nhận đó là con chung

Trong trường hợp của bạn, con bạn được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân cho nên đứa bé là con chung của vợ chồng bạn.Về mặt pháp luật, Chồng bạn có quyền giành quyền nuôi con khi hai bạn ly hôn. Tuy nhiên, chồng bạn không có quyền hạn chế quyền nuôi con của bạn nếu việc đó không nhằm làm ảnh hưởng xấu tới việc chăm sóc giáo dục con nhỏ.

3 Xác nhận cha con

3.1 Xác nhận cha con trong trường hợp con sinh ra không phải con ruột

Thông thường , khi phát hiện con sinh ra không phải con ruột, người ta thường gửi đơn yêu cầu Toa án ra quyết định xác nhận không phải cha con. Trường hợp cua bạn, bố của bé vẫn muốn nhận con và phối phợp để xác định lại quan hệ huyết thông giữa cha con, gây khó khăn cho việc bạn chăm sóc bé,cho nên bạn hoàn toàn có thể làm nguyên đơn, yêu cầu Tòa án ra quyết định xóa bỏ quan hệ cha con giữa chồng bạn và con bạn.

Hồ sơ yêu cầu Tòa án xác định quan hệ cha con:

- Đơn khởi kiện (trong trường hợp có tranh chấp) hoặc Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự (áp dụng trong trường hợp không có tranh chấp);

- Bản sao có công chứng hoặc chứng thực Chứng minh nhân dân/Căn cước công dân/Hộ chiếu của bạn;

- Bản sao sổ hộ khẩu của bạn có công chứng hoặc chứng thực;

- Văn bản, giấy tờ chứng minh mối quan hệ cha - con của bạn và cháu bé như: Kết quả giám định ADN, thư từ, tài liệu, phim ảnh, người làm chứng,...

Trong thời gian 04 tháng đến 06 tháng toà án sẽ giải quyết vấn đề này cho bạn.

3.2 Quy định của pháp luật hiện hành về việc nhận cha cho con ngoài giá thú

Như bạn trình bày thì bố ruột của con bạn đã biết sự thật và muốn giành lại quyền nuôi con. Trường hợp này bố ruột của con bạn hoàn toàn được quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định công nhân quan hệ cha con,

Quyền nhận cha con theo quy định của Điều 91 Luật Hôn nhân và gia định 2014 quy định:

"1. Cha, mẹ có quyền nhận con, kể cả trong trường hợp con đã chết.

2. Trong trường hợp người đang có vợ, chồng mà nhận con thì việc nhận con không cần phải có sự đồng ý của người kia."

Trường hợp 1: thủ tục đăng ký xác nhận cha cho con ngoài giá thú nếu có tranh chấp: Phải nộp đơn khởi kiện tới Tòa án để xin xác nhận mối quan hệ cha con theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Trình tự , thủ tục được quy định tại Luật hộ tịch 2014

Điều 44. Thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con

1. Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ, đồ vật hoặc các chứng cứ khác để chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp đăng ký nhận cha, mẹ, con giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài hoặc giữa người nước ngoài với nhau thì người nước ngoài phải nộp thêm bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu để chứng minh về nhân thân.

2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, công chức làm công tác hộ tịch xác minh, niêm yết việc nhận cha, mẹ, con tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp huyện trong thời gian 07 ngày liên tục, đồng thời gửi văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người được nhận là cha, mẹ, con niêm yết trong thời gian 07 ngày liên tục tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã.

3. Phòng Tư pháp báo cáo và đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định việc đăng ký nhận cha, mẹ, con, nếu thấy đủ điều kiện thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết.

4. Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt; công chức làm công tác hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng các bên ký vào Sổ hộ tịch. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp trích lục cho các bên."

Trường hợp 2 : Thủ tục đăng ký xác nhận cha cho con ngoài giá thú nếu không có tranh chấp, các bên đều tự nguyện và không có tranh chấp với những người có quyề và nghĩa vụ liên quan:

- Người có yêu cầu đăng ký cha,mẹ con điền và nộp mẫu tờ khai về việc nhận cha,mẹ,con tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã,phường,thị trấn nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha,mẹ,con.( Trường hợp cha hoặc mẹ nhận con chưa thành niên,thì phải có sự đồng ý của người hiện đang là mẹ hoặc cha ,trừ trường hợp người đó đã chết,mất tích,mất năng lực hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự)

Chứng cứ để chứng minh quan hệ cha,mẹ,con được hướng dẫn tại Điều 11 Thông tư số 11/2005/TT-BTP hướng dẫn luật hộ tịch và NDD123/2015/NĐ-CP

"Điều 11. Chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con

Chứng cứ để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại khoản 1 Điều 25 và khoản 1 Điều 44 của Luật hộ tịch gồm một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:

1. Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.

2. Trường hợp không có văn bản quy định tại khoản 1 Điều này thì phải có thư từ, phim ảnh, băng, đĩa, đồ dùng, vật dụng khác chứng minh mối quan hệ cha con, quan hệ mẹ con và văn bản cam đoan của cha, mẹ về việc trẻ em là con chung của hai người, có ít nhất hai người thân thích của cha, mẹ làm chứng.

Cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm giải thích rõ trách nhiệm, hệ quả pháp lý của việc cam đoan, làm chứng không đúng sự thật.

Cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối giải quyết theo quy định tại Điều 5 của Thông tư này hoặc hủy bỏ kết quả đăng ký hộ tịch, nếu có cơ sở xác định nội dung cam đoan, làm chứng không đúng sự thật."

Ngoài ra ,Cha muốn nhận con muốn đổi họ của con sang họ cha thì phải được sự đồng ý của người mẹ, nếu cháu bé đủ 09 tuổi trở lên phải hỏi ý kiến cháu bé

4 Một bên không đồng ý có ly hôn được không?

Theo Điều 51 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì: Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Do đó, nếu đối phương (vợ hoặc chồng) không đồng ý ký vào đơn thì bên còn lại có thể làm đơn ly hôn theo yêu cầu của một bên.

Về thủ tục đơn phương ly hôn (ly hôn theo yêu cầu của một bên) được nộp tại tòa án nhân dân cấp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi người còn lại đang cư trú theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Hồ sơ ly hôn đơn phương, bao gồm:

1. Đơn xin ly hôn, có xác nhận của UBND cấp xã về hộ khẩu và chữ ký của bạn. Trong đơn bạn cần trình bày các vấn đề sau:

- Về kết hôn: Ở đâu? Thời gian? Kết hôn có hợp pháp không? Mâu thuẫn xảy ra khi nào? Mâu thuẫn chính là gì? Vợ chồng có sống ly thân không? Nếu có thì sống ly thân từ thời gian nào tới thời gian nào?

- Về con chung ( nếu có): Cháu tên gi? Sinh ngày tháng năm nào? Nay xin ly hôn bạn có yêu cầu gì về giải quyết con chung (có xin được nuôi cháu không, nghĩa vụ cấp dưỡng của cha cháu như thế nào)?

- Về tài sản chung: Có những tài sản gì chung? có giấy tờ kèm theo (nếu có). Nếu ly hôn bạn muốn giải quyết tài sản chung như thế nào?

- Về nợ chung: Có nợ ai không? có ai nợ vợ chồng không? Tên, địa chỉ và số nợ của từng người? Bạn muốn giải quyết như thế nào?

2. Bản sao Giấy khai sinh của con ( nếu có con);

3. Bản sao Giấy CMND, sổ hộ khẩu của bạn và của người chồng;

4. Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Trường hợp không có bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, thì bạn phải xin xác nhận của UBND cấp xã nơi đã đăng ký kết hôn.

5. Các giấy tờ chứng minh về tài sản: ví dụ Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở…

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án

+ Trong trường hợp không biết thông tin về nơi cư trú, làm việc của vợ/chồng bị đơn thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết được quy tại điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Theo đó, “nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết”. Tại điểm a, khoản 1, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định thẩm quyền xét xử về hôn nhân (không có yếu tố nước ngoài) thuộc TAND cấp huyện, nên trường hợp này nguyên đơn nộp hồ sơ yêu cầu giải quyết việc ly hôn của mình tại TAND cấp huyện nơi chồng chị cư trú, làm việc cuối cùng (nếu biết).

Lưu ý rằng, theo quy định của Điều 40 Bộ luật dân sự năm 2015 thì:

"1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống.

2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó đang sinh sống."

+ Theo quy định tại khoản 5 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nguyên đơn có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó nguyên đơn cần cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh về nơi cư trú cuối cùng của vợ/chồng cho tòa án nơi chị nộp đơn.

+ Khi nhận và thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, theo quy định tại Điều 170 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tòa án có nghĩa vụ cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng cho đương sự. Trong trường hợp này, tòa án sẽ thực hiện thủ tục niêm yết công khai để triệu tập bị đơn theo quy định tại khoản 2, khoản 3, Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, như sau:

Nếu tòa triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà chồng chị cố tình không có mặt thì tòa lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Nếu chồng chị vẫn không có mặt tại phiên tòa thì tòa án sẽ xét xử vắng mặt bị đơn (theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015).

Như vậy, bạn cần nộp đơn xin ly hôn đơn phương đến tòa án có thẩm quyền theo các quy định chúng tôi viện dẫn ở trên để được tòa thụ lý giải quyết theo luật định.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình - Công ty luật Minh Khuê

5 sao của 1 đánh giá

Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?

Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?

Cảm ơn bạn đã nhận xét!

Like fanpage Luật Minh Khuê để nhận tin mới mỗi ngày

Bài viết cùng chủ đề

Dịch vụ nổi bật