1. Thừa phát lại có phải tham gia bồi dưỡng bắt buộc nghiệp vụ không?
Thông tư 05/2020/TT-BTP của Bộ Tư pháp hướng dẫn Nghị định 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại, tập trung vào quy định việc bồi dưỡng nghiệp vụ hàng năm cho Thừa phát lại.
- Thừa phát lại phải tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ tối thiểu 16 giờ/năm, tương đương với 02 ngày làm việc/năm.
- Nội dung bồi dưỡng nghiệp vụ bao gồm cập nhật kiến thức pháp luật về Thừa phát lại, thi hành án dân sự, tố tụng và các lĩnh vực pháp luật liên quan. Bồi dưỡng nhằm nâng cao kỹ năng hành nghề, đạo đức nghề nghiệp và giải quyết khó khăn, vướng mắc trong quá trình hành nghề.
- Học viện Tư pháp thực hiện bồi dưỡng nghiệp vụ theo nội dung quy định. Sở Tư pháp tổ chức bồi dưỡng tại địa phương, đồng thời cấp giấy chứng nhận hoàn thành nghĩa vụ bồi dưỡng nghiệp vụ.
- Thừa phát lại được công nhận đã hoàn thành nghĩa vụ bồi dưỡng nghiệp vụ nếu trong năm đó:
+ Giảng dạy nghề Thừa phát lại tại Học viện Tư pháp hoặc lớp bồi dưỡng do Sở Tư pháp tổ chức.
+ Hoặc tham gia làm báo cáo viên trong các chương trình tập huấn, hội thảo, tọa đàm do Cục Bổ trợ tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự tổ chức.
- Học viện Tư pháp, Cục Bổ trợ tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự và Sở Tư pháp cấp văn bản chứng nhận cho Thừa phát lại về việc đã tham gia giảng dạy hoặc làm báo cáo viên.
- Thừa phát lại có thể được miễn nghĩa vụ bồi dưỡng nếu:
+ Là phụ nữ đang mang thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi. Đang điều trị dài ngày tại cơ sở khám chữa bệnh với các bệnh thuộc danh mục dài ngày.
+ Đối với các trường hợp tham dự các chương trình tập huấn, hội thảo, tọa đàm, 01 ngày tham dự được tính là 08 giờ tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ.
+ Các cơ quan có thẩm quyền cấp văn bản chứng nhận số ngày tham dự.
Thông tư này nhấn mạnh sự linh hoạt và phù hợp trong việc đảm bảo nghiệp vụ bồi dưỡng nghiệp vụ của Thừa phát lại, đồng thời tạo điều kiện cho những trường hợp có đặc điểm riêng biệt được miễn nghĩa vụ một cách công bằng.
2. Quy định về đào tạo, bồi dưỡng nghề Thừa phát lại
Căn cứ theo quy định tại Điều 3 của Thông tư 05/2020/TT-BTP quy định như sau:
Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghề thừa phát lại:
- Học viện Tư pháp có trách nhiệm tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghề Thừa phát lại theo quy định tại Điều 7 của Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08 tháng 01 năm 2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại.
- Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nghề được xây dựng dựa trên cơ sở của quy định tại nghị định trên và phản ánh đầy đủ, chính xác yêu cầu, nhiệm vụ mà Thừa phát lại cần thực hiện.
Nội dung đào tạo, bồi dưỡng nghề Thừa phát lại:
- Kiến thức Pháp luật: Bao gồm các mặt cơ bản về Thừa phát lại, thi hành án dân sự, tố tụng và các quy định pháp luật liên quan.
- Đạo đức nghề nghiệp Thừa phát lại: Hướng dẫn về đạo đức, đạo lý trong hành nghề, đảm bảo tính chính xác, công bằng và minh bạch trong quá trình thực hiện công vụ.
- Kỹ năng hành nghề Thừa phát lại: Tập trung vào việc phát triển kỹ năng thực hiện công việc, giải quyết vấn đề, truyền đạt thông tin một cách rõ ràng và hiệu quả.
Quy trình và Cơ quan chủ trì:
- Học viện Tư pháp, chủ trì và phối hợp với Cục Bổ trợ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự, Vụ Pháp luật quốc tế, và các đơn vị có liên quan.
- Xây dựng và trình Bộ trưởng Bộ Tư pháp để ban hành chương trình đào tạo, bồi dưỡng nghề Thừa phát lại.
Hiệu quả dự kiến:
- Đảm bảo rằng người tham gia chương trình sẽ nắm vững kiến thức cần thiết, áp dụng thành công trong thực tế công việc.
- Nâng cao chất lượng, uy tín và chuyên nghiệp trong lĩnh vực Thừa phát lại.
Đánh giá và điều chỉnh: Học viện Tư pháp cần thiết kế cơ chế đánh giá hiệu quả và tiến độ của chương trình, từ đó có thể điều chỉnh nội dung đào tạo để đáp ứng nhu cầu và tiêu chí ngày càng cao của Thừa phát lại.
Chương trình đào tạo, bồi dưỡng nghề Thừa phát lại sẽ đóng góp tích cực vào việc nâng cao chất lượng và chuyên nghiệp hóa ngành nghề Thừa phát lại trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
3. Công nhận tương đương đối với người được đào tạo nghề Thừa phát lại ở nước ngoài
Căn cứ theo Điều 4 của Thông tư 05/2020/TT-BTP quy định về công nhận tương đương đối với người được đào tạo nghề Thừa phát lại ở nước ngoài như sau:
Công nhận tương đương đối với người được đào tạo nghề Thừa phát lại ở nước ngoài là một quá trình quan trọng để hỗ trợ và thúc đẩy sự di dời của lao động chất lượng, đồng thời nâng cao chất lượng và hiệu suất làm việc trong lĩnh vực Thừa phát lại. Quy định này được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
- Văn bằng đào tạo tương đương:
+ Người được đào tạo nghề Thừa phát lại ở nước ngoài có văn bằng đào tạo nghề Thừa phát lại được cấp bởi cơ sở đào tạo thuộc phạm vi áp dụng của các Hiệp định về tương đương văn bằng hoặc công nhận lẫn nhau về văn bằng.
+ Điều này bao gồm việc áp dụng các Hiệp định quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập, đặc biệt là những Hiệp định liên quan đến việc công nhận tương đương văn bằng và chất lượng đào tạo nghề.
- Chương trình đào tạo được công nhận:
+ Người được đào tạo nghề Thừa phát lại ở nước ngoài có văn bằng đào tạo nghề Thừa phát lại được cấp bởi cơ sở đào tạo mà chương trình đào tạo nghề Thừa phát lại đã được cơ quan kiểm định chất lượng của nước đó công nhận.
+ Hoặc được cơ quan có thẩm quyền của nước đó cho phép thành lập và cấp văn bằng.
Quy định này giúp đảm bảo rằng người được đào tạo nghề Thừa phát lại ở nước ngoài sẽ được công nhận tương đương với những người đã được đào tạo trong hệ thống giáo dục và đào tạo nghề tại Việt Nam. Điều này giúp thúc đẩy sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo nghề và đồng thời cung cấp nguồn nhân lực chất lượng và đa dạng cho thị trường lao động nội địa.
4. Tài liệu chứng minh được miễn đào tạo nghề Thừa phát lại
Theo quy định tại Điều 5 Thông tư 05/2020/TT-BTP quy định về tài liệu chứng minh được miễn đào tạo nghề Thừa phát lại:
Giấy tờ của các Chức danh trong hệ thống Tư pháp:
- Thẩm phán, Kiểm sát viên, Chấp hành viên, Điều tra viên:
+ Quyết định bổ nhiệm.
+ Giấy chứng minh thẩm phán, giấy chứng minh kiểm sát viên.
+ Thẻ chấp hành viên.
+ Giấy chứng nhận điều tra viên.
+ Kèm theo giấy tờ chứng minh đã có thời gian làm thẩm phán, kiểm sát viên, chấp hành viên, điều tra viên từ 05 năm trở lên.
- Giấy tờ của các Chuyên ngành Luật:
- Luật sư, Công chứng viên:
+ Chứng chỉ hành nghề luật sư.
+ Quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chứng viên.
+ Thẻ luật sư, thẻ công chứng viên.
+ Kèm theo giấy tờ chứng minh đã có thời gian hành nghề luật sư, công chứng từ 05 năm trở lên.
- Giấy tờ của giáo viên và cán bộ nghiên cứu trong lĩnh vực pháp luật:
Giáo sư, Phó giáo sư chuyên ngành luật:
+ Quyết định bổ nhiệm chức danh Giáo sư, Phó giáo sư chuyên ngành luật.
+ Bằng tiến sĩ luật hoặc Bằng tiến sĩ luật được cấp bởi cơ sở giáo dục nước ngoài (phải được công nhận văn bằng theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo).
Giấy tờ của cán bộ trong các cơ quan quản lý và thi hành án:
- Thẩm tra viên, Kiểm tra viên, Thanh tra viên, Chuyên viên cao cấp:
+ Quyết định bổ nhiệm chức danh.
+ Nếu có, các thẻ chứng nhận chức vụ.
+ Kèm theo giấy tờ chứng minh đã có thời gian làm công việc trong lĩnh vực pháp luật từ 05 năm trở lên.
- Giấy tờ khác:
Các giấy tờ khác chứng minh là người được miễn đào tạo nghề Thừa phát lại: Các giấy tờ khác do cơ quan có thẩm quyền cấp phát, chứng minh năng lực và kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực pháp luật.
Các giấy tờ này sẽ là cơ sở để người đó được miễn thực hiện chương trình đào tạo nghề Thừa phát lại theo quy định.
Bài viết liên quan: Thừa phát lại lập vi bằng với “mua bán nhà đất giấy tờ tay” có được không?
Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!