1. Tiền đặt cọc thuê nhà - có đòi lại được không ?

Chào luật sư, xin luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi có thuê gian nhà để kinh doanh, hợp đồng ký 3 năm, giá thuê là 60 triệu/ năm, trả tiền 6 tháng một và có đặt cọc trước 1 tháng. Hợp đồng ghi là bên nào sai hợp đồng bên đó phải bồi thường thiệt hại, mức bồi thường do 2 bên thỏa thuận. Vì kinh doanh quần áo nên tôi phải khoan tường và chủ nhà cũng đồng ý.
Ngày 20/4 vừa rồi tôi mới thuê được 5 tháng, nhưng do địa điểm khuất nên buôn bán lỗ vốn và tôi cũng có nhu cầu sát nhập với cơ sở khác để tiện quản lý nên tôi đã xin chủ nhà chuyển cửa hàng và chủ nhà cũng đã đồng ý xem xét lại số tiền còn lại. Sau đó 1 tuần chủ nhà gọi điện báo tôi là tiền đặt cọc và tiền nhà 1 tháng bên đấy sẽ không hoàn lại cho tôi, ngoài ra tôi phải trả tiền điện của tháng vừa rồi.
Vậy xin luật sư tư vấn giúp tôi xem có thể lấy lại được 1 trong 2 khoản tiền trên được không?
Người gửi: H.V

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Về vấn đề này chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 428 Bộ luật Dân sự số 2015 của Quốc hội thì:

"1. Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

2. Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

3. Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện.

4. Bên bị thiệt hại do hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng của bên kia được bồi thường.

5. Trường hợp việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng không có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này thì bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ và phải thực hiện trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan do không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng."

Như vậy, theo như quy định trên, bên thuê nhà chỉ được chấm dứt hợp đồng thuê nhà khi bên cho thuê có 1 trong các hành vi được nêu tại khoản 2 như trên, và đồng thời bên thuê nhà phải thực hiện nghĩa vụ báo trước 1 tháng.

Còn trong trường hợp của bạn, vì lý do khách quan mà bạn muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà, trong khi trong hợp đồng thuê nhà nêu rõ bên nào thực hiện sai hợp đồng thì phải bồi thường. Như vậy, việc chấm dứt hợp đồng của bạn là không đúng quy định của pháp luật, và bạn phải chịu trách nhiệm bồi thường theo trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tại Điều 428 Bộ luật Dân sự 2015. Trong trường hợp này, nếu không thỏa thuận được với chủ nhà, bạn có thể sẽ bị mất số tiền đặt cọc trên, Bởi theo quy định của pháp luật, "đặt cọc" là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác trong một thời hạn để đảm bảo giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự , trong hợp đồng thuê nhà ở, bản chất của việc đặt cọc là nhằm bảo đảm cho việc thực hiện đúng theo hợp đồng thuê nhà của bên thuê: thuê theo đúng thời hạn đã giao kết, bảo quản các tài sản của bên cho thuê.... Như vậy, khi bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà ở thì bạn rất có thể bị mất khoản tiền đặt cọc nếu không thể thòa thuận với chủ nhà.

Tuy nhiên, khi xác định là bạn đã đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê trái pháp luật và bị mất khoản tiền đặt cọc trên, chủ nhà có nghĩa vụ phải giao trả tiền thuê tháng sau cho bạn. Vì thời điểm được xác định hợp đồng thuê tài sản được chấm dứt thì lúc bạn và chủ nhà thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại, vì vậy, bạn không có nghĩa vụ phải trả tiền thuê nhà tháng sau cho bên cho thuê nhà.

Trong trường hợp này, hợp đồng thuê nhà của bạn xác định thời hạn là 3 năm, nếu không được công chứng thì sẽ bị coi là hợp đồng dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức. Theo đó, Bộ luật Dân sự về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu thì:

"2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền..."

Như vậy, nếu hợp đồng thuê nhà của bạn không được công chứng thì trường hợp này bạn sẽ được trả lại tiền đặt cọc và số tiền 1 tháng sau đó.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

>> Xem thêm:  Mẫu giấy biên nhận, đặt cọc bản cập nhật mới nhất năm 2021 ? Mức phạt vi phạm hợp đồng đặt cọc

2. Làm sao rút được tiền đặt cọc khi nhờ xin việc, chạy việc ?

Thưa Luật sư, tôi có thắc mắc muốn nhờ công ty luật giải đáp giúp như sau: Tháng 11/2014 tôi có ký hợp đồng thoả thuận với 1 người hứa sẽ xin việc cho vào ngân hàng. Người này hứa là sẽ xin cho tôi vào ngân hàng dưới hình thức là hợp đồng làm việc dài hạn và thi tuyển trong tháng 11 hoặc tháng 12 và tôi phải đặt trước số tiền là 220,000,000 đồng.
Tôi muốn đòi lại phải làm sao ?
Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

Điều 280. Thực hiện nghĩa vụ trả tiền

1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thoả thuận.

2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Điều 281. Nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc

Bộ luật hình sự 2015 quy định:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Trường hợp bạn dùng tiền để xin việc là hành vi vi phạm pháp luật. Nếu bạn có bằng chứng, chứng cứ chứng minh về việc người này nhận tiền của bạn thì bạn có thể khởi kiện hoặc tố cáo được. Tuy nhiên nếu có nội dung về việc bạn nhờ chạy tiền thì bạn sẽ phạm tội đưa hối lộ và người đó phạm tội nhận hối lộ, phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi này. Giao dịch được coi là vô hiệu trước pháp luật và bên nhận tiền phải trả lại tiền cho bạn.

Nếu nội dung nhận tiền chỉ là giao mượn tiền thông thường thì bạn có thể đòi được.

Hồ sơ khởi kiện gồm:

- Đơn khởi kiện (Mẫu đơn)

- Các giấy tờ liên quan đến vụ kiện ( giấy tờ sở hữu nhà, đất, hợp đồng liên quan…)

- Đối với cá nhân: Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu (bản sao có công chứng).

- Đối với pháp nhân: Giấy tờ về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác như: giấy phép, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc ủy quyền đại diện doanh nghiệp (bản sao có công chứng).

- Bản kê các giấy tờ nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Lưu ý: Các giấy tờ nêu trên là văn bản, giấy tờ tiếng nước ngoài đều phải được dịch sang tiếng Việt Nam. Do cơ quan, tổ chức có chức năng dịch thuật, kèm theo bản gốc.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Pháp luật hiện hành quy định về đặt cọc mua bán nhà ? Tư vấn mua bán nhà chung cư ?

3. Bên mua vi phạm hợp đồng có lấy lại được tiền đặt cọc từ chủ đầu tư không ?

Chào Luật Sư! Cho tôi được hỏi: Vợ chồng tôi có mua 1 mảnh đất 150m2 qua 1 công ty môi giới. Mảnh đất này nằm trong khu dự án, và được mua lại của một người khác không phải từ chủ đầu tư, mảnh đất này trị giá 920 triệu chưa có sồ hồng. Nhưng khi bên môi giới và bên người bán nói xây dựng được còn sổ hồng cuối năm sẽ có nên vợ chồng tôi đã đặt cọc 40 triệu đồng từ ngày 5/6/2016 hợp đồng có giá trị 15 ngày.
Sau 15 sẽ chồng tiền đủ( nhưng giữ lại 18 triệu để sau này nhận sổ). Trong hợp đồng có điều khoản trong thời gian hợp đồng nếu bên bán không bán sẽ bồi thường 100% hợp đồng, và ngược lại bên mua không mua sẽ mất cọc. Trong thời gian 15 ngày vợ chồng tôi chưa đủ tiền nên xin trễ 1 tuần, 10 ngày bên bán vẫn chịu. Trong thời gian đó vợ chồng tôi lên gặp chủ đầu tư(CĐT) hỏi về mảnh đất đó thì CĐT nói từ ngày 1/7/2016 không có sồ đỏ thì không được phép xây dựng. Đồng nghĩa là vợ chồng tôi mua sẽ không xây dựng được nhà, nên đã hẹn gặp bên bán để thỏa thuận việc này mà bên bán không chịu gặp, Vợ chồng tôi muốn xin lại tiền cọc nhưng không cho, bắt buộc vợ chồng tôi mua,
Nhờ Luật sư tư vấn trường hợp này có lấy lại tiền cọc không ạ?
Mong hồi âm sớm. Tôi chân thành cảm ơn!

Bên mua vi phạm hợp đồng có lấy lại được tiền đặt cọc từ chủ đầu tư không ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 358 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội quy định về vấn đề đặt cọc như sau:

Điều 328. Đặt cọc

1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Điều 412 Bộ luật dân sự 2015 và Luật đất đai số 45/2013/QH13 của Quốc hội quy định về nguyên tắc thực hiện hợp đồng dân sự như sau:

"Điều 412. Nguyên tắc thực hiện hợp đồng dân sự

Việc thực hiện hợp đồng phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:

1. Thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thời hạn, phương thức và các thoả thuận khác;

2. Thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau;

3. Không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác."

Theo thông tin bạn cung cấp thì vợ chồng bạn đã đặt cọc 40 triệu đồng từ ngày 5/6/2016 hợp đồng có giá trị 15 ngày. Như vậy, hợp đồng đặt cọc đã được ký kết giữa bạn và bên bán. Trong hợp đồng có điều khoản: trong thời gian hợp đồng nếu bên bán không bán sẽ bồi thường 100% hợp đồng, và ngược lại bên mua không mua sẽ mất cọc. Cũng theo quy định tại khoản 2 Điều 358 thì trong trường hợp hợp đồng dân sự được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc.

Trong trường hợp bạn không mua mảnh đất đó nữa nghĩa là không thực hiện hợp đồng dân sự như đã giao kết. Theo quy định của pháp luật cũng như quy định trong hợp đồng thì số tiền đặt cọc đó sẽ thuộc về bên nhận đặt cọc, tức là bên bán. Như vậy, thì dù cho trong trường hợp này hai bên không thỏa thuận vấn đề bồi thường trong hợp đồng đặt cọc, thì theo quy định của pháp luật, tiền đặt cọc vẫn sẽ thuộc về bên bán do bạn không thực hiện hợp đồng mua đất đó, và đương nhiên bạn sẽ không lấy lại được số tiền này.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Emailđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Ký cược là gì ? Mục đích, nội dung của ký cược ? Hình thức, chủ thể, đối tượng của ký cược

4. Tư vấn về việc đòi tiền đặt cọc khi cho con dâu đi làm nước ngoài ?

Thân gửi các thành viên trong công ty luật Minh Khuê. Hiện tại tôi đang phụ trách một công việc có liên quan đến pháp luật ở xã. Hôm nay tôi viết thư này mong công ty tư vấn giùm tôi xử lý vụ việc như sau: Gia đình bà A có đặt cọc vào 1 ngân hàng số tiền 200 triệu cho con dâu đi làm. Nhưng khi con dâu đi làm được khoảng 3 tháng thì nghỉ việc.
Ngân hàng đã hoàn trả lại số tiền đặt cọc kia vào tài khoản của người con dâu, nhưng gia đình bà A yêu cầu nhiều lần chị con dâu rút tiền về nhưng con dâu không rút mà còn tìm cách trì hoãn với nhiều lý do khác nhau. Khi đi đặt cọc thì có mặt bà A và con dâu, có người đại diện của ngân hàng. Người ký vào biên lai đặt cọc là con dâu. Hiện nay con dâu đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở.
Vậy xin các luật sư tư vấn cho tôi để tôi hướng dẫn gia đình bà A làm đơn lên cấp nào, thủ tục gì để lấy lại số tiền trên.? Bên cạnh đó cần có những quy định gì để kết tội được cô con dâu kia?
Mong sớm nhận được hồi âm của quý công ty.

>> Luật sư tư vấn luật dân sự về đòi tiền đặt cọc, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như nội dung bạn viết thì để đòi lại số tiền mà cô con dâu bà A nhận được khi ngân hàng trả lại tiền đặt cọc thì bà A phải có hợp đồng bảo lãnh việc nộp tiền cho cô con dâu đi làm ở nước ngoài,hoặc có hợp đồng cho vay tiền giữa bà A và con dâu để con dâu đi làm hoặc ở nước ngoài,hoặc nếu không có hợp đồng thì phải có sự thỏa thuận và phải có người làm chứng hoặc có bằng chứng chứng minh bà A đã đưa tiền cho con dâu đi dặt cọc cho ngân hàng để đi làm ở nước ngoài

Trong trường hợp có bằng chứng chứng minh bà A đã đưa tiền cho cô con dâu 200 triệu để đi đặt cọc ngân hàng và khi ngân hàng trả lại tiền thì bà A có quyền yêu cầu con dâu thực hiện nghĩa vụ với mình.Trường hợp con dâu không thực hiên nghĩa vụ của mình thì bà A có quyền khởi kiện ra Tòa để yêu cầu Tòa án giải quyết.theo khoản 3 Điều 25 Văn bản hợp nhất bộ luật tố tụng dân sự số 02/VBHN-VPQH:

Điều 25 Những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa Án

3. Tranh chấp về hợp đồng dân sự.

Cụ thể là bà A sẽ viết đơn gửi ra tòa án nhân dân huyện nơi con dâu bà cư trú( theo quy định của pháp luật đơn khởi kiện phải được gửi cho tòa án nơi bị đơn cư trú( theo khoản 1a Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự)

1. Trình tự thủ tục khởi kiện ra Tòa án:

Về đơn khởi kiện và các chứng cứ kèm theo

Điều 164 Hình thức nội dung đơn khởi kiện

1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi kiện.

2. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

b) Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;

c) Tên, địa chỉ của người khởi kiện;

d) Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có;

đ) Tên, địa chỉ của người bị kiện;

e) Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có;

g) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

h) Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có.

3. Người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; người khởi kiện là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn; trường hợp khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì đơn khởi kiện do người đại diện theo pháp luật của những người này ký tên hoặc điểm chỉ. Kèm theo đơn khởi kiện phải có các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp.

Trường hợp người khởi kiện không biết chữ, không nhìn được, không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì phải có người làm chứng và người này phải ký Xác nhận trước mặt người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp Xã.

Người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp Xã chứng nhận trước mặt người khởi kiện và người làm chứng.

Điều 165 Tài liệu,chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện.

Người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Về hình thức bà A có thể khởi kiện theo Điều 166:

Điều 166 Gửi đơn khởi kiện đến Tòa án

1. Người khởi kiện vụ án gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây:

a) Nộp trực tiếp tại Tòa án;

b) Gửi đến Tòa án qua bưu điện.

2. Ngày khởi kiện được tính từ ngày đương sự nộp đơn tại Tòa án hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi.

Điều 167 Thủ tục nhận đơn khởi kiện.

Tòa án phải nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua bưu điện và phải ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Tòa án phải Xem Xét và có một trong các quyết định sau đây:

1. Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình;

2. Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;

3. Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

2. Bên cạnh đó cần có những quy định gì để kết tội được cô con dâu kia ?

Vì đây là vụ án dân sự không phải là vụ án hình sự nên không kết tội con dâu bà A ,mà bà A chỉ cần gửi đoen khởi kiện công với các giấy tờ,bằng chứng,chúng minh đến Tòa để Tòa căn cứ vào các chứng cứ đó thụ lý và giải quyết vụ án.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Đặt cọc là gì ? Quy định pháp luật về nội dung, mục đích của đặt cọc

5. Không xin được việc hộ, có được đòi lại tiền đặt cọc ?

Thưa Luật sư, tên tôi là: Lê Bá Trung Hộ khẩu thường trú: xã Hoằng Qùy, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa Hiện nay tôi có một câu hỏi xin nhờ Công ty Luật Minh Khuê tư vấn giúp tôi. Cụ thể công việc như sau:

Vợ tôi tên là: Đặng Thị Thảo, đã tốt nghiệp Trường Cao đẳng Y Thanh Hóa. Sau khi tốt nghiệp vợ chồng tôi có nhờ ông Lê Thanh Bình. Hộ khẩu thường trú: Phường Trường Thi, TP Thanh Hóa xin việc giúp vào bệnh viện. Vợ chồng tôi đã đặt cọc cho ông Binh 3 lần tiền: Lần 1: 20 triệu; Lần 2: 25 triệu; Lần 3: 70 triệu. Ông Bình nhận tiền và ghi cho tôi giấy vay nợ với số tiền các lần nhận như trên, tổng cộng 115 triệu. Hẹn trong vòng 6 tháng sẽ thanh toàn lại tiền nếu không xin được việc. ( Giấy vay nợ là giấy viết tay có chữ kí của ông Bình). Thời điểm nhận tiền xin việc là tháng 1/2014. Nhưng đến nay không xin được việc, vợ chồng tôi có đòi lại tiền đặt cọc nhưng ông Bình không trả. Vợ chồng tôi điện thoại thì không cầm máy, đến nhà gặp thì dặn người giúp việc nói là không có ở nhà. Tôi muốn nhờ pháp luật can thiệp để lấy lại tiền đặt cọc liệu có được không? Và nếu được thì tôi cần làm những thủ tục gì?

Rất mong Công ty Luật Minh Khuê quan tâm và hồi âm sớm giúp tôi. Xin chân thành cảm ơn Luật sư.

- L.B.T

Không xin được việc hộ, có được đòi lại tiền đặt cọc ?

Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến qua tổng đài: 1900.6162

Trả lời :

Điều 128 Bộ luật dân sự 2005 quy định như sau:

Điều 128. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội

Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Giao dịch giữa vợ chồng bạn và ông BÌnh có mục đích là dùng tiền bạc bằng cách nào đó không mang ý nghĩa trong sáng để đưa vợ bạn vào làm việc tại Bệnh viện dễ dàng hơn những người khác, vì thế xét về khía cạnh chuẩn mực đạo đức xã hội pháp luật không bảo về những giao dịch như vậy. Và cũng theo Bộ luật dân sự năm 2015 như trên đã trích thì đó là giao dịch dân sự vô hiệu, các bên phải trả lại cho nhau những gì đã nhận khôi phục lại tình trạng ban đầu. Trong trường hợp của bạn, vì bên kia trốn tránh nên có thể thấy ông Bình không có thiện chí, bạn có thể dùng giấy vay nwoj mà ông Bình đã viết và ký, các cuộc điện thoại, đoạn ghi âm làm chứng cứ để khởi kiện vụ án dân sự đòi lại tài sản

* Thủ tục khởi kiện vụ án dân sự:

Hồ sơ bao gồm:

- Đơn khởi kiện vụ án dân sự.

- Các giấy tờ liên quan đến vụ kiện

- Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu (bản sao có công chứng).

- Bản kê các giấy tờ nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Hồ sơ được gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến tòa án có thẩm quyền.

Về Trách nhiệm hình sự của ông Bình:

Điều 140
Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Do đó, hành vi của ông Bình là dùng uy tín cá nhân để đảm bảo việc xin việc cho vợ bạn, nhận tiền của vợ chồng bạn và không thực hiện thỏa thuận, bây giờ có dấu hiệu không trả số tiền (chiếm đoạt số tiền đó). Giá trị tài sản thỏa mãn Điều 140 (115 triệu đồng). Do đó, hành vi của ông Bình có dấu hiệu cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

* Thủ tục tố cáo hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đến cơ quan công an, viện kiểm sát:

Hồ sơ bao gồm:

- Đơn tố cáo và đề nghị khởi tố gửi đến Cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân

- Bằng chứng, chứng cứ kèm theo (nếu có)

Như vậy, trường hợp bạn có đầy đủ chứng cứ bạn có thể làm đơn khởi kiện hoặc tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền (Tòa án nhân dân cấp huyện hoặc cơ quan công an, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi ông Bình cư trú) về hành vi của anh bạn.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ emaill: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Không trúng thầu đấu giá quyền sử dụng đất có được trả lại tiền đặt cọc không ? Quy định về đấu thầu đất ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Có dược đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà?

Trả lời:

Trong hợp đồng thuê nhà, bên thuê có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên cho thuê vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Câu hỏi: Phải làm gì khi muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng khi 1 bên vi phạm hợp đồng?

Trả lời:

Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Câu hỏi: Hợp đồng bị đơn phương chấm dứt từ thời điểm nào?

Trả lời:

Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt.