Thưa luật sư, xin hỏi: Hai công ty ký với nhau hợp đồng bảo hiểm, trị giá hợp đồng 6 tỷ. Trong hợp đồng quy định bên B nếu tuân thủ đúng hợp đồng bảo hiểm thì khi thanh lý hợp đồng sẽ được trích một khoản tiền thưởng là 1 tỷ đồng. Vậy thì có cần phải xuất hóa đơn đối với khoản tiền thưởng đó hay không? Cảm ơn! Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Doanh nghiệp của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp về tiền thưởng, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
1. Cơ sở pháp lý
- Thông tư số 39/2014/TT-BTC
2. Tiền thưởng trong hợp đồng có phải xuất hóa đơn?
Khi doanh nghiệp nhận được một khoản thu nhập, kế toán quan điểm rằng phải xuất hóa đơn về các khoản thu về đó. Nhưng Căn cứ vào Điều 5 Thông tư 219/2013/TT-BTC có quy định về các khoản thu nhập sau sẽ không phải xuất hóa đơn như sau:
- Thu về bồi thường bằng tiền: tiền thưởng, tiền hỗ trợ, tiền chuyển nhượng quyền phát thải và các khoản thu tài chính khác (trừ bồi thường bằng hàng).
- Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mua dịch vụ của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cư trú tại Việt Nam, mà các dịch vụ này được thực hiện ở ngoài Việt Nam, dịch vụ thuê đường truyền dẫn và băng tần vệ tinh của nước ngoài theo quy định của pháp luật.
- Mua tài sản của tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế GTGT.
- Chuyển nhượng dự án đầu tư để sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng cho doanh nghiệp, hợp tác xã.
- Tài sản cố định đang sử dụng, đã trích khấu hao khi điều chuyển giữa cơ sở kinh doanh và các đơn vị thành viên do một cơ sở kinh doanh sở hữu 100% vốn hoặc giữa các đơn vị thành viên do một cơ sở kinh doanh sở hữu 100% vốn để phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT (phải có Quyết định hoặc Lệnh điều chuyển tài sản kèm theo bộ hồ sơ nguồn gốc tài sản.
Khoản 1 Điều 5 Thông tư 219/2013/TT-BTC quy định như sau:
“Tổ chức, cá nhân nhận các khoản thu về bồi thường bằng tiền (bao gồm cả tiền bồi thường về đất và tài sản trên đất khi bị thu hồi đất theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền), tiền thưởng, tiền hỗ trợ, tiền chuyển nhượng quyền phát thải và các khoản thu tài chính khác.
Cơ sở kinh doanh khi nhận khoản tiền thu về bồi thường, tiền thưởng, tiền hỗ trợ nhận được, tiền chuyển nhượng quyền phát thải và các khoản thu tài chính khác thì lập chứng từ thu theo quy định. Đối với cơ sở kinh doanh chi tiền, căn cứ mục đích chi để lập chứng từ chi tiền.
Trường hợp bồi thường bằng hàng hoá, dịch vụ, cơ sở bồi thường phải lập hoá đơn và kê khai, tính, nộp thuế GTGT như đối với bán hàng hoá, dịch vụ; cơ sở nhận bồi thường kê khai, khấu trừ theo quy định.
Trường hợp cơ sở kinh doanh nhận tiền của tổ chức, cá nhân để thực hiện dịch vụ cho tổ chức, cá nhân như sửa chữa, bảo hành, khuyến mại, quảng cáo thì phải kê khai, nộp thuế theo quy định...”
Căn cứ Khoản 1b Điều 16 Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014
“Người bán phải lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả các trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ (trừ hàng hóa luân chuyển nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất); xuất hàng hóa dưới các hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả hàng hóa.
Nội dung trên hóa đơn phải đúng nội dung nghiệp vụ kinh tế phát sinh; không được tẩy xóa, sửa chữa; phải dùng cùng màu mực, loại mực không phai, không sử dụng mực đỏ; chữ số và chữ viết phải liên tục, không ngắt quãng, không viết hoặc in đè lên chữ in sẵn và gạch chéo phần còn trống (nếu có). Trường hợp hóa đơn tự in hoặc hóa đơn đặt in được lập bằng máy tính nếu có phần còn trống trên hóa đơn thì không phải gạch chéo”.
Như vậy, căn cứ theo quy định trên khi công ty thực hiện chính sách thưởng cho khách hàng trong trường hợp khách hàng thanh toán tuân thủ đúng điều kiện hợp đồng bảo hiểm quy định thì công ty không phải lập hóa đơn mà căn cứ vào mục đích chi tiền để lập chứng từ chi tiền theo quy định.
3. Tiền phạt theo hợp đồng có cần xuất hóa đơn không?
4. Nhận tiền tài trợ có phải xuất hoá đơn giá trị gia tăng (GTGT) không?
Hợp đồng tài trợ là loại hợp đồng được xếp vào hợp đồng dân sự, với nội dung chính là ghi nhận sự thỏa thuận, nhất trí của các bên đối với vấn đề tài trợ để thực hiện chương trình hoặc sự kiện.
4.1. Hình thức hợp đồng tài trợ
Pháp luật dân sự thừa nhận hợp đồng có thể được thể hiện dưới ba dạng: văn bản, lời nói hoặc thông qua hành vi trên thực tế.
Đối với hợp đồng tài trợ thì các chủ thể không nhất thiết phải lập thành văn bản, và đây cũng không thuộc trường hợp hợp đồng bát buộc phải đi công chứng. Do vậy, các chủ thể có thể giao kết hợp đồng tài trợ thông qua lời nói hoặc thực hiện ngay các hành vi cụ thể.
4.2. Nội dung hợp đồng
Hợp đồng sẽ bao gồm tất cả các điều khoản do hai bên tự thỏa thuận với nhau dựa trên nguyên tắc bình đẳng với nhau.
Trong hợp đồng tài trợ cũng vậy, nội dung hợp đồng chủ yếu sẽ đề cập đến các quyền và nghĩa vụ mà hai bên phải thực hiện đối với nhau, nội dung thực hiện cần đảm bảo là phù hợp với khả năng của mỗi bên, không vi phạm quy định của pháp luật và trái với đạo đức xã hội.
Trường hợp hợp đồng văn bản bắt buộc phải công chứng, chứng thực thì thời gian phát sinh hiệu lực sẽ bắt đầu từ ngày hợp đồng được công chứng, chứng thực theo quy định pháp luật.
4.3. Xuất hoá đơn giá trị gia tăng (GTGT)
Theo quy định hiện hành, các trường hợp không phải xuất hóa đơn bao gồm:
Điều 5 Thông tư 219/2013/TT-BTC như quy định ở trên
Thông tư 119/2014/TT-BTC quy định những trường hợp không phải xuất hóa đơn như sau:
- Hàng hóa luân chuyển nội bộ như hàng hoá được xuất để chuyển kho nội bộ, xuất vật tư, bán thành phẩm, để tiếp tục quá trình sản xuất trong một cơ sở sản xuất, kinh doanh hoặc hàng hoá, dịch vụ do cơ sở kinh doanh xuất hoặc cung ứng sử dụng phục vụ hoạt động kinh doanh thì không phải tính, nộp thuế GTGT.
- Riêng đối với cơ sở kinh doanh có sử dụng hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng nội bộ, luân chuyển nội bộ phục vụ cho sản xuất kinh doanh như vận tải, hàng không, đường sắt, bưu chính viễn thông không phải tính thuế GTGT đầu ra, cơ sở kinh doanh phải có văn bản quy định rõ đối tượng và mức khống chế hàng hoá dịch vụ sử dụng nội bộ theo thẩm quyền quy định.
- Cơ sở kinh doanh tự sản xuất, xây dựng tài sản cố định (tài sản cố định tự làm) để phục vụ sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT thì khi hoàn thành, nghiệm thu, bàn giao, cơ sở kinh doanh không phải lập hoá đơn.
- Xuất máy móc, thiết bị, vật tư, hàng hóa dưới hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả, nếu có hợp đồng và các chứng từ liên quan đến giao dịch phù hợp, cơ sở kinh doanh không phải lập hóa đơn, tính, nộp thuế GTGT.
Căn cứ tại Khoản 5, Điều 7 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng (GTGT):
“5. Đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại theo quy định của pháp luật về thương mại, giá tính thuế được xác định bằng không (0); trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại nhưng không thực hiện theo quy định của pháp luật về thương mại thì phải kê khai, tính nộp thuế như hàng hóa, dịch vụ dùng để tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng, cho”.
Căn cứ Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/2/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế GTGT quy định:
Tại Điểm a, Khoản 7, Điều 3 sửa đổi, bổ sung Điểm b, Khoản 1, Điều 16 (đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 3 Điều 5 Thông tư số 119/2014/TT-BTC) như sau:
“b) Người bán phải lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ, bao gồm cả các trường hợp hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu; hàng hoá, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động (trừ hàng hoá luân chuyển nội bộ, tiêu dùng nội bộ để tiếp tục quá trình sản xuất)…”.
Tại Khoản 9, Điều 3 Sửa đổi, bổ sung Điểm 2.4 Phụ lục 4 như sau:
“2.4. Sử dụng hoá đơn, chứng từ đối với hàng hoá, dịch vụ khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu, cho, biếu, tặng đối với tổ chức kê khai, nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ:
a) Đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại theo quy định của pháp luật về thương mại thì phải lập hoá đơn, trên hoá đơn ghi tên và số lượng hàng hoá, ghi rõ là hàng khuyến mại, quảng cáo, hàng mẫu và thực hiện theo hướng dẫn của pháp luật về thuế GTGT.
Đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động thì phải lập hoá đơn GTGT (hoặc hoá đơn bán hàng), trên hoá đơn ghi đầy đủ các chỉ tiêu và tính thuế GTGT như hoá đơn xuất bán hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng.”.
Như vậy, khi thực hiện tài trợ, đơn vị vẫn cần phải lập hóa đơn, trên hóa đơn ghi đầy đủ các chỉ tiêu và tính thuế GTGT như xuất bán hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê