1. Thuế thu nhập cá nhân khi nhận di sản thừa kế ?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Vợ chồng tôi không có con, nhưng có nuôi 2 đứa cháu họ. Nay vợ chồng tôi muốn lập di chúc để lại căn nhà của vợ chồng tôi cho các cháu thì các cháu có phải đóng thuế thu nhập cá nhân không?
Gửi bởi: Tran Gia Minh

>> ​Luật sư tư vấn luật thuế qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Khoản 4 Điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 quy định trường hợp thừa kế giữa cha mẹ nuôi và con nuôi được miễn thuế.

Theo Luật Hôn nhân và gia đình2014 quy định việc nhận con nuôi phải được đăng ký và vào sổ hộ tịch.

Do đó nếu việc vợ chồng bạn nhận con nuôi đã đăng ký và vào sổ hộ tịch thì khi để lại thừa kế bất động sản cho các con nuôi thì các con nuôi sẽ không phải đóng thuế thu nhập cá nhân nhưng nếu chưa làm thủ tục đăng ký và vào sổ hộ tịch thì khi nhận di sản của bạn, các con nuôi vẫn phải đóng thuế thu nhập cá nhân.

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết tiền đền bù đất khi có tranh chấp ? Mức thuế khi chuyển mục đích sử dụng đất ?

2. Chia thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ?

Tôi có trường hợp dưới đây cần Luật sư tư vấn: Tháng 01/2015, bố tôi có mua nhà trong dự án đô thị mới. Tại thời điểm ký hợp đồng mua bán, chưa có Giấy chứng nhận QSD đất và chỉ có 1 mình bố tôi đứng tên mua bán. Tháng 12/2015, mẹ tôi mất. Tháng 02/2016, chủ đầu tư gọi lên làm thủ tục cấp Giấy chứng QSD đất. Vậy tôi muốn hỏi các nội dung sau:
1. Hiện tại là tháng 01/2016, tôi muốn làm bảng kê khai tài sản thừa kế của mẹ. Vậy tài sản nêu trên (chưa có Giấy chứng nhận QSD đất) có được tính vào danh sách tài sản thừa kế hay không?
2. Theo tôi được biết là nếu tháng 02/2016 đi làm Giấy chứng nhận QSD đất thì chỉ cần dựa vào Hợp đồng mua bán để cấp sổ và chỉ có bố tôi đứng tên trên sổ. Vậy làm sao biết được là tài sản này hình thành trước khi mẹ tôi mất, tức là trong thời gian hôn nhân?
Rất mong nhận được sự giúp đỡ của Quý luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế đất đai, gọi : 1900.6162

Trả lời:

Theo Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

Điều 105. Tài sản

1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.

2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.

- Luật nhà ở năm 2014 quy định:

Điều 8. Điều kiện được công nhận quyền sở hữu nhà ở

1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước; đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì phải được phép nhập cảnh vào Việt Nam; đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài thì phải có đủ điều kiện quy định tại Điều 160 của Luật này.

2. Có nhà ở hợp pháp thông qua các hình thức sau đây:

a) Đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước thì thông qua hình thức đầu tư xây dựng, mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế, nhận góp vốn, nhận đổi nhà ở và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;

b) Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì thông qua hình thức mua, thuê mua nhà ở thương mại của doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh bất động sản (sau đây gọi chung là doanh nghiệp kinh doanh bất động sản); mua, nhận tặng cho, nhận đổi, nhận thừa kế nhà ở của hộ gia đình, cá nhân; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại được phép bán nền để tự tổ chức xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật;

c) Đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài thì thông qua các hình thức quy định tại khoản 2 Điều 159 của Luật này.

- Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

Điều 26. Đại diện giữa vợ và chồng trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với tài sản chung nhưng chỉ ghi tên vợ hoặc chồng

1. Việc đại diện giữa vợ và chồng trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản chung có giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên vợ hoặc chồng được thực hiện theo quy định tại Điều 24 và Điều 25 của Luật này.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật này thì giao dịch đó vô hiệu, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật mà người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi.

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung".

Theo đó, bạn xác định thời điểm bố mẹ bạn tham gia giao dịch mua bán này để xác định đây là tài sản chung hay riêng?

Như vây việc bố bạn mua nhà trong dự án đô thị mới chỉ có hợp đồng mua bán chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mẹ bạn mất,ngôi nhà đó vẫn được tính vào danh sách tài sản thừa kế theo quy định của pháp luật. Chỉ có bố bạn đứng tên trong hợp đồng mua bán vì tài sản này hình thành trước khi mẹ bạn mất nên bố bạn chỉ đai diện trong việc xác lập, thưc hiện và chấm dứt các giao dịch liên quan đến tài sản chung nhưng chỉ ghi tên bố bạn

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận1900.6162hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tính toán bồi thường thiệt hại trong tranh chấp hợp đồng ? Quyền thừa kế đất đai ?

3. Đất được thừa kế riêng khi ly hôn có phải chia đôi ?

Chào Luật sư, Tôi là H, ở BĐ, năm nay 30 tuổi. Năm 2014 tôi có kết hôn với chồng là K. Tháng 4/2016 tôi có được nhận thừa kế từ ông nội một mảnh đất ( do ông có để lại di chúc cho tôi trước khi mất ). Hiện nay, tôi đang muốn ly hôn nhưng không biết mảnh đất này có phải chia đôi hay không ?
Tôi cảm ơn !

Trả lời:

Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về tài sản riêng của vợ, chồng như sau:

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Đồng thời, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Căn cứ theo quy định trên thì tài sản bạn được thừa kế riêng trong thời kỳ hôn nhân thì đây là tài sản riêng của bạn. Khi ly hôn tài sản riêng này thuộc quyền sở hữu của bạn mà không phải thực hiện chia một phần cho chồng của bạn.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tư vấn tranh chấp về việc đòi lại đất cho người khác mượn, ở nhờ ? Tranh chấp lối đi, ranh giới đất ?

4. Tư vấn về quy đổi số tài sản đất được thừa kế thành tiền ?

Chào luật sư, gia đình chúng tôi có một số việc muốn được nhờ luật sư tư vấn giúp. Ông ngoại tôi sinh được 4 người con gái, hai ông bà có tài sản là mảnh đất thổ cư 50m2. Mảnh đất này là tài sản do hai ông bà cùng đứng lên mua Bà ngoại tôi đã mất được 3 năm và không để lại di chúc. Hiện tại, ông tôi làm lại di chúc như sau:
- 25m2 là phần tài sản ông được quyền sở hữu
- 25m2 là phần tài sản bà tôi được quyền sở hữu.
Tuy vậy, bà tôi đã mất và không để lại di chúc nên số tài sản 25m2 đất được chia thành 5 phần cho ông tôi và 4 người con gái (mỗi người được chia phần tài sản thừa kế là 5m2). Hiện tại, 3 người con gái muốn quy đổi số tài sản thừa kế 5m2 thành tiền (tương đương giá trị là: 100.000.000 vnđ).
Ông tôi di chúc để lại 30m2 đất cho con gái lớn. Hiện tại ngoài tài sản thừa kế là 5m2 + 30m2 của ông tôi cho, bác còn đứng lên nhận trả tiền tương đương với số m2 đất mà 3 người em được hưởng thừa kế để việc đứng tên sổ đỏ mảnh đất không bị phức tạp. Tuy vậy, bác tôi có nói là khi nào hoàn thiện và làm xong sổ đỏ mảnh đất chính thức đứng tên bác thì bác mới chi trả số tiền tương đương số m2 mà 3 người em được hưởng. Vậy bác nói và đưa ra hành động vậy đã đúng pháp luật chưa? Trong trường hợp này, những người em phải làm gì? Việc nhận số tiền tương ứng với số tài sản thừa kế của 3 người con phải được chi trả vào thời điểm nào là hợp pháp nhất?
Trường hợp nữa là bác lớn có báo là khi làm sổ đỏ nhà đất thì cả 4 chị em phải chịu chi phí làm sổ đỏ. Xin luật sư tư vấn và trả lời giúp là:
- Nếu 3 người em đã chấp nhận lấy tiền tương ứng với số tài sản thừa kế mà mọi người được hưởng rùi thì theo pháp luật, việc làm hồ sơ, thủ tục sang tên sổ đỏ và làm sổ đỏ mới cho bác của tôi liệu việc yêu cầu các em vẫn chịu chi phí cùng có đúng không?
- Nếu phải chịu chi phí thì mức chi phí phải được chia như nào ạ?
- Việc thực hiện di chúc thừa kế của ông ngoại tôi, nếu theo đúng pháp luật thì cần làm những hồ sơ, thủ tục pháp lý như nào ạ?
Kính mong luật sư cho lời khuyên và tư vấn giúp chúng tôi.

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, về việc người con cả nhận tài sản thừa kế và nhận trả tiền tương ứng.

Theo Khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015 quy định Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự có nêu rõ:

"2. Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng."

Pháp luật Việt Nam luôn khuyến khích việc thỏa thuận, tự nguyện khi phân chia di sản thừa kế của những người thân quen trong gia đình. Khi những người thừa kế đã đạt được sự thỏa thuận, thống nhất về cách chia thì đó có thể là căn cứ để phân chia di sản thừa kế. Trong trường hợp này, người con cả và 3 người em có thể thỏa thuận để quyết định hình thức nhận tài sản thừa kế cũng như thời gian nhận tiền trong phạm vi pháp luật cho phép.

Thứ hai, về việc thanh toán chi phí thủ tục làm sổ đỏ

Theo Điều 658 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về Thứ tự ưu tiên thanh toán có nêu rõ:

"Các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán theo thứ tự sau đây:

1. Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng;

2. Tiền cấp dưỡng còn thiếu;

3. Chi phí cho việc bảo quản di sản;

4. Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ;

5. Tiền công lao động;

6. Tiền bồi thường thiệt hại;

7. Thuế và các khoản phải nộp khác vào ngân sách nhà nước;

8. Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân;

9. Tiền phạt;

10. Các chi phí khác."

Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015 cũng có quy định:

"Điều 615. Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại.

3. Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân."

Như vậy, chi phí làm hồ sơ, thủ tục sang tên sổ đỏ và làm sổ đỏ mới là nghĩa vụ về tài sản được để lại cần thanh toán. Theo như thông tin ban cung cấp, ông bạn viết di chúc để lại 30m2 đất cho người con cả. Tức là trong trường hợp này người con cả có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản của mảnh đất được ông bạn để lại. Tuy nhiên, trong trường hợp người con cả và 3 người em có thể thỏa thuận với nhau về việc phân chia chi phí thì có thể chia đều cho 4 chị em.

Thứ 3, về hồ sơ, thủ tục pháp lý nhận thừa kế

Bước 1: Làm thủ tục khai nhận di sản tại phòng công chứng

Hồ sơ gồm có:

- Giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản;

- Giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản theo quy định của pháp luật về thừa kế;

- Bản sao di chúc

- Giấy chứng tử của người để lại di chúc;

- Sơ yếu lý lịch của người được nhận di sản thừa kế;

- chứng minh nhân dân/hộ chiếu, hộ khẩu của người để và người nhận di sản;

Căn cứ vào hồ sơ này, phòng công chứng ra thông báo niêm yết tại trụ sở UBND xã, phường nơi có tài sản hoặc nơi cư trú cuối cùng của người chết. Sau khi nhận lại bản niêm yết thừa kế có xác nhận của UBND phường, xã mà không có tranh chấp, khiếu kiện thì công chứng viên sẽ lập văn bản khai nhận, phân chia di sản thừa kế theo quy định.

Bước 2: Đăng ký quyền sử dụng đất tại Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã nơi có đất:

+ Người nhận thừa kế quyền sử dụng đất nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường hoặc Ủy ban nhân dân xã, thị trấn đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại xã, thị trấn (trường hợp nộp hồ sơ tại xã thị trấn thì trong vòng ba (03) ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân xã, thị trấn có trách nhiệm chuyển hồ sơ cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc phòng Tài nguyên và Môi trường).

+ Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu đủ điều kiện thực hiện các quyền theo quy định thì thực hiện gửi thông tin địa chính đến cơ quan thuế để xác định và thông báo thu nghĩa vụ tài chính đối với trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định; sau đó xác nhận nội dung biến động vào Giấy chứng nhận đã cấp theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

+ Sau khi bên nhận thừa kế quyền sử dụng đất thực hiện xong nghĩa vụ tài chính, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hoặc Ủy ban nhân dân xã, thị trấn đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại xã, thị trấn có đất có trách nhiệm trao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Thời gian làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho người mua tối đa là 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

Hồ sơ đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở gồm:

- Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở

- Các giấy tờ về thừa kế như: Di chúc, Văn bản khai nhận di sản thừa kế (có công chứng nhà nước);

- Giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà của người để lại di sản;

- Bản sao Giấy khai sinh của người thừa kế của người chết làm cơ sở miễn nộp nghĩa vụ tài chính (thuế thu nhập cá nhân).

- Giấy chứng tử;

- Tờ khai nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất và Tờ khai nộp lệ phí trước bạ nhà đất.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại

5. Tài sản được thừa kế có đòi lại được không ?

Kính thưa luật sư! Mẹ tôi có một khu đất rộng trên 1000 m2, trước đây khi anh trai tôi chưa lấy vợ mẹ tôi đã làm thừa kế số đất trên cho anh ấy, Đến nay anh ấy đã có vợ và 01 con nhưng không may anh trai tôi đã qua đời. Hiện mẹ tôi đã trên 80 tuổi, sức khỏe yếu, lại không có thu nhập, cũng không có chỗ ở vì vậy mẹ tôi muốn lấy lại một phần diện tích trên để trang trải tuổi già nhưng chị dâu tôi nhất quyết không đồng ý vì chị cho rằng chị có bìa đỏ số đất trên nên không mẹ tôi không có quyền đòi lại (Xin nói thêm: từ ngày chị ấy về làm dâu chưa có đóng góp gì cho gia đình).
Vậy tôi muốn hỏi luật sư với trường hợp của mẹ tôi, theo pháp luật thì giải quyết như thế nào?
Kính mong luật sư tư vấn giúp tôi, tôi xin chân thành cảm ơn.
Người gửi: T.T

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Nếu mẹ bạn để lại thừa kế cho anh trai bạn có di chúc thì theo quy định của Bộ luật dân sự 2015

Điều 643. Hiệu lực của di chúc

1. Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.

2. Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp sau đây:

a) Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;

b) Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực.

3. Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.

4. Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực.

5. Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.

Mà thời điểm mở thừa kế là thời điểm mà người để lại di sản thừa kế chết. Cụ thể theo quy định tại Điều 611 BLDS như sau:

Điều 611. Thời điểm, địa điểm mở thừa kế

1. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật này.

2. Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản.

Như vậy, theo quy định khoản 1 điều 667 ở trên, di chúc của mẹ bạn chỉ có hiệu lực vào thời điểm mẹ bạn mất. Vì vậy, di chúc của mẹ bạn vẫn chưa có hiệu lực pháp luật khi bà còn sống.

Tuy nhiên, nếu mẹ bạn nói là để lại thừa kế cho anh trai bạn, nhưng đã sang tên toàn bộ mảnh đất cho anh trai bạn hợp pháp (ví dụ như đã lập hợp đồng tặng cho) thì mẹ bạn không có quyền đòi lại mảnh đất đó từ anh trai bạn. Tuy nhiên, thời điểm hiện tại, anh trai bạn đã mất thì mảnh đất đó được coi là di sản thừa kế của anh trai bạn. Nếu anh trai bạn và vợ anh trai bạn đã có thỏa thuận nhập quyền sử dụng toàn bộ mảnh đất đó vào tài sản chung thì chỉ 500m2 đất được coi là di sản thừa kế. Nếu anh trai bạn và vợ anh trai bạn chưa hề có thỏa thuận nhập quyền sử dụng đất này vào tài sản chung thì toàn bộ 1000m2 đất này đều được coi là di sản thừa kế của anh trai bạn. Và trong trường hợp anh trai bạn không để lại di chúc thì di sản thừa kế này sẽ chia theo quy định của pháp luật.

Căn cứ BLDS thì Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.

Như vậy, khi chia thừa kế của anh trai bạn theo quy định của pháp luật thì mẹ bạn thuộc hàng thừa kế thứ nhất, di sản được chia đều cho: mẹ ban, vợ của anh trai bạn và con của anh trai bạn. Mẹ bạn có thể khởi kiện đến Tòa án để phân chia di sản thừa kế trong vòng 10 năm kể từ thời điểm anh trai bạn mất.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Ý kiến bổ sung:

Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người để lại di sản thừa kế chết. Như vậy, theo quy định khoản 1 điều 611 Bộ luật dân sự 2015, di chúc của mẹ bạn chỉ có hiệu lực vào thời điểm mẹ bạn mất. Vì vậy, di chúc của mẹ bạn vẫn chưa có hiệu lực pháp luật khi bà còn sống.

Tuy nhiên, nếu mẹ bạn nói là để lại thừa kế cho anh trai bạn, nhưng đã sang tên toàn bộ mảnh đất cho anh trai bạn hợp pháp (ví dụ như đã lập hợp đồng tặng cho) thì mẹ bạn không có quyền đòi lại mảnh đất đó từ anh trai bạn. Tuy nhiên, thời điểm hiện tại, anh trai bạn đã mất thì mảnh đất đó được coi là di sản thừa kế của anh trai bạn. Nếu anh trai bạn và vợ anh trai bạn đã có thỏa thuận nhập quyền sử dụng toàn bộ mảnh đất đó vào tài sản chung thì chỉ 500m2 đất được coi là di sản thừa kế. Nếu anh trai bạn và vợ anh trai bạn chưa hề có thỏa thuận nhập quyền sử dụng đất này vào tài sản chung thì toàn bộ 1000m2 đất này đều được coi là di sản thừa kế của anh trai bạn. Và trong trường hợp anh trai bạn không để lại di chúc thì di sản thừa kế này sẽ chia theo quy định của pháp luật.

Điểm a khoản 1 điều 676 BLDS thì hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.

Như vậy, khi chia thừa kế của anh trai bạn theo quy định của pháp luật thì mẹ bạn thuộc hàng thừa kế thứ nhất, di sản được chia đều cho: mẹ ban, vợ của anh trai bạn và con của anh trai bạn. Mẹ bạn có thể khởi kiện đến Tòa án để phân chia di sản thừa kế trong vòng 10 năm kể từ thời điểm anh trai bạn mất.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật thừa kế - Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thời điểm có hiệu lực của di chúc chung vợ chồng là khi nào ? Di chúc miệng có hiệu lực không ?