1.Thương mại quốc tế và tiêu chuẩn lao động

Sự tương tác của thương mại quốc tế và các tiêu chuẩn lao động là vấn đề nổi cộm giữa các nước phát triển và các DCs. GATT không nói đến các cân nhắc về lao động và xã hội. Tuy nhiên, phần mở đầu của Hiệp định thành lập WTO tuyên bố rằng ‘thương mại cần được tiến hành với quan điểm nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo công ăn việc làm ... hướng đến mục tiêu phát triển bền vững’. Dù vậy, trong các điều khoản thương mại hiện hành, chỉ có một số ít các tham chiếu gián tiếp tới các vấn đề liên quan đến lao động. Các tiêu chuẩn lao động và các hoạt động thương mại liên quan đến lao động cũng không được quy định. Trên thực tế, các tiêu chuẩn này được quy định bởi Tổ chức lao động quốc tế (viết tắt là ‘ILO’). Mặc dù vậy, các thành viên của WTO khẳng định trong Tuyên bố cấp bộ trưởng tại Xinh-ga-po sự cam kết của họ đối với các quyền và nghĩa vụ được quy định bởi ILO. Họ tuyên bố rằng: ‘Chúng tôi nhắc lại cam kết của chúng tôi đối với việc tuân thủ các tiêu chuẩn lao động cơ bản được công nhận trên toàn thế giới... và chúng tôi khẳng định chúng tôi sẽ hỗ trợ cho hoạt động của ILO nhằm thúc đẩy các tiêu chuẩn đó’. Tuy nhiên, vì đây chỉ là Tuyên bố cấp bộ trưởng nên không tạo ra một nghĩa vụ nào. Mối quan hệ pháp lí giữa các tiêu chuẩn của WTO và tiêu chuẩn lao động vẫn sẽ là mối quan hệ đáng quan tâm và cần phát triển. Mục này sẽ xem xét sâu hơn về cách giải thích và áp dụng các quyền và nghĩa vụ WTO trong mối liên quan với các tiêu chuẩn lao động cơ bản. WTO, Tuyên bố cấp bộ trưởng tại Xinh-ga-po, WT/MIN(96)/DEC, ngày 13/12/1996.

2.Hạn chế pháp lí về các biện pháp nhân quyền liên quan đến thương mại 

Ban đầu, hệ thống của WTO được thiết lập chỉ để điều chỉnh các mối quan hệ thương mại giữa các thành viên. Do đó, việc áp đặt các biện pháp nhân quyền liên quan đến thương mại đối với một thành viên, trước tiên, phải luôn tuân thủ các quy định của WTO. Nếu một biện pháp không tuân thủ các quy định của WTO, thì nó được coi là không hợp pháp theo luật WTO. Ví dụ, áp dụng biện pháp cấm vận thương mại đối với các sản phẩm của một thành viên cụ thể, do thành viên này vi phạm nhân quyền. Trường hợp này vi phạm Điều I GATT - quy định về MFN, bởi vì tình hình nhân quyền thường không ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Một ví dụ khác là lệnh cấm nhập khẩu những mặt hàng nhất định được sản xuất bằng sức lao động trẻ em và/hoặc trong điều kiện làm việc nặng nhọc và vi phạm những tiêu chuẩn lao động cơ bản. Lệnh cấm này sẽ vi phạm Điều XI GATT - quy định cấm mọi biện pháp hạn chế thương mại. Cuối cùng và đặc biệt là: giải quyết thế nào đối với trường hợp một mặt cho phép nhập khẩu, nhưng mặt khác lại áp loại thuế đặc biệt đối với các sản phẩm được sản xuất trong điều kiện lao động không đảm bảo? Việc này lại là một sự vi phạm nguyên tắc NT được quy định tại Điều III GATT, do không có loại thuế tương tự được áp đối với các sản phẩm nội địa tương tự.

3.Sự biện hộ theo các ngoại lệ của Điều XX GATT

Khả năng áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại của một thành viên luôn bị giới hạn. Điều XX GATT mặc dù quy định các ngoại lệ chung, nhưng đòi hỏi những điều kiện áp dụng nghiêm ngặt. Điều khoản này liệt kê các trường hợp liên quan đến chính sách công rất cụ thể, có thể biện minh cho việc làm trái với các nguyên tắc của GATT. Các trường hợp này bao gồm: bảo vệ đạo đức xã hội - thể hiện trong đoạn (a); bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của người, động vật và thực vật - thể hiện trong đoạn (b); và các biện pháp liên quan đến lao động tù nhân - thể hiện trong đoạn (e). Việc sử dụng các biện pháp nêu trên phải tuân theo các điều kiện áp dụng được quy định ở phần đầu của Điều XX, đó là: tuân thủ nguyên tắc không phân biệt đối xử, và không tạo thành rào cản trá hình đối với thương mại quốc tế. Vì thế, ngay cả khi Điều XX không bao gồm khoản nào về xã hội, thì sự vi phạm các quyền xã hội cũng có thể được điều chỉnh bằng quy định hiện hành về các ngoại lệ cụ thể Trong khi đoạn (a) và (e) hiếm khi được áp dụng hoặc đề cập trong bất kì báo cáo nào của các cơ quan giải quyết tranh chấp, thì đoạn (b) lại thường được viện dẫn để biện minh cho các biện pháp về bảo vệ sức khoẻ. Tuy nhiên, đoạn (a) Điều XX vẫn có thể được viện dẫn làm cơ sở pháp lí. Ngoại lệ về đạo đức xã hội được thể hiện trong đoạn (a) có thể được diễn giải như việc cấm văn hoá phẩm đồi trụy, vì chúng được sản xuất dựa trên sự ngược đãi nghiêm trọng phụ nữ, và thậm chí cả trẻ em. Đoạn (e) bao gồm các biện pháp có liên quan tới các sản phẩm được sản xuất bằng sức lao động của tù nhân. Ngoại lệ này thậm chí có thể được mở rộng cho các trường hợp lao động nô dịch. Cả hai ngoại lệ (a) và (e) đều có khả năng được sử dụng để biện minh cho các biện pháp hạn chế thương mại liên quan đến việc vi phạm các tiêu chuẩn lao động và tiêu chuẩn xã hội. Tương tự, đoạn (b) có thể được sử dụng trong các trường hợp liên quan đến bảo vệ nhân quyền, để biện minh cho các biện pháp về y tế công cộng, cũng là khía cạnh của nhân quyền liên quan đến sức khoẻ. Tương tự, ngoại lệ này cũng bao gồm việc điều chỉnh các biện pháp phòng ngừa các điều kiện làm việc đặc biệt nguy hiểm cho con người. Trong bất kì trường hợp nào, các điều kiện áp dụng của Điều XX luôn nhằm mục đích tránh việc lạm dụng các ngoại lệ này, bằng cách đòi hỏi đảm bảo hai điều kiện: (i) Không được phép áp dụng biện pháp theo cách tùy tiện và phân biệt đối xử giữa các thành viên có điều kiện tương tự; và (ii) Không được phép áp dụng các biện pháp này như các công cụ hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế.

4. Các án lệ của GATT

Người ta sử dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu đối với các sản phẩm được sản xuất dưới điều kiện lao động như thế, nhằm đòi hỏi việc sản xuất hàng hoá phải đảm bảo thoả mãn các tiêu chuẩn về PPM. Theo các quy định của GATT, nguyên tắc không phân biệt đối xử đã bị vi phạm thông qua hạn chế về PPM, vốn được áp dụng cho các sản phẩm tương tự. Các sản phẩm tương tự được xác định thông qua chất lượng, chức năng hoặc mục đích sử dụng cuối cùng trên thị trường. PPM thường không ảnh hưởng gì đến các tiêu chuẩn này, do đó không được phép đối xử khác nhau với các sản phẩm tương tự dựa theo PPM. Ví dụ, việc một thành viên cấm nhập khẩu hoặc áp thuế nhập khẩu bổ sung đối với sản phảm giày dép được sản xuất bởi lao động trẻ em là vi phạm Điều III hoặc Điều XI GATT. Trên thực tế, không có sự khác biệt về chất lượng, chức năng hoặc công dụng giữa các sản phẩm giày dép được sản xuất bởi lao động của người trưởng thành và lao động trẻ em. Một số nhà bình luận cho rằng các ngoại lệ tại đoạn (e) của Điều XX có thể sẽ cho phép PPM và các biện pháp liên quan đến các sản phẩm của lao động tù nhân trở thành ngoại lệ hợp lệ. Nhưng thực tế là cho đến nay, điều khoản này chưa bao giờ được viện dẫn hoặc giải quyết bởi DSB. Tuy nhiên, trong vụ tôm của Hoa Kỳ (US-Shrimp), Cơ quan phúc thẩm đã nêu trong phần chú thích rằng điều khoản này không cho phép các nước nhập khẩu được nhập khẩu các sản phẩm được sản xuất theo chính sách về lao động tù nhân của nước xuất khẩu. Vì thế, có thể hiểu là điều khoản này sẽ được giải thích một cách rất hạn chế. Tuy nhiên, một thành viên sẽ được phép bảo vệ các mối quan tâm phi thương mại của mình theo Điều XX, trong trường hợp cụ thể của chính thành viên đó. Ví dụ, việc áp đặt các biện pháp để bảo vệ sức khoẻ công nhân trong một nước là được cho phép theo luật WTO. Đó là vụ A-mi-ăng (Asbestos), theo đó lệnh cấm nhập khẩu a-mi-ăng chứa các chất độc hại là để nhằm bảo vệ sức khoẻ của công nhân Pháp. Mặt khác, quan điểm của án lệ là hạn chế thừa nhận các biện pháp có tính trị ngoại lãnh thổ, được biết đến như việc buộc các thành viên khác của WTO phải áp dụng các tiêu chuẩn quốc gia của nước đưa ra sự áp đặt. Vụ cá ngừ của Hoa Kỳ đã thực sự nhấn mạnh việc cấm các biện pháp có tính trị ngoại lãnh thổ. Nếu không, các biện pháp này sẽ cho phép các thành viên đơn phương quyết định các chính sách mà các thành viên khác phải làm theo, để được hưởng các quyền theo GATT. Nếu xem xét phạm vi áp dụng theo lãnh thổ của các nghĩa vụ nhân quyền, thì nhân quyền cần được đảm bảo cho tất cả mọi người trong một quốc gia, nhưng nhìn chung không có nghĩa vụ nào đòi hỏi việc khuyến khích hoặc bảo vệ nhân quyền ở ngoài lãnh thổ. Vì thế, việc cấm lao động trẻ em được áp dụng cho mọi trẻ em trong lãnh thổ một thành viên nào đó, và không thể được thực thi ở ngoài lãnh thổ. Vấn đề áp dụng luật quốc gia ở ngoài lãnh thổ thực sự là vấn đề khó giải quyết theo luật quốc tế, vì nó vi  WTO, vụ United States-Import Prohibition of Certain Shrimp and Shrimp Products, DS58, phạm chủ quyền của các quốc gia khác. Tuy nhiên, một số công ước về nhân quyền đưa ra nghĩa vụ áp dụng nhân quyền phổ cập nhằm thúc đẩy nhân quyền thông qua hợp tác quốc tế, như Tuyên bố của Liên hợp quốc về quyền phát triển. Tuyên bố này nêu rõ nghĩa vụ thúc đẩy nhân quyền trên bình diện quốc tế. Việc này có thể được thực hiện tại các tổ chức quốc tế, như WTO. Mặc dù vậy, nó không cho phép thực thi luật quốc gia ở ngoài lãnh thổ, vì điều này vi phạm chủ quyền của các quốc gia khác.

5. Hiệp định thương mại song phương và khu vực

Các hiệp định thương mại khu vực và hiệp định thương mại song phương ngày càng phát triển mạnh mẽ. Hầu hết các thành viên của WTO đều theo đuổi các hiệp định song phương hoặc khu vực. Có thể nói tới Hiệp định hợp tác lao động Bắc Mỹ (‘NAALC’), được đàm phán với tư cách là Hiệp định bổ sung của Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) và có hiệu lực vào ngày 1/1/1994. Hiệp định bao gồm 11 nguyên tắc lao động cơ bản và yêu cầu các nước Mê-hi-cô, Hoa Kỳ và Ca-na-đa cải thiện tình hình thực thi các tiêu chuẩn và quyền lao động nêu trên. Chính xác hơn, trong phần mở đầu của NAALC đã khẳng định tầm quan trọng của việc cải thiện tiêu chuẩn lao động và sinh hoạt. Bản thân Hiệp định đòi hỏi ‘Các bên tham gia thúc đẩy việc tuân thủ và thực thi hiệu quả luật lao động thông qua các hành động phù hợp của chính phủ’ và vạch ra các lĩnh vực khác nhau theo đó các bên nên hợp tác để đạt được sự phát triển. Mặc dù vậy, NAALC không thiết lập một bộ các quyền và tiêu chuẩn lao động quốc tế mà chỉ đề cập các luật lao động quốc gia và đòi hỏi các bên tham gia đảm bảo rằng luật lao động của từng nước đưa ra các tiêu chuẩn lao động cao. Hơn nữa, Hiệp định này đòi hỏi các bên tham gia phải quy định các thủ tục khiếu nại đối với các vi phạm luật quốc gia. Tuy nhiên, cơ chế thực thi còn yếu, Toà án trong khuôn khổ NAALC chưa xét xử vụ nào mà dẫn đến việc bên vi phạm phải thi hành nghĩa vụ sửa đổi các quy định về lao động của nước mình. Sau Hiệp định NAFTA, Hoa Kỳ đã đàm phán nhiều hiệp định khác có các điều khoản cụ thể về quyền lao động. Hầu hết các điều khoản của Hoa Kỳ giới hạn trong cam kết của các bên về việc thực thi luật lao động trong NAFTA là hiệp định thương mại tự do có phạm vi rộng, bao hàm hoạt động thương mại hàng hoá và dịch vụ, sở hữu trí tuệ, đầu tư, mua sắm chính phủ, tự do dịch chuyển của thương nhân, cạnh tranh, và một cơ chế giải quyết tranh chấp. Xem Mục 3 - Chương 3 của Giáo trình. Ví dụ, Hiệp định thương mại tự do Trung Mỹ - Cộng hoà Đô-mi-ni-ca (‘CAFTA’), bao gồm Hoa Kỳ, Hôn-đu-rát, Ni-ca-ra-goa, Cốt-xta Ri-ca, Goa-tê-ma-la, En San-va-đo và Cộng hoà Đô-mi-ni-ca, quy định về quyền của người lao động. Nội dung mấu chốt của Hiệp định này là các nghĩa vụ lao động. Các điều khoản bao gồm cam kết của các nước CAFTA về việc tăng khả năng cho người lao động tiếp cận các thủ tục bảo vệ quyền lợi của họ. Nhìn chung, Hiệp định đòi hỏi các bên thực thi luật lao động trong nước của mình, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Các bên cũng được yêu cầu phải làm việc với ILO nhằm cải thiện luật lao động hiện hành và vấn đề thực thi. Mặc dù vậy, Công ước cơ bản của ILO về phân biệt đối xử lại không được nhắc đến trong Hiệp định. Bên cạnh đó, các nước không có nghĩa vụ phải đưa ra các thủ tục đảm bảo hoặc biện pháp trừng phạt để điều chỉnh các hành vi vi phạm. Thị trường chung Nam Mỹ (‘MERCOSUR’) là liên minh hải quan với sự tham gia của các nước Ác -hen-ti-na, Brazil, Pa-ra-goay và U-ru-goay, có hiệu lực năm 1991. Bốn chính phủ thành viên kí bản Tuyên bố về xã hội và lao động 1998 - một bản Tuyên bố có phạm vi rất rộng. Trên thực tế, bản Tuyên bố vượt quá các công ước cơ bản của ILO và bao gồm cả đối thoại xã hội, việc làm, đề bạt, bảo trợ thất nghiệp, an toàn và y tế, và bảo trợ xã hội. Tuyên bố cũng bắt buộc thành lập Ủy ban để theo dõi việc tuân thủ Tuyên bố và đưa ra các khuyến nghị về các biện pháp đảm bảo việc tuân thủ. Liên minh châu Âu (‘EU’) đã đặc biệt tích cực trong lĩnh vực này, với tuyên bố của Ủy ban châu Âu về việc thúc đẩy mối liên kết giữa thương mại và phát triển xã hội theo nhiều cách. Xuất phát điểm từ Hiệp định than thép châu Âu 1951, EU đã trở thành một trong những ví dụ sớm nhất và phát triển nhất về hiệp định thương mại. Kể từ đó, EU đã phát triển cả về số lượng thành viên lẫn phạm vi áp dụng và trở thành thị trường chung về hàng hoá và dịch vụ với sự tự do dịch chuyển lao động trong nội bộ EU. Trong các hiệp định thương mại, ‘Chương về chính sách xã hội’ đã quy định cụ thể các quyền cơ bản của người lao động cần được tôn trọng trên toàn lãnh thổ các nước thành viên EU. Tương tự, sự quan tâm hàng đầu của EU tới các vấn đề xã hội cũng được nhấn mạnh trong các hiệp định giữa EU và các nước khác. Mặc dù vậy, các hiệp định song phương của EU lại tập trung nhiều hơn vào vấn đề nhân quyền, phát triển, hợp tác kĩ thuật và đối thoại chính trị. Đa số các hiệp định đều có đoạn nói rằng các bên tham gia sẽ phải tôn trọng nhân quyền, nhưng không có các điều khoản cụ thể và rõ ràng về thực thi quyền lao động.

Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)