Vậy doanh nghiệp đó có nộp thuế không và cụ thể là nộp những thuế tài nguyên nào? kính gửi. Xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật thuế của Công ty Luật Minh Khuê.

Thuế tài nguyên đối với các doanh nghiệp nước ngoài?

Luật sư tư vấn Luật thuế trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Căn cứ pháp luật:

Luật thuế tài nguyên năm 2009

- Biểu mức thuế suất tài nguyên, Ban hành kèm theo Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13 ngày 16 tháng 12 năm 2013 của Ủy ban thường vụ Quốc hộị

Nghị định số 74/2011/NĐ-CP của Chính phủ : Về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật đầu tư nước ngoài

2, Nội dung tư vấn:

Luật thuế tài nguyên quy định như sau:

Đối tượng chịu thuế (Điều 2):Đối tượng chịu thuế tài nguyên, bao gồm: Khoáng sản kim loại; khoáng sản không kim loại; dầu thô; khí thiên nhiên, khí than; sản phẩm của rừng tự nhiên (trừ động vật); hải sản tự nhiên (bao gồm động vật và thực vật biển); nước thiên nhiên (bao gồm nước mặt và nước dưới đất); Yến sào thiên nhiên và các loại tài nguyên khác không thuộc các loại nêu trên do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định.

b) Người nộp thuế (Điều 3) là các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thuộc đối tượng chịu thuế.

Trong một số trường hợp, Luật thuế tài nguyên quy định cụ thể người nộp thuế tài nguyên như sau:

- Doanh nghiệp khai thác tài nguyên được thành lập trên cơ sở liên doanh thì doanh nghiệp liên doanh là người nộp thuế;

- Bên Việt Nam và bên nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh khai thác tài nguyên thì trách nhiệm nộp thuế của các bên phải được xác định cụ thể trong hợp đồng hợp tác kinh doanh;

- Tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nhỏ, lẻ bán cho tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua và tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua cam kết bằng văn bản về việc kê khai, nộp thuế thay cho tổ chức, cá nhân khai thác thì tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua là người nộp thuế.

Theo các quy định nêu trên thì các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay doanh nghiệp nước ngoài hợp tác với Việt Nam khai thác tài nguyên thì đều phải có trách nhiệm nộp thuế tài nguyên.

 Căn cứ tính thuế:

>> Xem thêm:  Nộp thuế tài nguyên ở đâu ?

Sản lượng tài nguyên tính thuế (Điều 5) được quy định như sau:

Đối với loại tài nguyên khai thác xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thì sản lượng tài nguyên tính thuế là số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của tài nguyên thực tế khai thác trong kỳ tính thuế, không phụ thuộc vào mục đích khai thác tài nguyên (Ví dụ: Tài nguyên khai thác để bán ngay, đem trao đổi, tiêu dùng nội bộ, dự trữ, sử dụng cho sản xuất tiếp theo).

- Đối với tài nguyên khai thác chưa xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực tế khai thác do chứa nhiều chất, tạp chất khác nhau thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định theo số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của từng chất thu được sau khi sàng tuyển, phân loại. (Ví dụ: Một công ty trong kỳ nộp thuế phải sàng tuyển hàng nghìn m3 đất, đá để thu được 2 kg vàng cốm, 100 tấn quặng sắt thì thuế tài nguyên được tính trên số lượng vàng cốm và quặng sắt thu được này).

- Đối với tài nguyên khai thác không bán mà đưa vào sản xuất sản phẩm khác nếu không trực tiếp xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực tế khai thác thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định căn cứ vào sản lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ tính thuế và định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm. (Ví dụ: Một công ty khai thác tinh quặng sắt không bán ra ngay mà được tiếp tục luyện chế biến thành sản phẩm gang, phôi thép thành phẩm. Trong tháng, sản xuất được 200 tấn phôi thép thành phẩm; theo định mức tiêu chuẩn kỹ thuật thì để sản xuất ra 1 tấn phôi thép thành phẩm cần sử dụng 2 tấn quặng sắt (hàm lượng 60% sắt) và 01 tấn phụ gia (thép phế liệu, than cốc,..). Khi đó, sản lượng tài nguyên tính thuế trong kỳ đối với quặng sắt là: 200 tấn phôi thép x 2 quặng sắt/phôi thép = 400 tấn quặng sắt).

- Đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thuỷ điện thì sản lượng tài nguyên tính thuế là sản lượng điện của cơ sở sản xuất thuỷ điện bán cho bên mua điện theo hợp đồng mua bán điện hoặc sản lượng điện giao nhận trong trường hợp không có hợp đồng mua bán điện được xác định theo hệ thống đo đếm đạt tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam, có xác nhận của bên mua, bên bán hoặc bên giao, bên nhận.

- Đối với nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên dùng cho mục đích công nghiệp thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định bằng mét khối (m3)hoặc lít (l) theo hệ thống đo đếm đạt tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam.

Đối với tài nguyên được khai thác thủ công, phân tán hoặc khai thác lưu động, không thường xuyên, sản lượng tài nguyên khai thác dự kiến trong một năm có giá trị dưới 200.000.000 đồng thì thực hiện khoán sản lượng tài nguyên khai thác theo mùa vụ hoặc định kỳ để tính thuế. Cơ quan thuế phối hợp với cơ quan có liên quan ở địa phương xác định sản lượng tài nguyên khai thác được khoán để tính thuế.

Về giá tính thuế (Điều 6)

Giá tính thuế tài nguyên là giá bán đơn vị sản phẩm tài nguyên của tổ chức, cá nhân khai thác chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. Đồng thời quy định các nguyên tắc xác định giá tính thuế trong trường hợp tài nguyên chưa xác định được giá bán và quy định cụ thể.

Về thuế suất thuế tài nguyên (Điều 7)

>> Xem thêm:  Doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam được hưởng những ưu đãi gì ?

Luật thuế tài nguyên quy định chi tiết hơn về nhóm, loại tài nguyên và điều chỉnh khung thuế suất theo nguyên tắc:

Thứ nhất,  tài nguyên không có khả năng tái tạo thì thuế suất cao;

Thứ hai, thu hẹp biên độ khung thuế suất, nâng mức thuế suất sàn của các loại tài nguyên thuộc nhóm khoáng sản kim loại và một số loại tài nguyên quý hiếm khác;

Thứ ba, không có thuế suất 0% vì đây là tài nguyên quốc gia, bất kỳ ai sử dụng cũng phải có nghĩa vụ đóng góp;

Thứ tư, thuế suất quy định theo loại tài nguyên, hạn chế quy định phân loại theo mục đích sử dụng.

Riêng đối với dầu, khí, do tài nguyên dầu, khí có tính chất đặc thù liên quan đến các dự án lớn, nhà đầu tư lớn, các quy định tại Hợp đồng dầu, khí có tiêu chuẩn, chuẩn mực theo thông lệ quốc tế nên thuế suất thuế tài nguyên đối với dầu, khí được xác định lũy tiến từng phần theo sản lượng dầu, khí khai thác bình quân mỗi ngày.

Căn cứ vào Biểu khung thuế suất thuế tài nguyên, Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thuế suất cụ thể đối với từng loại tài nguyên trong từng thời kỳ bảo đảm các nguyên tắc:

Thứ nhất, phù hợp với danh mục nhóm, loại tài nguyên và trong phạm vi khung thuế suất do Quốc hội quy định;

Thứ hai, góp phần quản lý nhà nước đối với tài nguyên; bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nguồn tài nguyên;

Thứ ba, Góp phần bảo đảm nguồn thu ngân sách nhà nước và bình ổn thị trường.

>> Xem thêm:  Xác định sản lượng tài nguyên tính thuế cho công ty khai thác nước ?

Ngoài ra, nghị định 74/2011 có quy định về mức phí bảo vệ môi trường nên các doanh nghiệp khai thác tài nguyên môi trường cũng phải nộp phí bảo vệ môi trường theo những quy định trong nghị định này

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bác vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thuế

>> Xem thêm:  Tư vấn sử dụng đất của người dân trong lưu vực của rừng phòng hộ ?