1. Vì sao doanh nghiệp phải mở rộng hoạt động kinh doanh ra nước ngoài?

Trên thực tế, việc mở rộng hoạt động kinh doanh ra nước ngoài thường nhằm mục đích tăng doanh số và lợi nhuận, tạo ra thị trường mới, nâng cao vị thế của doanh nghiệp ở phạm vi quốc tế hoặc bảo đảm nguồn nguyên liệu. Trong trường hợp doanh nghiệp quyết định tiến hành kinh doanh ở tầm quốc tế, các kiến thức về pháp luật kinh doanh quốc tế và pháp luật có liên quan sẽ là rất cần thiết đối với doanh nghiệp.

2. Luật thương mại quốc tế có sự tham gia chủ yếu của thương nhân là gì?

 Đó là pháp luật điều chỉnh các quan hệ thương mại quốc tế có sự tham gia chủ yếu của thương nhân (hay các giao dịch kinh doanh quốc tế). Cách hiểu về thuật ngữ ‘International Business Law’ không quá xa so với cách hiểu về thuật ngữ ‘International Commercial Law’. (a) Các giao dịch kinh doanh quốc tế (International Business Transactions) là gì? Có nhiều hình thức giao dịch kinh doanh quốc tế. Cách đơn giản nhất để doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh ở tầm quốc tế là thực hiện hoạt động mua bán hàng hoá trực tiếp với khách hàng ở nước ngoài, nghĩa là hoạt động xuất nhập khẩu . Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc tìm kiếm khách hàng và tìm hiểu thị trường nước ngoài có thể không dễ dàng. Do đó, doanh nghiệp có thể quyết định sử dụng người trung gian để giúp họ bán hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ của mình. Có hai loại trung gian thường gặp trong hoạt động kinh doanh quốc tế, đó là đại lí và phân phối. Doanh nghiệp có thể quyết định sản xuất sản phẩm của mình ở nước ngoài thay vì sản xuất sản phẩm đó ở trong nước rồi xuất khẩu ra nước ngoài. Đây là trường hợp doanh nghiệp quyết định chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng sở hữu trí tuệ (viết tắt là ‘IP’) cho doanh nghiệp khác ở nước ngoài và cho phép doanh nghiệp ở nước ngoài sản xuất và bán sản phẩm của mình. Chuyển giao IPRs ở tầm quốc tế là hoạt động kinh doanh hiệu quả để doanh nghiệp có cơ hội phổ biến IPRs của mình. Các hoạt động chuyển giao IPRs tồn tại dưới nhiều hình thức, như chuyển giao các đối tượng sở hữu công nghiệp (license), chuyển giao quyền tác giả, chuyển giao công nghệ, nhượng quyền thương mại (franchising). Một công ty dược của Hà Lan có thể chuyển giao sáng chế về loại thuốc nào đó cho một công ty sản xuất dược phẩm của Việt Nam, nghĩa là công ty dược phẩm của Việt Nam có thể sử dụng sáng chế của công ty dược phẩm Hà Lan để sản xuất ra loại thuốc đó và bán tại Việt Nam. Tương tự, một công ty điện ảnh của Hoa Kỳ có thể chuyển giao quyền tác giả bộ phim cho một công ty của Pháp, để công ty này có thể nhân bản và bán bộ phim đó trên thị trường EU. Ngoài ra, nhiều công ty như KFC, McDonald, Pizza Hut cũng rất thành công trong hoạt động nhượng quyền thương mại quốc tế. Với tầm nhìn chiến lược đối với thị trường nước ngoài, doanh nghiệp có thể quyết định đầu tư trực tiếp vào thị trường đó. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (viết tắt là ‘FDI’) có thể được thực hiện dưới hình thức thành lập chi nhánh (branch), công ty con (subsidiary), liên doanh (joint-venture), thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, sáp nhập và mua lại doanh nghiệp nước ngoài (viết tắt là ‘M&A’). Ngoài ra, có nhiều loại giao dịch kinh doanh quốc tế khác và các giao dịch có liên quan như hoạt động logistics quốc tế, bao gồm vận tải quốc tế ; cho vay, cho thuê, giao dịch việc làm, đầu tư gián tiếp nước ngoài (viết tắt là ‘FPI’), giao dịch tài chính quốc tế (thuế, bảo hiểm quốc tế) v.v..

3. Chủ thể của các giao dịch kinh doanh quốc tế là ai?

Có nhiều loại chủ thể khác nhau tham gia các giao dịch kinh doanh quốc tế. i) Chủ thể phổ biến của các giao dịch này là các thương nhân - người tiến hành hoạt động thương mại (ví dụ, mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, FDI), bao gồm cả cá nhân và doanh nghiệp. Khái niệm ‘thương nhân’ được định nghĩa không hoàn toàn giống nhau theo luật quốc gia của các nước. Theo khoản 1 Điều 6 Luật thương mại Việt Nam 2005, ‘Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh’. Theo Điều 1 Luật doanh nghiệp Việt Nam 2005, chủ thể của hoạt động kinh doanh tại Việt Nam bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hợp danh, và các doanh nghiệp tư nhân. Trong thời gian gần đây, các công ty đa quốc gia (viết tắt là ‘MNCs’) ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng của mình trong các giao dịch kinh doanh quốc tế. Các MNCs thể hiện vai trò trung gian dịch chuyển vốn trong quan hệ đầu tư quốc tế. ii) Bên cạnh đó, một số tổ chức quốc tế cũng có vai trò đáng kể đối với sự phát triển của các giao dịch kinh doanh quốc tế, như: Ủy ban của Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (United Nations Commission on International Trade Law - viết tắt là ‘UNCITRAL’), Ủy ban của Liên hợp quốc về Thương mại và phát triển (United Nations Conference on Trade and Development - viết tắt là ‘UNCTAD’), Phòng thương mại quốc tế (International Chamber of Commerce - viết tắt là ‘ICC’). UNCITRAL hướng tới việc soạn thảo các luật mẫu, nhằm cung cấp khung pháp lí cho các nước phê chuẩn và xây dựng pháp luật nước mình tương thích với luật mẫu, sao cho phù hợp với nhu cầu của các nước. Ví dụ, Luật mẫu về thương mại điện tử . ICC cũng đóng vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm một mức độ hài hoà hoá pháp luật giữa các nước, thông qua việc soạn thảo các quy định để các quốc gia có thể đưa chúng vào pháp luật kinh doanh quốc tế của nước mình . Liên đoàn hiệp hội các nhà vận chuyển hàng hoá quốc tế (International Federation of Freight Forwarders Association - viết tắt là ‘FIATA’) có vai trò quan trọng trong việc hài hoà hoá pháp luật thông qua việc khuyến khích và sử dụng các mẫu chứng từ chuẩn, như vận đơn vận tải đa phương thức của FIATA. iii) Các quốc gia cũng tham gia vào các giao dịch kinh doanh quốc tế, nhưng với tư cách chủ thể ‘đặc biệt’ và đôi khi không ứng xử bình đẳng như các chủ thể khác, vì chủ thể này được hưởng quyền ‘miễn trừ tư pháp’.

4.Thế nào là quyền ‘miễn trừ tư pháp’ của quốc gia?

Tại sao quốc gia lại trở thành chủ thể ‘đặc biệt’ trong các giao dịch kinh doanh quốc tế? Theo nguyên tắc bình đẳng chủ quyền quốc gia, thẩm phán của quốc gia không thể phán quyết chống lại quốc gia khác nếu không có sự chấp thuận của quốc gia đó. Sự giải thích này xuất phát từ nguyên tắc ‘par in parem non habet juridictionem’ (‘những người ngang nhau không thể phán xét lẫn nhau’) được ghi nhận trong luật quốc tế từ thời cổ đại. Mặc dù đều công nhận quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia, nhưng các nước lại có quan điểm không thống nhất về phạm vi của quyền miễn trừ là ‘tuyệt đối’ hay ‘hạn chế’. Về quyền miễn trừ tư pháp trong luật quốc tế, câu hỏi đặt ra là: Các quốc gia, cơ quan nhà nước, hoặc doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước có thể bị kiện trước toà án dân sự của quốc gia khác hay không? và có thể thi hành án đối với tài sản của quốc gia nước ngoài ở phạm vi nào? Trong luật quốc tế thời kì ban đầu, học thuyết về quyền miễn trừ ‘tuyệt đối’ chiếm ưu thế, tuy nhiên thực tiễn cho thấy rằng rất khó áp dụng học thuyết này nếu không được sự chấp thuận của quốc gia nước ngoài. Trên thực tế, học thuyết về quyền miễn trừ ‘hạn chế’ (hay miễn trừ ‘tương đối’) được áp dụng về cơ bản. Học thuyết về quyền miễn trừ ‘tuyệt đối’ được ủng hộ bởi nguyên tắc bình đẳng chủ quyền quốc gia và học thuyết ‘Hành vi quốc gia’ (‘Act of State’ Doctrine). Học thuyết ‘Hành vi quốc gia’ xuất phát từ thực tiễn của toà án Hoa Kỳ. Học thuyết này cho rằng mỗi quốc gia có chủ quyền trong phạm vi lãnh thổ của mình và những hành vi mà một quốc gia thực hiện trong lãnh thổ của mình phải được coi là hợp pháp và không thể bị toà án nước ngoài xem xét lại. Học thuyết ‘Hành vi quốc gia’ được tuyên bố trong vụ Underhill v. Hernandez [1897], trong đó Toà án Niu Y-oóc lập luận: ‘… Mỗi quốc gia có chủ quyền phải tôn trọng sự độc lập của các quốc gia có chủ quyền khác và toà án của một quốc gia sẽ không xét xử hành vi của chính phủ của một quốc gia khác được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó’.11 Năm 1964, Toà án tối cao Hoa Kỳ đã áp dụng học thuyết ‘Hành vi quốc gia’ trong một vụ nổi tiếng - Banco Nacional de Cuba v. Sabbatino [1964]. Vụ việc này xảy ra khi Cu-ba tiến hành quốc hữu hoá ngành công nghiệp sản xuất đường, nắm quyền kiểm soát các nhà máy tinh chế đường và các nhà máy khác trong cuộc Cách mạng Cu-ba. Rất nhiều nhà đầu tư Hoa Kỳ đã bị thiệt hại do đầu tư vào các nhà máy này mà không được bồi thường sau khi Chính phủ Cuba lên nắm quyền. Mặc dù trong hoàn cảnh có rất nhiều công dân Hoa Kỳ bị thiệt hại, Toà án tối cao Hoa Kỳ vẫn bảo vệ học thuyết ‘Hành vi quốc gia’, coi hành vi của Chính phủ Cu-ba là hợp pháp và bác yêu cầu của các công dân Hoa Kỳ chống lại Cu-ba do phải chịu những thiệt hại về đầu tư.  Bên cạnh đó, lí lẽ ủng hộ quyền miễn trừ ‘hạn chế’ cũng đã xuất hiện từ lâu trong các án lệ của toà án Bỉ, theo đó quyền miễn trừ tư pháp thường được áp dụng trong trường hợp quốc gia thực hiện hành vi mang tính chủ quyền (‘acta jure imperii’), không áp dụng trong trường hợp quốc gia thực hiện hành vi mang tính chất tư (‘acta jure gestionis’). Vào ngày 17/7/1878, lần đầu tiên toà án Bỉ từ chối quyền miễn trừ tư pháp của Chính phủ Pê-ru trong xét xử vụ việc liên quan đến hợp đồng mua bán phân chim, với lí do đây là hợp đồng thương mại, do đó Chính phủ Pê-ru phải chấp nhận quyền tài phán của toà thương mại Bỉ. Quyền miễn trừ tư pháp chỉ được áp dụng đối với cơ quan tài phán trong nước, không áp dụng đối với cơ quan tài phán quốc tế. ‘… Sự phân biệt giữa ‘acta jure imperii’ và ‘acta jure gestionis’… của một quốc gia hay một chủ thể luật quốc tế khác không có ý nghĩa đối với cơ quan tài phán quốc tế công có thẩm quyền’.14 Có nhiều cách giải thích khác nhau về quyền miễn trừ ‘hạn chế’. Trong bối cảnh các quan hệ thương mại quốc tế hiện nay, việc duy trì quyền miễn trừ ‘tuyệt đối’ sẽ khiến quốc gia trở thành chủ thể có ưu thế hơn so với các chủ thể khác trong các giao dịch thương mại quốc tế. Điều này khó chấp nhận, bởi vì nó ảnh hưởng đến sự cạnh tranh công bằng trong thương mại quốc tế. Theo quan điểm về quyền miễn trừ ‘hạn chế’, quốc gia có thể tự hạn chế quyền miễn trừ tư pháp của mình để ứng xử như các chủ thể khác. Quan điểm này được thể hiện trong quy định pháp luật của một số quốc gia, nhất là Hoa Kỳ, và trong một số điều ước quốc tế. Đạo luật của Hoa Kỳ về quyền miễn trừ của quốc gia nước ngoài năm 1976 (Foreign Sovereign Immunities Act 1976 - viết tắt là ‘FSIA’) đã được pháp điển hoá trong Chương 97, bộ pháp điển USC 28, sửa đổi năm 2008. Quan điểm của Hoa Kỳ trong đạo luật này là: Việc toà án Hoa Kỳ xác định yêu cầu của quốc gia nước ngoài về miễn trừ thẩm quyền của toà án Hoa Kỳ là nhằm phục vụ công lí và bảo vệ các quyền của quốc gia nước ngoài cũng như của các đương sự trước toà án Hoa Kỳ. Theo pháp luật quốc tế, các quốc gia không được hưởng miễn trừ thẩm quyền xét xử của toà án nước ngoài trong phạm vi các hoạt động thương mại có liên quan của họ, và các tài sản thương mại của các quốc gia nước ngoài có thể bị cưỡng chế theo bản án được tuyên chống lại họ liên quan đến các hoạt động thương mại của họ. Các yêu cầu hưởng miễn trừ của các quốc gia nước ngoài từ nay trở đi sẽ do toà án Hoa Kỳ và toà án các tiểu bang quyết định, phù hợp với các nguyên tắc quy định trong chương này. 15 Chính phủ nước ngoài có thể bị kiện trước toà án Hoa Kỳ nếu mặc nhiên hoặc rõ ràng từ bỏ quyền miễn trừ tư pháp; hoặc vụ kiện được tiến hành trên cơ sở hoạt động thương mại hoặc hành vi thương mại của chính phủ nước ngoài thực hiện trên lãnh thổ Hoa Kỳ hay trên cơ sở hành vi thương mại thực hiện ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ nhưng có ảnh hưởng trực tiếp đến Hoa Kỳ; hoặc liên quan đến các quyền tài sản do vi phạm pháp luật quốc tế, và tài sản đó hoặc tài sản để trao đổi với tài sản đó đang tồn tại ở Hoa Kỳ, và có liên quan đến hoạt động thương mại do chính phủ nước ngoài đó thực hiện tại Hoa Kỳ; hoặc tranh chấp liên quan đến quyền tài sản ở Hoa Kỳ có được do được kế thừa hoặc được tặng cho hoặc quyền đối với bất động sản ở Hoa Kỳ; hoặc liên quan đến các khoản bồi thường thiệt hại mà chính phủ nước ngoài đó phải chịu do thiệt hại gây ra ở Hoa Kỳ, do hành vi vi phạm pháp luật hoặc do sự cẩu thả mà chính phủ nước ngoài hoặc các nhân viên của chính phủ nước ngoài gây ra khi thực hiện công vụ… Bên cạnh đó, quan điểm về quyền miễn trừ ‘hạn chế’ còn được ghi nhận trong Công ước Oa-sinh-tơn về Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế 1965 (viết tắt là ‘ICSID’), Đạo luật về miễn trừ quốc gia của Vương quốc Anh 1978 (United Kingdom State Immunities Act 1978), và các văn bản khác. Quốc gia được hưởng quyền miễn trừ tư pháp, cho dù là ‘tuyệt đối’ hay ‘hạn chế’, cũng tạo nên tính ‘đặc biệt’ của chủ thể này trong các giao dịch kinh doanh quốc tế với các chủ thể khác.

5.Các quy định điều chỉnh các giao dịch kinh doanh quốc tế là gì?

Các quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia các giao dịch kinh doanh quốc tế cần phải được làm rõ và phải có tính chắc chắn. Sự thiếu tính chắc chắn về mặt pháp luật sẽ tạo cơ hội phát sinh rào cản cho hoạt động kinh doanh quốc tế. Các quy định pháp luật này có nhiệm vụ điều chỉnh các giao dịch kinh doanh quốc tế đa dạng, ví dụ, hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, vận chuyển hàng hoá, hợp đồng đại lí, hợp đồng phân phối, chuyển giao IPRs quốc tế, logistics quốc tế (bao gồm cả vận tải quốc tế), thanh toán quốc tế, giao dịch liên quan đến FDI, bảo hiểm quốc tế, thương mại điện tử, giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế... (xem Phần 2 của Giáo trình). Do có quá nhiều hệ thống pháp luật và sự khác biệt giữa chúng, nên hoạt động hài hoà hoá pháp luật, thông qua việc soạn thảo các điều ước quốc tế, được thừa nhận rộng rãi là một giải pháp lựa chọn tốt nhất. (d) Góc nhìn đa văn hoá về pháp luật kinh doanh quốc tế Ngày nay, các công ty phân đoạn các hoạt động kinh doanh của mình ở khắp nơi trên thế giới, từ thiết kế sản phẩm, sản xuất linh kiện cho tới lắp ráp và tiếp thị, hình thành nên những chuỗi sản xuất ở phạm vi quốc tế. Ngày càng có nhiều sản phẩm thực chất cần phải gắn mác ‘Sản xuất ở toàn thế giới’ (‘Made in the World’), thay vì ‘Sản xuất ở Anh’ (‘Made in England’) hay ‘Sản xuất ở Hoa Kỳ’ (‘Made in the USA’) Các đối tác thương mại, khách hàng, nhà cung cấp và các đồng nghiệp trong quan hệ thương mại quốc tế có thể đến từ nhiều xã hội khác nhau, với những quan niệm khác nhau về thương mại và các giá trị xã hội. Do đó, khi vận dụng pháp luật thương mại quốc tế cần tính đến sự hài hoà giữa các quan niệm khác nhau về thương mại quốc tế, thậm chí đôi khi phải đề cao sự khác biệt, vận dụng sự khác biệt để cạnh tranh hiệu quả trên thị trường quốc tế.

Luật Minh Khuê ( sưu tầm và bien tập)