1. Lịch sử hình thành khái niệm thừa phát lại

Thừa phát lại là những công lại do luật pháp giao cho các việc truyền phiếu, các việc biên chép, chuyển đưa các giấy tờ thuộc về tư pháp hoặc ngoại tư pháp, các việc thi hành bản án, các công văn và các công việc nội bộ trong các Toà án. Nếu được triệu dụng, thừa phát lại bắt buộc phải thi hành nhiệm vụ của mình, bất luận người triệu dụng là ai, trừ khi người đó là thân thuộc hay thích thuộc về trực hệ, về bàng hệ cho đến hạng cháu chú, cháu bác, cháu cô... Thừa phát lại nào phạm vào các điều ấn định nói trên hoặc từ chối không làm phận sự trong một thủ tục do công tố viên yêu cầu, hoặc không làm phần việc mà phải làm ở Toà án họ tuỳ thuộc hoặc đã có lệnh của Chánh án truyền làm mà vẫn thoái thác không chịu làm, sẽ bị triệt hồi, chưa kể đến những sự bồi thường thiệt hại hoặc những sự trừng phạt khác do đó có thể sinh ra Chế định thừa phát lại được quy định trong các Bộ dân luật ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc trước năm 1945 đều theo mô hình thừa phát lại của Pháp với các tên gọi khác nhau như “thừa phát lại, 'trưởng toà”, “mõ toà" nhưng đều có nguồn gốc từ tiếng Pháp là “Huissier” có nghĩa là gác cửa, trưởng toà.

Theo đó hoạt động của thừa phát lại bao gồm:

1) Trước khi xét xử thừa phát lại được lập các vi bằng, biên bản; tống đạt các thư mời, giấy triệu tập;

2) Trong khi xét xử thừa phát lại có nhiệm vụ báo tin toà đăng đường, toà bế mạc; truyền đạt việc gọi tên các đương sự, người làm chứng, chuyển chứng cứ, giữ gìn trật tự phiên toà;

3) Sau khi xét xử thừa phát lại tống đạt các giấy tờ đốc thúc thi hành án; lập các chứng thư thi hành các nội dung bản án đã tuyên về trục xuất, phát mại tài sản, trả nợ:..

Thừa phát lại được bổ nhiệm và là công lại, nhiệm lại, nhưng không phải là công chức hưởng lương Nhà nước. Thừa phát lại được tổ chức và hoạt động theo quản hạt Toà án, Nhiệm vụ của thừa phát lại rất rộng không chỉ thi hành các bản án có nghĩa là công việc sau xét xử mà còn thực hiện các công việc trước và trong xét xử.

2. Thừa phát lại là ai?

Thừa phát lại là người có đủ tiêu chuẩn được Nhà nước bổ nhiệm để thực hiện tống đạt, lập vi bằng, xác minh điều kiện thi hành án dân sự, tổ chức thi hành án dân sự theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan; trong đó:

- Tống đạt là việc thông báo, giao nhận giấy tờ, hồ sơ, tài liệu do Thừa phát lại thực hiện theo quy định của pháp luật;

- Vi bằng là văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi có thật do Thừa phát lại trực tiếp chứng kiến, lập theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định

2. Thừa phát lại theo quy định hiện nay

Để thực hiện xã hội hoá thi hành án dân sự, một số nước trên thế giới lựa chọn mô hình tổ chức thi hành án tư nhân hành nghề theo quy chế thừa phát lại. Tổ chức thừa phát lại là tổ chức tư nhân được thành lập theo quy định của pháp luật để thực hiện một số công việc về thi hành án dân sự. Tổ chức thừa theo loại hình doanh nghiệp tư nhân. Văn phòng thừa phát lại do 02 thừa phát lại trở lên thành lập được tổ chức theo loại hình công ti hợp danh. Văn phòng thừa phát lại có thể có thừa phát lại là thành viên hợp danh, thừa phát lại làm việc theo chế độ hợp đồng lao động và thư kí nghiệp vụ. Văn phòng thừa phát lại có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính.

Theo các quy định từ Điều 32 đến Điều 58 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP thì thừa phát lại được thực hiện một số công việc về thi hành án dân sự như sau:

- Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của tòa án, viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự; giấy tờ, hồ sơ, tài liệu có liên quan đến tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài ... Văn phòng thừa phát lại phải chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức yêu câu về việc tổng đạt thiếu chính xác, không đúng thủ tục, không đúng thời hạn của mình; bồi thường thiệt hại (nếu có) theo quy định của pháp luật. Thừa phát lại tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của tòa án, viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính, việc dân sự trong vụ án hình sự và khiếu nại, tố cáo; tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn cấp tỉnh nơi vãn phòng thừa phát lại đặt trụ sở theo hợp đồng dịch vụ tống đạt được kí kêt giữa vãn phòng thừa phát lại với tòa án, viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự. Trường hợp tống đạt ngoài địa bàn cấp tỉnh hoặc ở vùng đảo, quần đảo ngoài địa bàn cấp huyện nơi văn phòng thừa phát lại đặt trụ sở thì văn phòng thừa phát lại có thể thỏa thuận với tòa án, viện kiểm sát nhân dân, cơ quan Thi hành

- Xác minh điều kiện thi hành án:

Thừa phát lại có quyền xác minh điều kiện thi hành án mà vụ việc đó thuộc thẩm quyền thi hành cùa các cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn cấp tỉnh nơi văn phòng thừa phát lại đặt trụ sở. Khi thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án, thừa phát lại có quyền xác minh ngoài địa bàn cấp tỉnh nơi văn phòng thừa phát lại đặt trụ sở.

Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án có quyền thỏa thuận với văn phòng thừa phát lại về việc xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án kể cả trong trường hợp vụ việc đó đang do cơ quan thi hành án dân sự trực tiếp tổ chức thi hành. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày kí kết hợp đồng dịch vụ, trường văn phòng thừa phát lại phải ra quyết định xác minh điều kiện thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Quyết định xác minh phải ghi rõ căn cứ, nội dung xác minh và được ghi vào sổ xác minh điều kiện thi hành án được lập theo mẫu do Bộ trưởng Bộ tư pháp quy định. Quyết định xác minh phải được gửi cho viện kiểm sát nhân dân .cấp huyện nơi văn phòng thừa phát lại đặt trụ sở và cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự. Việc xác minh điều kiện thi hành án được thực hiện trực tiếp hoặc bằng văn bản đề nghị cở quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền từ chối cung cấp thông tin ưong các trường hợp: Vụ việc không thuộc thẩm quyền xác minh của thừa phát lại; đề nghị cung cấp thông tin về cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là người có nghĩa vụ thi hành án thuộc thẩm quyền xác minh của thừa phát lại; hồ sơ đề nghị

- Tổ chức thi hành bản án, quyết định theo yêu cầu của đương sự. Thừa phát lại được quyền tổ chức thi hành án theo yêu cầu của đương sự đối với các bản án, quyết định sau đây:

+ Bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật của tòa án nhân dân cấp huyện; bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật của tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi văn phòng thừa phát lại đặt trụ sở;

+ Bản án, quyết định phúc thẩm của tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi văn phòng thừa phát lại đặt trụ sở đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của tòa án nhân dân cấp huyện; bản án, quyết định phúc thẳm của tòa án nhân dân cấp cao đối với bàn án, quyết định sơ thẩm, chưa có hiệu lực pháp luật của tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi văn phòng thừa phát lại đặt trụ sở;

+ Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của tòa án nhân dân cấp cao đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án nhân dân cấp huyện, tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi văn phòng thừa phát lại đặt trụ sở.

Thừa phát lại không tổ chức thi hành phần bản án, quyết định thuộc diện thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật thi hành án dân sự năm 2014:

3. Nhiệm vụ, quyền hạn của thừa phát lại

Để thực hiện triệt để chủ trương xã hội hoá thi hành án mà Đảng và Nhà nước đã đề ra và bảo đảm cho hoạt động của thừa phát lại có hiệu quả, Điều 52 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định, khi tổ chức thi hành án, thừa phát lại có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

- Sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi thi hành công vụ theo quy định tại khoản 9 Điều 20 Luật thi hành án dân sự;

+ Xử phạt vi phạm hành chính;

+ Yêu cầu tòa án xác định, phân chia, xử lí tài sản chung để thi hành án theo quy định tại Điều 74 Luật thi hành án dân sự;

+ Yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật thi hành án dân sự;

- Các quyền yêu cầu tòa án xác định người có quyền sở hữu, sử dụng tài sản, giấy tờ tạm giữ; xác định quyền sở hữu, sử dụng tài sản để thi hành án, giải quyết tranh chấp tài sản; yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sân; giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản theo quy định tại khoản 4 Điều 68, khoản 3 Điều 69 và khoản 2 Điều 102 Luật thi hành án dân sự.

Về cùng nội dung yêu cầu, cùng thời điểm, người yêu cầu chỉ có quyền làm đơn yêu cầu một văn phòng thừa phát lại hoặc một cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án. Trường hợp người được thi hành án được thi hành nhiều khoản khác nhau trong cùng bản án, quyết định do một người có nghĩa vụ thi hành thì cùng thời điểm, người được thi hành án chỉ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự hoặc một văn phòng thừa phát lại tổ chức thi hành. Nếu các khoản được thi hành do nhiều người khác nhau có nghĩa vụ thi hành thi người được thi hành án có quyền đồng thời yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thừa phát lại thi hành riêng đối với từng khoản. Trong cùng bản án, quyết định có nhiều người được thi hành án mà trong đó có người yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành, có người yêu cầu văn phòng thừa phát lại tổ chức thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự và văn phòng

- Đối với các vụ việc đang do văn phòng thừa phát lại tổ chức thi hành nhưng sau đó đương sự có văn bản yêu cầu không tiếp tục thi hành án và chấm dứt hợp đồng với văn phòng thừa phát ỉại thì người được Thi hành án có thể yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự, vãn phòng thừa phát lại khác có thẩm quyền tiếp tục tổ chức thi hành, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản này;

- Yêu càu thi hành án mới của đương sự phải nêu rõ kết quả thi hành án trước đó; những nội dung yêu cầu tổ chức thi hành án tiếp và thông tin, tài liệu có liên quan đến nội dung yêu cầu. Trình tự, thủ tục, kết quả quá trình thi hành án trước đó nếu thực hiện đúng quy định của pháp luật vẫn có giá trị pháp lí, được công nhận và được sử dụng làm căn cứ để tiếp tục tổ chức thi hành án.

Thi hành án dân sự là hoạt động đặc thù, có sử dụng quyền lực tư pháp thông qua việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án đối với những vụ việc người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án. Tuy nhiên, trường hợp phải áp dụng các biện pháp bào đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự thì thừa phát lại chấm dứt Thi hành án và phải thông báo cho chi cục thi hành án dân sự hoặc cục thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án về việc chấm dứt thi hành án.

- Lập vi bằng phát lại trực tiếp chứng kiến, lập theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo các quy định từ Điều 36 đến Điều 41 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP. Hoạt động lập vi bằng của thừa phát công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân đang thi hành công vụ; ghi nhận sự kiện, hành vi không do thừa phát lại trực tiếp chứng kiến; các trường họp khác theo quy định của pháp luật.

Vi bằng là văn bàn ghi nhận sự kiện, hành vi có thật do thừa phát lại lập.

Khi thực hiện việc thi hành án, thừa phát lại phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, quy chế tổ chức, hoạt động và đạo đức nghề nghiệp, chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện công việc của mình. Thừa phát lại là người trực tiếp thực hiện việc thi hành án dân sự, hoạt động của họ ảnh hường trực tiếp đến uy tín của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân cho nên chi những người có đủ tiêu chuẩn mới được bổ nhiệm làm thừa phát lại. Theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, để được bổ nhiệm làm thừa phát lại thì phải có đủ các tiêu chuẩn sau: Là công dân Việt Nam không quá 65 tuổi, thường trú tại Việt Nam, chấp hành tốt Hiển pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt; có bằng tốt nghiệp đại học hoặc sau đại học chuyên ngành luật; có thời gian công tác pháp luật từ 03 năm trờ lên tại các cơ quan, tổ chức sau khi đã có bằng tốt nghiệp đại học hoặc sau đại học chuyên ngành luật; tốt nghiệp khóa đào tạo, được công nhận tương đương đào tạo hoặc hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề tthừa phát lại quy định tại Điều 7 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP; đạt yêu cầu kiểm fra kết quà tập sự hành nghề thừa phát lại. Miễn đào tạo nghề thừa phát lại đối với người đã có thời gian làm thẩm phán, kiểm sát viên, chấp hành viên, điều tra viên từ 05 năm trở lên; luật sư, công chứng viên đã hành nghề từ 05 năm trở lên; giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sĩ luật; người đã là thẩm tra viên chính, thẩm tra viên cao cấp ngành tòa án, kiểm tra viên quy định trong trường hợp các đương sự không thoả thuận được giá của tài sản thì việc định giá sẽ do tổ chức thẩm định giá thực hiện theo quy định của Luật thi hành án dân sự và Luật đấu giá tài sản năm 2016.

Ngoài các cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia Thi hành án dân sự nêu trên, trong quá trình thi hành án dân sự còn có sự tham gia của các cơ quan, tổ chức và cá nhân khác như cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm khấu trừ tài sản, thu nhập của người phải thi hành án, kho bạc nhà nước, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, bảo hiểm xã hội, cơ quan đãng kí tài sản, đăng kí giao dịch bảo đảm trong thi hành án dân sự, người chứng kiến việc kê biên tài sản, người được giao giữ tài sản kê biên ... Việc tham gia thi hành án dân sự của các cá nhân này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong thi hành án dân sự và giúp cho cơ quan thi hành án dân sự thực hiện việc thi hành án dân sự có hiệu quả hơn. Tuỳ theo từng vụ việc thi hành án dân sự cụ thể, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình, các cơ quan, tổ chức và cá nhân này có trách nhiệm phối hợp và thực hiện các quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự và chấp hành viên. Trong trường hợp các cơ quan, tổ chức và cá nhân này không thực hiện các yêu cầu của chấp hành viên về cung cấp thông tin, chuyển giao giấy tờ liên quan đến tài sản bị xử ỉỉ thi hành án, không chấp hành quyết định của chấp hành viên về việc khấu trừ tài khoản, tài sản, trừ vào thu nhập, thu hồi giấy tờ có giá của người phải thi hành án thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự. Hiện nay, quyền và nghĩa vụ thi hành án dân sự của các cơ quan, tổ chức này đã được quy định tại các điều 67, 68,69,76, 78,82, 88,100, 143, 162... Luật thi hành án dân sự.

4. Thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm Thừa phát lại

Trên cơ sở đề nghị của Giám đốc Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm những người có tiêu chuẩn như sau làm Thừa phát lại: Là công dân Việt Nam, có sức khỏe, có phẩm chất đạo đức tốt; không có tiền án; có bằng cử nhân luật; đã công tác trong ngành pháp luật trên 05 năm hoặc đã từng là Thẩm phấn, Kiểm sát viên, Luật sư; Chấp hành viên, Công chứng viên, Điều tra viên từ Trung cấp trở lên; có chứng chỉ hoàn thành lớp tập huấn về nghề Thừa phát lại do Bộ Tư pháp tổ chức; không kiêm nhiệm hành nghề Công chứng, Luật sư và những công việc khác theo quy định của pháp luật. Người được bổ nhiệm làm Thừa phát lại được Bộ Tư pháp cấp thẻ Thừa phát lại.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp tự mình hoặc theo đề nghị của Sở Tư pháp thành phố Hồ Chí Minh quyết định miễn nhiệm Thừa phát lại theo nguyện vọng của cá nhân Thừa phát lại hoặc miễn nhiệm trong các trường hợp sau: không còn đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 10 của Nghị định 61/2009/NĐ-CP; hoặc bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; hoặc không hành nghề Thừa phát lại kể từ ngày được bổ nhiệm từ 6 tháng trở lên, trừ trường hợp có lý do chính đáng; hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính đến lần thứ hai trong hoạt động hành nghề Thừa phát lại mà còn tiếp tục vi phạm hoặc bị xử lý vi phạm bằng hình thức cảnh cáo trở lên đến lần thứ hai mà còn tiếp tục vi phạm; hoặc bị kết tội bằng bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.hi

5. Chi phí thực hiện công việc Thừa phát lại

Thứ ba, về chi phí thực hiện công việc của thừa phát lại: Thừa phát lại được thu chi phí khi thực hiện công việc theo quy định tại Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 12/2010/TTLT-BTP-TANDTC-BTC. Cụ thể như sau:

1.Chi phí lập vi bằng và xác minh điều kiện thi hành án: do người yêu cầu và văn phòng Thừa phát lại thỏa thuận theo công việc thực hiện hoặc theo giờ làm việc. Văn phòng Thừa phát lại và người yêu cầu có thể thỏa thuận thêm về các khoản chi phí thực tế phát sinh gồm: chi phí đi lại; phí dịch vụ cho các cơ quan cung cấp thông tin nếu có; tiền bồi dưỡng người làm chứng, người tham gia hoặc chi phí khác nếu có.

2. Chi phí tống đạt: Đối với việc tống đạt mà theo quy định của pháp luật đương sự phải chịu chi phí thì Tòa án, Cơ quan thi hành án dân sự thu và chuyển số tiền đó cho văn phòng Thừa phát lại. Đối với việc tống đạt mà theo quy định của pháp luật ngân sách nhà nước chịu thì Tòa án, Cơ quan thi hành án dân sự chuyển cho văn phòng Thừa phát lại.

Thông tư liên tịch số 12/2010/TTLT-BTP-TANDTC-BTC quy định: Tòa án, Cơ quan thi hành án dân sự thỏa thuận với Văn phòng Thừa phát lại về chi phí tống đạt theo mức, trong phạm vi quận, huyện nơi đặt trụ sở Tòa án, Cơ quan thi hành án dân sự không quá 50.000 đồng/việc (bao gồm cả thuế giá trị gia tăng); ngoài phạm vi quận, huyện nơi đặt trụ sở Tòa án, Cơ quan thi hành án dân sự, nhưng trong địa bàn thành phố Hồ Chí Minh không quá 100.000 đồng/việc (bao gồm cả thuế giá trị gia tăng). Trường hợp giao Thừa phát lại tống đạt ngoài địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thì Tòa án, Cơ quan thi hành án dân sự phải xác định thời gian cụ thể để ký hợp đồng với Văn phòng Thừa phát lại thực hiện việc tống đạt. Mức chi phí để thỏa thuận với Thừa phát lại tống đạt trong trường hợp này bao gồm: Tiền tàu xe đi, về bằng phương tiện giao thông công cộng (trừ phương tiện máy bay); tiền phòng nghỉ không quá 130.000 đồng/01 ngày; tiền lưu trú không quá 70.000 đồng/01 người/01ngày (bao gồm cả thuế giá trị gia tăng).

3. Chi phí trực tiếp tổ chức thi hành án: Văn phòng Thừa phát lại được thu chi phí theo mức phí thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật về phí thi hành án dân sự.Những vụ việc phức tạp, văn phòng Thừa phát lại và bên yêu cầu thi hành án có thể thỏa thuận về mức chi phí thực hiện công việc

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật dân sự, luật thi hành án dân sự về thừa phát lại. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến. Đội ngũ luật sư luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc của Bạn.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê