trong các luật thuế tiêu dùng khác như pháp luật thuế nhập khẩu, pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt. Tại Luật thuế tiêu thụ đặc biệt được ban hành từ 2008 (trước khi Luật thuế bào vệ môi trường được ban hành), xàng các loại đã nằm ttong danh mục thuộc diện chịu thuế cùa loại thuế này. Một ttong những lí do đưa mặt hàng xăng vào diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt xuất phát từ hậu quà sừ dụng xăng, dầu các loại sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường. Thêm nữa, tuỳ thuộc vào mửc độ tổn hại môi trường, mức thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt áp dụng đối với mặt hàng này cũng là khác nhau (xăng: 10%; xăng E5: 8%; xăng E 10: 7%). Từ năm 2010 trở lại đây, bên cạnh các loại thuế tiêu dùng có mục tiêu hạn chế hành vi gây tổn hại môi trường thông qua việc sử dụng những loại hàng hoá nhất định, Luật thuế bảo vệ môi trường đã được ban hành và đi vào đời sống. Luật thuế bảo vệ môi trường số 57/2010/QH12 ngày 15/11/2010. Theo khoản 3 Điều 10 Luật thuế bảo vệ môi trường và Điểm a khoản 2 Điều 5 Luật thuế bảo vệ môi trường. Chẳng hạn như Nghị định của Chính phủ số 67/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường: Nghị định của Chính phủ số 69/2012/NĐ-CP ngày 14/9/2012 sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 2 Nghị định của Chính phủ số 67/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường.

Thực tế đây chỉ là các nhóm hàng mà không phải từng mặt hàng cụ thể. Việc diễn giải, giải thích cho từng nhóm hàng này được Quốc hội trao quyền cho Chính phù bằng quy định “Chính phù quy định chi tiết Điều này”.

Khoản 1 Điều 2 Luật thuế bảo vệ môi trường quy định:

“Thuế bảo vệ môi trường là loại thuế gián thu, thu vào sán phẩm, hàng hoá (sau đây gọi chung là hàng hoá) khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường”.

Với cách định nghĩa hên, có thể chỉ ra những điểm lưu ý sau:

Một là thuế bảo vệ môi trường là loại thuế gián thu giống như một số loại thuế tiêu dùng khác như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt. Người tiêu dùng sản phẩm cuối cùng là người gánh chịu số tiền thuế được xác định ttong số tiền thanh toán.

Hai là mục đích định hướng tiêu dùng được thể hiện khá rõ ràng ở loại thuế này. Các mặt hàng thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường đều có tác động xấu đến môi trường khi sử dụng chúng. Chẳng hạn, khi nói đến túi niỉon được làm từ màng nhựa polyetilen là nói đến sản phẩm khó có khả năng phân huỷ; hoặc các loại thuốc diệt cỏ, diệt mối, nhóm chất gây suy giảm tầng ozon đều ảnh hưởng đến môi trường ưong hiện tại và tương lai. Với những lí do đó, giảm thiểu việc sử dụng các hàng hoá gây tổn hại môi trường bằng việc làm tăng giá thanh toán đối với hàng hoá đó, tạo điều kiện để người tiêu dùng chuyển thói quen sang sử dụng hàng hoá thân thiện với môi trường là điều cần thiết. Cũng chính từ yếu tố “hạn chế tiêu dùng” nêu trên nên luật pháp cũng định rõ (liệt kê) các hàng hoá nẳm trong diện chịu thuế của loại thuế này.

Ba là thuế bảo vệ môi trường chia sẻ mục tiêu bảo vệ môi trường thông qua thuế của một số loại thuế tiêu dùng khác. Thay bằng việc thay đổi mức thuế suất hoặc mở rộng diện chịu thuế đối với thuế giá trị gia tăng thuế tiêu thụ đặc biệt, thậm chí thuế nhập khẩu, việc đánh thuế bảo vệ mồi trường không chỉ tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước (trong đó có sử dụng cho việc tái tạo môi trường) mà còn chia sẻ mục tiêu cho các loại thuế khác.

Bốn là “thuế bảo vệ môi trường chỉ nộp một lần đối với hàng hoá sản xuất hoặc nhập khẩu”.

Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)