Khách hàng: Chào Luật sư, tôi xin hỏi Thuế thu nhập vãng lai” là phần thuế mỗi cá nhân sẽ đóng cho nhà nước về khoản này, chi phí đóng thuế sẽ là 10% x mức thu nhập của tháng. Có phải Khoản thuế này sẽ được hoàn trả lại khi làm biên bản khai báo và hoàn trả thuế vào cuối năm cho chi cục thuế không ạ?

Tôi xin trân trọng cảm ơn​!

 

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật thuếcủa Công ty Luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật thuế gọi:1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, về vấn đề của bạn xin được tư vấn như sau:

Cơ sở pháp lý được sử dụng trogn bài viết

Thông tư số 111/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính : Hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân. 

 

Nội dung trả lời

 

1. Khái niệm thu nhập vãng lai

Hiện nay trong pháp luật hiện hành không quy định cụ thể thu nhâp vãng lai là gì? Tuy nhiên có thể hiểu thu nhập vãng lai là những khoản thu nhập, tiền công, tiền công được nhận từ các nguồn thu không thông qua hợp đồng lao động, không mang tính thường xuyên. Quy định tại Điều 2 TT 111/2013/TT-BTC quy định những khoản chịu thuế như sau:

Tiền thù lao nhận được dưới những hình thức như: tiền hoa hồng môi giới, tiền hoa hồng đại lý bán hàng hóa; tiền tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học và kỹ thuật; tiền tham gia các đề án, dự án; tiền nhuận bút theo đúng quy định của pháp luật về chế độ nhuận bút; tiền tham gia những hoạt động giảng dạy; tiền tham gia biểu diễn nghệ thuật, văn hoá, thể dục, thể thao; tiền dịch vụ và quảng cáo; tiền dịch vụ khác, thù lao khác.

 

2. Cách tính thuế thu nhập vãng lai

Theo quy định tại điểm i Khoản 1 Thông tư số 111/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính : Hướng dẫn thực hiện theo Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết về một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân khi tính thuế thu nhập vãng lai.

Tại Điều 25 quy định "Khấu trừ thuế và chứng từ khấu trừ thuế" như sau: 

a. Khấu trừ thuế

Khấu trừ thuế là việc cá nhân, tổ chức trả thu nhập thực hiện tính trừ số thuế cần phải nộp vào thu nhập vãng lai của người nộp thuế trước khi trả thu nhập, cụ thể như sau:

i) Khấu trừ thuế đối với các trường hợp khác

Các tổ chức, cá nhân trả tiền thù lao, tiền công, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (được hướng dẫn tại điểm c, d khoản 2, Điều 2 Thông tư này) hoặc ký kết hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì cần phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.

Trường hợp cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng cần phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi đã trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập nhằm tổ chức trả thu nhập vãng lai làm căn cứ tạm thời chưa tính khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.

Căn cứ dựa vào cam kết của người nhận thu nhập, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn tổng hợp danh sách và thu nhập của các cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế (vào mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về việc quản lý thuế) và nộp cho cơ quan thuế. Cá nhân làm cam kết cần chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo đúng quy định của Luật quản lý thuế.

Cá nhân làm cam kết theo hướng dẫn tại điểm này cần đăng ký thuế và có mã số thuế tại thời điểm cam kết.

b. Chứng từ khấu trừ

a) Tổ chức và cá nhân trả các khoản thu nhập vãng lai đã khấu trừ thuế dựa theo hướng dẫn tại khoản 1, Điều này cần phải cấp chứng từ khấu trừ thuế theo yêu cầu của cá nhân bị khấu trừ. Trường hợp cá nhân ủy quyền quyết toán thuế thì không có cấp chứng từ khấu trừ.

Căn cứ pháp lý: Thông tư số 111/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện theo Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân; Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết về một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Tại điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC quy định khấu trừ thuế là việc cá nhân, tổ chức trả thu nhập thực hiện tính trừ số thuế vào thu nhập vãng lai trước khi trả thu nhập cho người lao động. Theo đó:

- Trường hợp cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký kết hợp đồng lao động dưới 03 tháng có tổng mức thu nhập từ 2.000.000 đồng/ lần trở lên cần phải khấu trừ thuế trước khi trả cho cá nhân, mức khấu trừ thuế là 10% trên thu nhập;

- Trường hợp ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế sau khi đã trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế và cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng cần phải khấu trừ thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành) gửi tổ chức trả thu nhập nhằm cho tổ chức trả thu nhập vãng lai làm căn cứ tạm thời chưa tính khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.

Cá nhân cần chịu trách nhiệm về cam kết của mình, trường hợp cá nhân có gian lận thì sẽ bị xử lý theo đúng quy định của Luật quản lý thuế. Tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế thu nhập vãng lai trong trường hợp này.

Tổ chức trả thu nhập lập danh sách thu nhập của các cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế để nộp cho cơ quan thuế vào thời điểm kết thúc năm tính thuế.

Tổ chức và cá nhân trả thu nhập vãng lai sau khi đã khấu trừ thuế thu nhập vãng lai phải cấp chứng từ khấu trừ thuế theo yêu cầu của cá nhân bị khấu trừ.

 

3. Trường hợp không khấu trừ thuế đối với người có thu nhập vãng lai

Với quy định khấu trừ thuế thu nhập vãng lai đối với những khoản thu nhập vãng lai từ 2 triệu đồng trở lên có vẻ như bất cập với các hoàn cảnh người lao động chỉ có một nguồn thu nhập duy nhất từ thu nhập vãng lai này. Chính vì vậy luật quy định thêm những trường hợp sau đây người lao động không bị khấu trừ thuế:

Trường hợp cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc nhóm đối tượng phải khấu trừ thuế dựa theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức cần nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (dựa theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập để làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.

Căn cứ dựa vào cam kết của người nhận thu nhập, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách, cũng như thu nhập vãng lai của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế (vào mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về việc quản lý thuế) và nộp cho cơ quan thuế. Cá nhân làm cam kết cần phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình. Trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo đúng quy định của Luật quản lý thuế.

Cá nhân làm cam kết theo hướng dẫn tại điểm này cần phải đăng ký thuế và có mã số thuế tại thời điểm cam kết.

 

4. Khoản thuế này sẽ được hoàn trả lại khi làm biên bản khai báo và hoàn trả thuế 

Theo điểm i Khoản 1 Thông tư số 111/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính : Hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân

"Điều 25. Khấu trừ thuế và chứng từ khấu trừ thuế

1. Khấu trừ thuế

Khấu trừ thuế là việc tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện tính trừ số thuế phải nộp vào thu nhập của người nộp thuế trước khi trả thu nhập, cụ thể như sau:

...

i) Khấu trừ thuế đối với một số trường hợp khác

Các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, Điều 2 Thông tư này) hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.

Trường hợp cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.

Căn cứ vào cam kết của người nhận thu nhập, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế (vào mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) và nộp cho cơ quan thuế. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của Luật quản lý thuế.

Cá nhân làm cam kết theo hướng dẫn tại điểm này phải đăng ký thuế và có mã số thuế tại thời điểm cam kết.

2. Chứng từ khấu trừ

a) Tổ chức, cá nhân trả các khoản thu nhập đã khấu trừ thuế theo hướng dẫn tại khoản 1, Điều này phải cấp chứng từ khấu trừ thuế theo yêu cầu của cá nhân bị khấu trừ. Trường hợp cá nhân ủy quyền quyết toán thuế thì không cấp chứng từ khấu trừ."

=> Theo đó, nếu bạn là lao động vãng lai, ký hợp đồng lao động dưới ba tháng mà có tổng mức thu nhập mỗi tháng từ 2 triệu đồng thì sẽ phải khấu trừ 10% thuế trên thu nhập trước khi được trả. Bạn không nói rõ bạn là người trả lương cho người lao động hay là người hưởng lương. Nếu là người sử dụng lao động thì sẽ khấu trừ thuế thu nhập vãng lai trước khi trả lương cho NLĐ và cấp chứng từ khấu trừ thuế cho NLĐ nếu NLĐ có yêu cầu. Về phía NLĐ, NLĐ nhận khoản lương từ công việc vãng lai đã được khấu trừ thuế thu nhập vãng lai 10%.

 

5. Các hành vi bị cấm trong kinh doanh bất động sản

- Kinh doanh bất động sản không đủ điều kiện theo quy định của Luật này.

- Quyết định việc đầu tư dự án bất động sản không phù hợp với quy hoạch, kế hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

- Không công khai hoặc công khai không đầy đủ, trung thực thông tin về bất động sản.

- Gian lận, lừa dối trong kinh doanh bất động sản.

- Huy động, chiếm dụng vốn trái phép; sử dụng vốn huy động của tổ chức, cá nhân và tiền ứng trước của bên mua, bên thuê, bên thuê mua bất động sản hình thành trong tương lai không đúng mục đích theo cam kết.

- Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.

- Cấp và sử dụng chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản không đúng quy định của Luật này.

- Thu phí, lệ phí và các khoản tiền liên quan đến kinh doanh bất động sản trái quy định của pháp luật.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thuế - Công ty luật Minh KHuê