1. Hợp đồng tặng cho tài sản là gì?

Tặng cho tài sản được thực hiện thông qua hợp đồng tặng cho tài sản. Khoa học pháp lý xếp tặng cho tài sản là một loại hợp đồng thông dụng, có đặc điểm riêng biệt so với những loại hợp đồng thông dụng khác.

Trong các hợp đồng thông dụng, tặng cho tài sản là một hợp đồng có những đặc điểm riêng biệt... Tặng cho tài sản làm phát sinh quan hệ hợp đồng khi bên được tặng, cho nhận tài sản. Hợp đồng tặng cho là hợp đồng thực tế, sau khi các bên đã thoả thuận về việc tặng cho mà chưa chuyển giao tài sản, không làm phát sinh quyền của các bên. Vì vậy, hợp đồng được coi là kí kết khi các bên chuyển giao tài sản. Thời điểm chuyển tài sản cũng đồng thời là thời điểm chấm dứt hợp đồng (đối với động sản). Điều 457 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

“Điều 457. Hợp đồng tặng cho tài sản

Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận.”

Hợp đồng tặng cho tài sản là hợp đồng không có đền bù. Đặc điểm này được thể hiện ở việc một bên chuyển giao tài sản và quyền sở hữu tài sản cho bên được tặng cho còn bên được tặng cho không có nghĩa vụ trả lại bên tặng cho bất kì lợi ích nào.

Hợp đồng tặng cho tài sản là hợp đồng thực tế. Khi bên được tặng cho nhận tài sản thì quyền của các bên mới phát sinh. Do vậy. mọi thỏa thuận chưa có hiệu lực khi chưa giao tài sản.

2. Tặng cho quyền sử dụng đất

Một khi mà bản chất của quyền sử dụng đất chưa rõ ràng thì bản chất của tặng cho quyền sử dụng đất cũng chưa được làm rõ. Dưới góc độ của Luật đất đai, tặng cho quyền sử dụng đất là một quyền tài sản trong giao lưu dân sự, kinh tê của thị trường bất động sản, Dưới góc độ Luật dân sự, tặng cho quyền sử dụng đất là một loại quyền khác ngoài quyền sở hữu. Quyền tặng cho quyền sử dụng đất là một vật quyền, quyền năng của nó không chỉ do pháp luật xác định mà còn được xác định do ý chí của chủ sở hữu là Nhà nước, nên nó bị hạn chế hơn so với quyền sở hữu.

Về lý luận, nếu đất đai thuộc sở hữu của Nhà nước, có nghĩa là, “tài sản thuộc sở hữu nhà nước (tài sản công) thì việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc phạm vi điều chỉnh của văn bản khác mà không phải do Bộ luật dân sự điều chỉnh”. Theo quy định của Luật đất đai hiện hành thì người sử dụng đất chỉ có quyền sử dụng đất như là một quyền năng của chủ sỏ hữu, đối tượng sử dụng là quyền sử dụng đất là một quyền tài sản trị giá được thành tiền. Quan điểm này là hợp lý vì: “Luật hợp đồng thuộc lĩnh vực luật tư và mang tính điển hình bởi Nhà nước đặt ra, nhằm hướng dẫn, hỗ trợ và bảo vệ cho các quyền lợi của tư nhân và chỉ giới hạn các quyền lợi này”. Do đó, bản chất của tặng cho quyển sử dụng đất là tặng cho quyền tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước, nên quan hệ tặng cho quyền sử dụng đất chỉ do Luật đất đai đều chỉnh, theo quy định của pháp luật hiện hành thì Luật đất đai chỉ quy định nội dung của quyền tặng cho quyền sử dụng đất, còn Bộ luật dân sự quy định hình thức thực hiện quyển tặng cho quyền sử dụng đất thông qua giao dịch là hợp đồng là một bất cập.

Trên thực tế, khi Nhà, nước giao quyền sử dụng đất cho ngưòi sử dụng đất có nghĩa là, Nhà nước giao cho họ một mảnh đất cụ thể theo diện tích đất, thửa đất có vị trí và ranh giới xác định. Người sử dụng đất được sử dụng mảnh đất đó như tài sản của mình, Nhà nước trao cho họ cả quyền định đoạt mảnh đất đó như chuyển nhượng hay tặng cho mảnh đất đó cho người sử dụng đất khác. Do đó, bản chất của tặng cho quyền sử dụng đất trên thực tế là tặng cho đất. Nhà nước chỉ giữ vai trò của chủ sở hữu là giám sát, quản lý việc tặng cho đất mà thôi.

3. Tặng cho tài sản có điều kiện là gì?

Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận. Tặng cho tài sản có điều kiện cho phép Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Về tặng cho tài sản có điều kiện. Điều 462 Bộ luật Dân sự (BLDS) quy định như sau:

“1. Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện.

3. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện nghĩa vụ, thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.”

4. Đặc điểm pháp lý của hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện

Vấn đề 1: Bên tặng cho tài sản và bên được tặng cho tài sản phải là người có năng lực pháp luật dân sự và có năng lực hành vi dân sự.

Vấn đề 2: Bên tặng cho tài sản và bên được tặng cho tài sản hoàn toàn tự nguyện.

Vấn đề 3: Thực hiện nghĩa vụ là nghĩa vụ dân sự mà bên được tặng cho phải làm theo yêu cầu của bên tặng cho như là chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá thực hiện một công việc hoặc không thực hiện một công việc nhất định.

Vấn đề 4: Điều kiện tặng cho tài sản là những điều cần thiết mà bên tặng cho tài sản cần đạt được. Các điều kiện đó là nghĩa vụ mà bên được tặng cho tài sản phải thực hiện.

Vấn đề 5: Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện. Trong Điều 462 BLDS quy định về tặng cho tài sản có điều kiện không quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện. Tại khoản 2 của Điều 462 BLDS chỉ quy định “Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản, thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện.” Quy định này là chung chung, không xác định được thời điểm có hiệu lực của hợp đồng và trước hợp có một bên vi phạm hợp đồng thì khó xác định thời điểm vi phạm hợp đồng và việc tặng cho tài sản có điều kiện có phải tuân theo quy định tại Điều 458 (về tặng cho động sản) và quy định tại Điều 459 BLDS (về tặng cho bất động sản) hay không cũng là vấn đề cần được quan tâm.

5. Các trường hợp tặng cho quyền sử dụng đất có điểu kiện

5.1. Tặng cho quyền sử dụng đất có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng:

Tặng cho quyền sử dụng đất có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng là trường hợp cha mẹ hay người thân thuộc lập hợp đồng tặng cho con, cháu quyền sử dụng đất với điều kiện người con, cháu đó phải có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, người thân thuộc đến hết đồi. Tuy pháp luật cho phép khi người con, cháu không thực hiện nghĩa vụ, thì cha mẹ có quyền đòi lại quyền sử dụng đất (khoản 3 Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2005). Trên thực tế, người con, cháu đã thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, người thân thuộc nhưng có thể là thực hiện chưa tốt, chưa đầy đủ hoặc thực hiện tốt, nhưng cha mẹ cho rằng người con không làm tròn nghĩa vụ, nên yêu cầu Tòa án hủy bỏ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất để lấy lại đất. Về mặt pháp lý, việc tặng cho đã hoàn thành, người con, cháu đã đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; về mặt thực tế, người con, cháu đã nhận đất sử dụng; song các căn cứ để xác định đã thực hiện nghĩa vụ lại chưa có quy định. Chúng tôi xin nêu ví dụ cụ thể như sau:

Cụ Võ Thị Ch. được thừa hưởng của gia tộc một số đất gồm: 1.237m2 đất ở, trên đất có 01 căn nhà tạm 104,2m2 thuộc thửa 92; diện tích 2.180m2 đất nông nghiệp tại thửa 146, cùng tờ bản đồ số 23, xã Long Phước và diện tích 6.241m2 đất nông nghiệp trồng lúa, tờ bản đồ số 24, xã Long Tân, huyện Đ., tỉnh B.v, gộm 05 thửa: 532, 533, 534, 535, 559.

Ngày 13-3-1992, cụ Ch. lập “Tờ chúc ngôn và phân chia điền, thổ, nhà cửa” cho các người con của cụ là bà Nguyễn Thị Ng., bà Nguyễn Thị V. và ông Nguyễn Văn H., có nội dung viêt “Tôi bằng lòng cho bà Ng., bà V. ruộng ở Long Tân và đất gò ở ấp Đông, riêng đất thổ cư và cái nhà tôn thì cho đứt bà Ng. trọn quyền sử dụng sau khi tôi chết. Tôi cho đứt bà Ng. phần tài sản nói trên trọn quyền sử dụng lo phần phụng dưỡng tôi lúc tuổi già”, có xác nhận của ủy ban nhân dân xã Long Phưốc vối nội dung là “Tờ chúc ngôn phân chia tài sản của cụ Ch. kính chuyển Phòng Công chứng huyện Châu Thành”. Tuy hình thức “Tờ chúc ngôn và phân chia điền thổ, nhà cửa” không phải là hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, nhưng nội dung chính là một hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.

Thực tế, bà V. canh tác 02 thửa 534, 535 tò bản đồ số 24 xã Long Tân và sử dụng 343m2 đất tại thửa 92, tờ bản đồ số 23, xã Long Phước để cất nhà ở, các diện tích đất còn lại bà Ng. trực tiếp canh tác sử dụng. Năm 1993 và 1998, bà Ng. kê khai đăng ký nộp thuế đất cho Nhà nước. Ngày 12-10-1998, ủy ban nhân dân thị xã B. cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Ng. diện tích đất 1.237m2 thửa 92 và 2.180m2 thửa 146 tờ bản đồ số 23, xã Long Phước. Ngày 14-3-2001, ủy ban nhân dân huyện L.Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Ng. diện tích 4.856m2 gồm thửa 532, 533, 559 tờ bản đồ số 24, xã Long Tân. Nay cụ Ch. khởi kiện cho rằng do bà Ng. không thực hiện đúng nghĩa vụ nuôi dưỡng cụ nên cụ yêu cầu bà Ng. giao trả lại toàn bộ đất bà Ng. đang canh tác và đề nghị huỷ 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Ng..

Bà Ng. cho rằng: Ngày 13-3-1992, cụ Ch. đã lập “Tờ chúc ngôn” để lại căn nhà và toàn bộ diện tích đất trên cho bà để bà canh tác thu hoa lợi nuôi dưỡng cụ Ch. khi còn sống bà cúng giỗ khi cụ Ch. qua đời. Sau đó, bà đã trực tiếp nhận đất canh tác, đi kê khai đăng ký và đã được Nhà nưổc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo yêu cầu của cụ Ch.. Bà cũng đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nuôi dưỡng cụ Ch., cụ thể: Mỗi tháng đóng cho cụ Ch. 10 kg gạo, cho một số người như ông B., bà Ng. thuê một phần đất tại thửa 92 để lấy tiền mua thức ăn cho cụ Ch.. Do điều kiện bà ở xa, nên không trực tiếp ở với cụ Ch. mà chỉ thường xuyên thăm hỏi cụ. Vì vậy, bà không đồng ý trả lại đất cụ Ch. đã chia cho bà.

Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm không công nhận việc tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Ch. vối bà Ng., buộc bà Ng. phải giao trả đất cho cụ Ch.; huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của úy ban nhân dân huyện L.Đ và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ủy ban nhân dân thị xã B. cấp cho bà Ng. (Bản án dân sự sơ thẩm số 35/DSST ngày 05-5-2005, Tòa án nhân dân thị xã B. và bản án dân sự phúc thẩm số 65/2005/DSPT ngày 23- 7-2005, Tòa án nhân dân tĩnh B.V).

Nhận xét về vụ án: “Tờ chúc ngôn và phân chia điền, thổ, nhà cửa” lập ngày 13-3-1992 của cụ Ch. tuy nội dung tờ chúc ngôn không rõ ràng như: Nội dung “Tờ chúc ngôn” viết thì chỉ chia đất cho bà V. và bà Ng., nhưng ỏ sơ đồ vẽ phần đất gò (thửa 146) và phần đất (thửa 92) thì có chia cho ông H. Nội dung có phần thì viết “bằng lòng cho bà Ng., bà V. ruộng ở Long Tân và đất gò ở ấp Đông” riêng “đất thổ cư và cái nhà tôn thì cho đứt bà Ng. trọn quyền sử dụng sau khi tôi chết”. Nhưng câu kết của tờ chúc ngôn thì ghi “tôi cho đứt bà Ng phần tài sản nói trên trọn quyền sử dụng lo phần phụng dưỡng tôi lúc tuổi già”. Như vậy, có thể xác định theo “Tờ chúc ngôn” này thì cụ Ch. tặng cho bà Ng. căn nhà nằm trên diện tích 1.237m2 thửa 92 xã Long Phước có điều kiện là bà Ng. có nghĩa vụ phụng dưỡng cụ Ch. lúc tuổi già. Thực tế, bà Ng. vẫn thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng cụ Ch., từ năm 1992 bà Ng. đã sử dụng đất, đóng thuế, đăng ký kê khai và được cấp Giấy chứng nhận quyển sử dụng đất. Song Toà án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm đã không công nhận việc tặng cho quyền sử dụng đất giữa cụ Ch. vối bà Ng., mà đều xử hủy Giấy chứng nhận quyển sử dụng đất của ủy ban nhân dân huyện L.Đ và ủy ban nhân dân thị xã B. cấp cho bà Ng. là không phù hợp với thực tế, vì cụ Ch. đã tuổi cao, sức yếu không còn khả năng canh tác trên đất; căn cứ vào tiêu chí nào để xác định bà Ng. không làm tròn nghĩa vụ nuôi dưỡng đối với cụ Ch.

Như vậy, tặng cho quyền sử dụng đất có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, nếu người con, cháu không thực hiện nghĩa vụ, thì cha mẹ có quyền đòi lại quyền sử dụng đất; cần phải có căn cứ xác định đã thực hiện hay chưa thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng mới có cơ sở để hủy hợp đồng.

5.2. Tặng cho quyền sử dụng đất có điều kiện thờ cúng, hương hỏa:

Thờ cúng ông bà, tổ tiên là một tập quán, truyền thống của dân tộc được truyền từ đời này sang đời khác, một tục lệ có ý nghĩa thiêng liêng, trên nguyên tắc tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân. Pháp luật cho phép người lập di chúc có quyền để lại một phần di sản của mình để dùng vào việc thờ cúng; phần di sản đó không được đem chia thừa kế mà được giao cho một người quản lý được chỉ định trong di chúc để thực hiện việc thờ cúng; người quản lý không được sử dụng tài sản vào mục đích riêng của mình, không có quyển định đoạt tài sản này; nếu người quản lý di sản dùng vào việc thò cúng không có điều kiện quản lý tài sản, hoặc không thực hiện đúng di chúc hay không theo thoả thuận của những người thừa kế, thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng. Song pháp luật lại chưa có quy định một người có tài sản có quyền dành một phần tài sản của mình để dùng vào việc thờ cúng, phần tài sản này được người có tài sản giao cho một người quản lý (thường là người trong gia tộc) để dùng vào việc thờ cúng. Tài sản này tuy được dùng vào việc thờ cúng, nhưng bản chất lại khác với di sản dùng vào việc thờ cúng như đã nêu trên vì người có tài sản chuyển giao quyển tài sản cho người quản lý khi họ đang còn sông.

Tặng cho quyền sử dụng đất có điều kiện thò cúng, hương hỏa là việc ông bà, cha mẹ dành một phần đất thuộc quyển sử dụng đất của mình để xây nhà thờ họ hay làm đất hương hỏa, thu hoa lợi dùng vào việc thờ cúng; do tuổi cao, sức yếu các cụ đã giao cho con, châu thường là trưởng nam quản lý. Luật đất đai hiện hành chính thức thừa nhận quyền sử dụng đất mà trên đất có nhà thò họ là của cộng đồng dân cư và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sỏ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sẽ được cấp cho cộng đồng dân cư trao cho người đại diện (Điều 13 và Điều 48 Luật đất đai hiện hành). Có nghĩa là người quản lý nhà thờ họ, đất hương hỏa có thể đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hay Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng nhà đất đó vẫn thuộc quyển sở hữu và quyền sử dụng chung của cộng đồng họ tộc, người đứng tên chỉ là đại diện cho họ tộc trưốc pháp luật, không có quyền định đoạt nhà thờ họ, đất hương hỏa. Nhưng Tòa án lại căn cứ vào Giấy chứng nhận quyển sở hữu nhà ở và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho người đang quản lý để công nhận quyền sở hữu và quyền sử dụng đất cho người đó. Mặt khác, pháp luật gián tiếp cho phép người phải thực hiện nghĩa vụ thờ cúng, hương hỏa mà không thực hiện nghĩa vụ theo đúng ý nguyện của người giao quản lý, thì người giao nhà thò họ, đất hương hỏa có quyền đòi lại (khoản 3 Điều 462, khoản 1 Điều 645 Bộ luật dân sự năm 2015), nên một số người trong họ tộc đòi trả lại nhà thờ họ, đất hương hỏa vì cho rằng người đang quản lý không thực hiện nghĩa vụ thờ cúng, hương hỏa. Xin nêu ví dụ cụ thể sau:

Nhà thờ của chi họ Nguyễn ở thôn Đại Đình, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh B.N trên diện tích đất là 170m2 do ông Nguyễn Đình V. làm trưởng họ đã đứng tên quản lý. Năm 1984, ông V. đã giao cho anh Nguyễn Đình T. (con trai) tiếp tục quản lý. Tháng 01-2003, anh T. đã xây một ngôi nhà hai tầng của gia đình trên diện tích đất của nhà thờ họ. Do đó, chi họ Nguyễn đã cử ông Nguyễn Đình s. và anh Nguyễn Đình M. đại diện cho chi họ khởi kiện yêu cầu anh T. trả lại nhà thò họ cùng diện tích đất cho chi họ.

Anh T. cũng thừa nhận nhà thờ là của chi họ Nguyễn để thờ cúng tổ tiên; trong quá trình quản lý, anh đã sửa chữa nhà thờ như lát lại nền nhà, thay hoành phi, thay cửa. Nhưng anh T. cho rằng việc khởi kiện của chi họ không có sự ủy quyền của tất cả các thành viên trong chi họ là không đủ tư cách khởi kiện. Đồng thời, cha của anh đã giao cho anh quản lý nhà thờ từ năm 1984 đến nay, anh luôn làm tròn nghĩa vụ thờ cúng tô tiên, nên anh không đồng ý với yêu cầu của chi họ Nguyễn do ông s. và anh M. đại diện.

Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm xác nhận ngôi nhà ba gian cấp bốn trên diện tích đất 170m2 ở thôn Đại Đình thuộc quyền sở hữu của chi họ Nguyễn, chi họ Nguyễn do ông s. và anh M. (đại diện) phải trích trả công sức sửa chữa nhà thờ cho anh T. là 9.000.000đ; buộc anh T. phải dỡ bỏ nhà 2 tầng diện tích 46,2m2 xây dựng trái phép trên đất của chi họ Ng. (Bản án sơ thẩm số 08/DSST ngày 22- 08-2003 của Toà án nhân dân huyện TS và bản án phúc thẩm số 62 ngày 24-12-2003 của Toà án nhân dân tỉnh BA).

Sau khi xét xử phúc thẩm, ngày 12-8-2005 Cơ quan thi hành án huyện TS, tỉnh B.N để nghị Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại vụ án. Do đó, bản án phúc thẩm nêu trên bị Chánh án Tòa án nhân dân tôì cao kháng nghị và Tòa dân sự Tòa án nhân dân tôì cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm; giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo hướng buộc anh T. phải trả nhà thờ; giữ nguyên hiện trạng, không phải phá nhà hai tầng của anh T., mà yêu cầu chi họ Nguyễn sử dụng nhà và thanh toán giá trị cho anh T. (Quyết định kháng nghị số 191/2006/KN-DS ngày 01-11-2006, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Quyết định giám đốc thẩm số 04/2007/GĐT-DS ngày 19-01- 2007, Tòa dân sự) .

Nhận xét về vụ án: Ông Nguyễn Đình V. đã giao lại nhà thờ chi họ Nguyễn cho anh Nguyễn Đình T. (con trai) quản lý và thờ cúng; vợ chồng anh T. đã ở, trông coi và thực hiện nghĩa vụ thờ cúng từ năm 1984 đến nay. ông Nguyễn Đình s. và anh Nguyễn Đình M. cho rằng anh T. không đủ tư cách để quản lý nhà thờ của chi họ và đề nghị anh T. phải trả lại nhà thờ cùng khuôn viên đất, nhưng cũng không có chứng cứ chứng minh anh T. không thực hiện nghĩa vụ. Tuy ông s., anh M. xuất trình giấy uỷ quyển của một số người trong chi họ ủy quyển cho ông s., anh M. đòi lại nhà thờ; Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đòi lại nhà thờ là chưa đủ căn cứ; vì nhà thờ nêu trên đã là tài sản chung của cả chi họ Ng., việc thay đổi người quản lý phải thể hiện sự nhất trí chung của cả chi họ, ông V. là người trực tiếp giao quyển quản lý cho anh T. trước đó, đã tặng cho quyển sử dụng đất cho chi họ, cũng không có quyền đòi lại.

Như vậy, cần xác định rõ nhà thờ họ, đất hương hỏa là tài sản chung của cộng đồng họ tộc, cũng như các căn cứ xác định trách nhiệm của người phải thực hiện nghĩa vụ thò cúng, hương hỏa; việc thay đổi người quản lý phải thể hiện sự nhất trí chung của cộng đồng họ tộc, chỉ có cộng đồng họ tộc mối có quyền đòi người đang quản lý phải trả lại nhà thờ họ, đất hương hỏa; người trực tiếp giao quyền quản lý trưổc đó đã tặng cho nhà thờ họ, đất hương hỏa cho họ tộc cũng không có quyền đòi.