Phần thứ nhất

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

I. KHÁI NIỆM CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, CÔNG VỤ

1. Khái niệm công vụ

- Công vụ là loại lao động đặc thù để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, thi hành pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống và phục vụ nhân dân của bộ phận nhân lực trong bộ máy nhà nước[1].

Là hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của công chức trong các công sở nhằm giải quyết quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với công dân. Hoạt động công vụ bao gồm: tổ chức công sở, trách nhiệm của công chức khi thi hành công vụ, quan hệ trong công vụ, thủ tục hành chính[2].

- Ở nước ta, công vụ được xem là một loại lao động đặc thù để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, để thi hành pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống và để quản lý, sử dụng có hiệu quả công sản và ngân sách nhà nước phục vụ nhiệm vụ chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước giao. Hoạt động công vụ, do đó được định nghĩa là: "chức năng tổ chức và hoạt động quản lý nhằm ổn định và phát triển và đời sống nhân dân thông qua các công sở, đơn vị phục vụ và toàn thể cán bộ công nhân viên nhà nước. Theo nghĩa rộng, là toàn thể các công chức làm việc thường xuyên trong bộ máy nhà nước ở Trung ương và các cơ quan chính quyền địa phương. Theo nghĩa hẹp, là toàn bộ các quy chế công chức”[3].

- Công vụ là một loại hoạt động mang tính quyền lực và pháp lý, do đội ngũ công chức, sử dụng ngân sách nhà nước để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong việc quản lý toàn diện các mặt của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội của một quốc gia.

>> Xem thêm:  Quyết định sai luật mà cấp trên vẫn thực hiện thì cấp dưới có liên đới chịu trách nhiệm không?

2. Nền công vụ

Công vụ là một phạm trù chung, quan niệm chung mang tính khái quát, còn nền công vụ là khái niệm cụ thể, bao gồm các yếu tố sau:

- Thể chế, chính sách về công vụ, công chức;

- Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức;

- Hệ thống tổ chức, quản lý công chức, công sở;

- Tổ chức công sở và hiện đại hóa công sở.

Như vậy, nền công vụ mang tính tổng hợp các bộ phận cấu thành, bao gồm cả về thể chế, về đội ngũ, về tổ chức và những điều kiện để thực thi công vụ.

Công vụ là hoạt động phục vụ nhà nước, được sử dụng quyền lực công, được đảm bảo bằng ngân sách Nhà nước, mang tính thường xuyên liên tục trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Nền công vụ là hệ thống những luật lệ, những qui tắc để đảm bảo cho hoạt động thực thi công vụ. Nền công vụ bao gồm các thể chế, hệ thống tổ chức, đội ngũ cán bộ, công chức và những điều kiện làm việc của cơ quan công quyền.

3. Cán bộ

Khái niệm “cán bộ” (cadres) được sử dụng khá lâu tại các nước xã hội chủ nghĩa và bao hàm một diện rất rộng các loại nhân sự thuộc khu vực Nhà nước và các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Thuật ngữ khi đó thường dùng là “cán bộ, công nhân viên chức”, bao gồm tất cả những người làm công hưởng lương từ Nhà nước, từ những người đừng đầu một cơ quan tới các nhân viên phục vụ như lái xe, bảo vệ hay lao động tạp vụ. Sự đánh đồng như vậy dẫn tới việc không phân định rõ ràng về chức năng và nhiệm vụ, không phân biệt rõ những người thực thi chức năng quản lý nhà nước và những người cung ứng dịch vụ công trong bộ máy nhà nước, thậm chí gây nhầm lẫn trong hoạt động cũng như hành xử công vụ. Thực tiễn cho thấy, ngay cả nhiều quy định về kỉ luật cán bộ cũng khó thực thi bởi chính sự mơ hồ và dễ gây lẫn lộn trong khái niệm này.

>> Xem thêm:  Cán bộ, công chức, viên chức có được mua cổ phần trong công ty cổ phần không ?

Cùng với xu hướng toàn cầu hóa về kinh tế; những thành tựu của sự phát triển  kinh tế - xã hội, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tác nhiều mặt với các nước; tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại mà nội hàm “cán bộ’ cũng có thay đổi. Ở nước ta, khái niệm “cán bộ” cũng chưa được hiểu thống nhất và được sử dụng chung để ghép với “công chức” , “viên chức”. Theo Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 của nước ta (Điều 1), những người sau đây là cán bộ, công chức: … “là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, bao gồm:

1. Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

2. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

3. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên , được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp ngạch vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước, mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng;

4. Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân;

5.Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng làm việc trong các cơ quan đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp”.

Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 mặc dù đã có sự thay đổi và phát triển rõ rệt so với những qui định cũ, song còn nhiều bất cập như có quá nhiều đối tượng có tính chất và hoạt động khác nhau cùng được điều chỉnh, đồng thời chưa làm rõ và phân tích được những đối tượng đó.

Đến năm 2003, với việc ban hành Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức đã phân định rõ hơn khái niệm công chức, viên chức. Theo đó, công chức là những người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước, viên chức đảm nhiệm những công việc chuyên môn và làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước. Đồng thời, Pháp lệnh cũng đã qui định chế độ công chức dự bị, công chức cấp xã cũng được đưa vào phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh.

Qua qui định của Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 sửa đổi, bổ sung năm 2000 và 2003, có thể xếp những người sau đây là cán bộ:

- Những người qua bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

>> Xem thêm:  Chế độ áp dụng với nhân viên hợp đồng trong đơn vị sự nghiệp công lập?

-  Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;

-  Cán bộ bầu cử tại xã, phường, thị trấn (ngoài số công chức cơ sở mới được bổ sung gần đây).

.Tìm hiểu pháp luật về công chức, viên chức

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900.6162

 

 

4. Công chức

 Các hoạt động thuộc chức năng công vụ do các công chức của bộ máy hành chính nhà nước thực hiện, đó cũng chính là lý do chủ yếu khi nói đến công vụ, các học giả và các nhà hoạt động thực tiễn luôn đề cập đội ngũ công chức. Mặc dù hiện nay quan niệm và phạm vi công chức ở mỗi quốc gia có khác nhau. Có nơi hiểu công chức theo nghĩa rất rộng như ở Pháp là bao gồm tất cả những nhân viên trong bộ máy hành chính nhà nước, tất cả những người tham gia dịch vụ công. Hay hẹp hơn như tại Anh, nơi công chức là những người thay mặt nhà nước giải quyết công việc công, nhất là ở tại Trung ương, nên phạm vi công chức thu hẹp hơn rất nhiều.

Lịch sử phát triển của đọi ngũ công chức Việt nam, có thể đưa ra khái niệm công chức là: “những người được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên, làm việc trong một cơ quan nhà nước, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, trong biên chế nhà nước và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, gồm:

- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp ngạch vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước, mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng;

>> Xem thêm:  Chế độ nâng lương đối với cán bộ , công chức làm việc tại các cơ quan công lập ?

- Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân;

 - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng làm việc trong các cơ quan đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp”.

II. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN PHÁP LUẬT VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM TRƯỚC KHI CÓ LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC; THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC

1. Quá trình phát triển

Ở nước ta, khái niệm công chức được hình thành, gắn với sự phát triển của nền hành chính nhà nước, qua từng giai đoạn khác nhau:

Theo điều 1, Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì công chức là “những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nước đều là công chức theo qui chế này, trừ những trường hợp riêng do Chính phủ qui định”. Như vậy, phạm vi công chức rất hẹp, chỉ là những người được tuyển dụng giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, không bao gồm người làm trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát,…

Sau đó một thời gian dài (từ đầu thập kỷ 60 đến đầu thập kỉ 80 thế ký XX), ở nước ta gần như “không tồn tại khái niệm công chức” mà thay vào đó là khái niệm “cán bộ, công nhân viên chức nhà nước” chung chung, không phân biệt công chức, viên chức”.

Đến năm 1990, do yêu cầu khách quan của tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước và đòi hỏi phải chuẩn hóa đội ngũ cho phù hợp với thông lệ quốc tế, thuật ngữ và khái niệm này được qui định trong Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) như sau: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước, đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước gọi là công chức”. Tuy nhiên tại Điều 2 của Nghị định này, khi qui định những người là công chức và không phải công chức thì lại có một số đối tượng như công an, những người làm nghiên cứu khoa học, giáo viên, nhà báo, nghệ sỹ… chưa được xếp loại nào.

Tháng 2 năm 1998, Pháp lệnh cán bộ, công chức được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa X ban hành. Điều 1 của Pháp lệnh qui định: “Cán bộ, công chức được qui định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước…”. Qui định này khẳng định quan điểm và nhận thức mới về đội ngũ cán bộ công chức trong giai đoạn hiện nay, song vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa cán bộ và công chức.

Tháng 11 năm 1998, Nghị định số 95/CP[4] về “tuyển dụng và sử dụng, quản lý công chức” được ban hành. Tiếp đó cùng với việc sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh cán bộ, công chức vào năm 2003, một số Nghị định, Thông tư mới được ban hành, các Nghị định, Thông tư này đã làm rõ hơn khái niệm công chức bao gồm: “những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên, được phân loại theo một trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước… Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp”. Như vậy, có những điểm chung cơ bản giữa Nghị định này với Nghị định 169/HĐBT trên đây.

>> Xem thêm:  Thắc mắc về phụ cấp lương, phụ cấp chức vụ, phụ cấp kiêm nhiệm theo quy định mới ?

 Ngay từ ngày đầu thành lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm sâu sắc đến hoạt động công vụ và đội ngũ cán bộ, công chức. Trải qua nhiều thời kỳ khác nhau, đội ngũ cán bộ, công chức đã từng bước trưởng thành, công tác quản lý đã dần đi vào nền nếp, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Năm 1998, Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh Cán bộ, công chức (được sửa đổi, bổ sung năm 2000 và năm 2003) là cột mốc pháp lý quan trọng để tổ chức và quản lý các hoạt động công vụ và đội ngũ cán bộ, công chức, xây dựng nền hành chính phục vụ nhân dân, từng bước đổi mới cơ chế quản lý cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước. Qua thời gian thực hiện, cùng với những thành tựu phát triển kinh tế- xã hội, việc thực hiện Pháp lệnh Cán bộ, công chức và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ đã góp phần làm thay đổi diện mạo của nền hành chính, tạo tiền đề cho nước ta hội nhập sâu, rộng trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Từ năm 1998 đến nay, các quy định về chế độ công vụ và quản lý cán bộ, công chức trong giai đoạn này so với giai đoạn trước năm 1998 đã được đổi mới và triển khai có hiệu quả. Quá trình thực hiện vừa bảo đảm được tính ổn định, vừa bảo đảm được sự phát triển của đội ngũ cán bộ, công chức, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Đó là việc phân định cán bộ, công chức làm việc trong khu vực hành chính, khu vực sự nghiệp với những người làm việc trong các tổ chức kinh tế; xác định cụ thể các nhóm cán bộ, công chức phù hợp với đặc thù của thể chế chính trị ở Việt Nam và mô hình tổ chức bộ máy nhà nước; nghĩa vụ, quyền lợi và những việc cán bộ, công chức không được làm đã được quy định. Việc tuyển dụng cán bộ, công chức được chuyển từ chế độ phân phối học sinh tốt nghiệp và phân công công tác theo kế hoạch trước đây sang chế độ thi tuyển theo nguyên tắc cạnh tranh, công khai và khách quan; việc thăng tiến về mặt chức nghiệp của cán bộ, công chức đều phải do cơ quan xem xét cử tham dự kỳ thi nâng ngạch; đã từng bước thay đổi tư duy về việc bổ nhiệm cán bộ, công chức giữ các chức danh lãnh đạo, quản lý theo hướng "có vào, có ra", "có lên, có xuống" với quy định thời hạn bổ nhiệm là 5 năm, hết thời hạn có thể bổ nhiệm lại hoặc không bổ nhiệm lại; quy định và đưa dần vào nền nếp chế độ đánh giá cán bộ, công chức; quy định và thực hiện chế độ khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức với các quy trình, thủ tục, thẩm quyền cụ thể; chế độ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đã được coi trọng; việc sử dụng cán bộ, công chức phải căn cứ vào nhu cầu, tiêu chuẩn; cán bộ, công chức có thành tích xuất sắc trong thực thi công vụ, nhiệm vụ bên cạnh được khen thưởng còn được nâng ngạch, nâng bậc lương trước thời hạn; việc biệt phái cán bộ, công chức được thực hiện có thời hạn; chính sách tiền lương đã từng bước được điều chỉnh theo hướng tạo điều kiện bảo đảm đời sống cho cán bộ, công chức phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội và khả năng của ngân sách nhà nước. Khu vực sự nghiệp công lập đã được phân định so với khu vực hành chính công quyền và được giao quyền tự chủ trong việc tuyển dụng, sử dụng cán bộ, công chức. Người được tuyển dụng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập từ năm 2003 tới nay, thực hiện chế độ tuyển dụng có thời hạn, theo hợp đồng làm việc, không thực hiệc chế độ tuyển dụng suốt đời như trước đây.

2. Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức

2.1. Tổng quan về thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức

Tính đến thời điểm năm 2006, tổng số biên chế cán bộ, công chức (không kể cấp xã) của cả nước là 1.778.734. Trong đó, biên chế hành chính thuộc Chính phủ quản lý là 237.654; biên chế hành chính thuộc Văn phòng Quốc hội là 467; biên chế hành chính thuộc Văn phòng Chủ tịch nước là 86; biên chế hành chính thuộc Tòa án nhân dân là 12.024 và của Viện Kiểm sát nhân dân là 11.840. Biên chế các cơ quan Đảng và đoàn thể do Ban Tổ chức Trung ương quản lý là 82.003 người.

Tính đến thời điểm hiện nay, tổng số biên chế cán bộ, công chức của cả nước là 1.971.172 người, trong đó cán bộ, công chức từ cấp huyện trở lên là 1.778.734 người (trong số này đội ngũ viên chức sự nghiệp công là 1.434.660). Ở cấp xã, cán bộ, công chức là 192.438 người (trong đó, cán bộ bầu cử là 111.124 người; công chức chuyên môn nghiệp vụ là 81.314 người). Đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị ở nước ta đã tạo thành một khối thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, góp phần tích cực đưa đất nước ta từ một nước nghèo, lạc hậu sang đất nước có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

2.2. Số lượng, cơ cấu, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn

2.2.1. Về số lượng đơn vị hành chính cấp xã và thôn, tổ dân phố.

- Tính đến ngày 03/12/2007 cả nước có 10.995 xã, phường, thị trấn, trong đó 9.105 xã, 1.276 phường, 614 thị trấn. Tổng số 125.710 thôn, bản, tổ dân phố, trong đó 81.202 thôn, 44.508 tổ dân phố.

- Thực hiện Nghị định số 159/2005/NĐ-CP ngày 29/12/2005 của Chính Phủ đã phân loại hành chính cấp xã, trong đó 2981 xã loại I, 5657 xã loại II, 2292 xã loại III (số liệu tính tại thời gian phân loại cấp xã 30/12/2006).

>> Xem thêm:  Công chức nhà nước có quyền nhận ủy quyền quản lý và điều hành doanh nghiệp không ?

- Hệ thống chính trị ở xã, phường, thị trấn hiện nay đều có các tổ chức cơ sở đảng, chính quyền, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội.

2.2.2. Số lượng, cơ cấu, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở.

- Tổng số cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn toàn quốc tại thời điểm 01-10-2005 có 192.438 người (chưa kể số lượng cán bộ tỉnh, huyện tăng cường), trong đó: Cán bộ chuyên trách giữ chức vụ bầu cử (sau đây gọi tắt là cán bộ bầu cử) có 111.124 người chiếm 57,75%. Công chức chuyên môn cấp xã (sau đây gọi tắt là công chức) có 81.314 người chiếm 42,25%.

So với dân số tại thời điểm điều tra thì cán bộ, công chức cấp xã (chưa tính cán bộ không chuyên trách) chiếm 0,23%. Như vậy, cứ 10.000 dân có 23 cán bộ, công chức cấp xã.

- Về độ tuổi cán bộ, công chức cấp xã:

+ Cán bộ chuyên trách giữ chức vụ bầu cử: dưới 30 tuổi có 7.716 người, chiếm 6,94%. Từ 30-45 tuổi có 42.397, chiếm 39,15%, từ 46 đến 60 tuổi có 55.535 người, chiếm 49,98% và trên 60 tuổi có 5.476 người, chiếm 4,93%.

+ Công chức cấp xã: dưới 30 tuổi có 20.243 người chiếm 24,89%, từ 30-45 tuổi có 39.215 người chiếm 48,23%, từ 46-60 tuổi có 21.486 người, chiếm 26,42% và trên 60 tuổi có 370 người chiếm 0,46%.

- Về cán bộ công chức là nữ: chiếm 16,21%. Một số nơi khá cao như TP Hồ Chí Minh 40%, Hà Nội 29%; một số tỉnh chỉ dưới 8% như: Sơn La, Quảng Ngãi, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cà Mau...

- Về cán bộ, công chức là đảng viên: chiếm 84,67% nhưng không đồng đều, nhiều nơi như thành phố Hải Phòng, các tỉnh Hải Dương, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Bắc Ninh, Ninh Bình, Vĩnh Phúc trên 90%. Nhưng có nơi chỉ đạt 60% như các tỉnh: Khánh Hoà, Gia Lai, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa-Vũng Tàu.

- Trình độ học vấn: Cán bộ, công chức xã chưa biết chữ có 253 người  chiếm 0,13%, tiểu học 5644 người chiếm 2,93%, trung học cơ sở có 41.343 người chiếm 21,48%, trung học phổ thông có 145.198 người chiếm 75,45%. Nhìn chung trình độ học vấn của đội ngũ cán bộ cơ sở còn thấp, tỉnh nào cũng có cán bộ trình độ học vấn tiểu học, nhất là các tỉnh miền núi Tây Bắc, Tây Nguyên như: Lai Châu 42%, Lào Cai 30%, Hà Giang 20%, KonTum 21%.

>> Xem thêm:  Mẫu quyết định điều động cán bộ

- Trình độ chuyên môn: Số cán bộ có trình độ trên đại học là 0,04%. Cao đẳng và đại học là 9,04%; Trung học 32,37%; Sơ cấp 9,81%; còn lại 48,74% chưa được đào tạo. Số cán bộ có trình độ đại học ở các thành phố khá cao như: TP Hồ Chí Minh 21%, Hải Phòng 14%, Đà Nẵng 19%. Các tỉnh trung du, miền núi, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ tỉ lệ này chỉ dưới 2%.

- Trình độ lý luận chính trị: Cán bộ có trình độ cao cấp, cử nhân chính trị là 4,09%; Trung cấp 38,15%; Sơ cấp 22,94%; còn lại 34,82% chưa được đào tạo về trình độ lý luận chính trị.

- Trình độ quản lý hành chính nhà nước và ngoại ngữ, tin học của đội ngũ cán bộ cơ sở còn rất thấp: 55,53% chưa được đào tạo về quản lý hành chính nhà nước, 98,81% chưa có trình độ ngoại ngữ và trên 87% chưa có trình độ tin học.

- Kiến thức an ninh-quốc phòng: có 19,37% cán bộ được bồi dưỡng kiến thức an ninh, 12,16% cán bộ được bồi dưỡng kiến thức về quốc phòng.

- Về thâm niên công tác: Số cán bộ có thâm niên công tác giữ chức vụ hiện tại dưới 5 năm là 64,49%; từ 5-10 năm có 24,11%; trên 10 năm có 11,38%.

- Về thời gian công tác của cán bộ: dưới 5 năm có 49,74%; từ 5-10 năm có 33,65%; từ 16-30 năm có 14,05%; trên 30 năm có 2,56%.

- Về nguồn cán bộ: Có 90,45% cán bộ chuyên trách giữ chức vụ bầu cử là người tại chỗ; 3,23% là cán bộ tăng cường; 6,03% là cán bộ hưu trí, mất sức.

Phần thứ hai

GIỚI THIỆU LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

>> Xem thêm:  Bồi thường chi phí đào tạo như thế nào khi giáo viên xin nghỉ việc ?

Chế độ công vụ, cán bộ, công chức là nội dung quan trọng trong hoạt động của nền hành chính quốc gia. Trong thời kỳ đổi mới, cán bộ, công chức vừa là đối tượng của quá trình đổi mới, cải cách, vừa là thước đo của quá trình đổi mới, dân chủ hóa đời sống xã hội. Đặc biệt, với Pháp lệnh Cán bộ, công chức được Nhà nước ban hành năm 1998 (sau đó được sửa đổi, bổ sung vào năm 2000 và năm 2003) đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để tổ chức và quản lý các hoạt động liên quan đến công vụ, công chức, xây dựng nền hành chính phục vụ nhân dân, từng bước đổi mới cơ chế quản lý công chức phù hợp với thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước.

Qua hơn 20 năm đổi mới, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động công vụ, công chức đã góp phần làm thay đổi diện mạo nền hành chính nhà nước, tạo tiền đề cho việc hội nhập sâu, rộng trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đội ngũ cán bộ, công chức cũng từng bước được xây dựng và nâng cao về chất lượng, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước. Đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị ở nước ta đã tạo thành một khối thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, góp phần tích cực đưa đất nước ta từ một nước nghèo, lạc hậu chuyển sang đất nước có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động công vụ, công chức vẫn còn một số hạn chế sau:

Thứ nhất, hoạt động công vụ, công tác quản lý cán bộ, công chức chưa đổi mới và theo kịp với sự đổi mới về vai trò của Nhà nước trong quản lý đời sống xã hội và tổ chức cung cấp các dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp. Nhận thức về hoạt động công vụ, công chức vẫn mang dấu ấn của thời kỳ tập trung bao cấp. Trong hoạt động công vụ, mối quan hệ giữa hành chính với chính trị; hành chính với sự nghiệp công; giữa hoạt động quản lý nhà nước mang tầm vĩ mô với hoạt động sản xuất kinh doanh chưa được phân định triệt để và thực hiện có hiệu quả. Trên nhiều lĩnh vực, hoạt động công vụ thiếu thống nhất, chưa đảm bảo thông suốt; kỷ luật, kỷ cương của cán bộ, công chức chưa nghiêm; việc phân loại công chức chưa bảo đảm khoa học, khách quan dẫn đến việc bố trí, sử dụng, quy hoạch, đánh giá và đào tạo, bồi dưỡng công chức chưa phát huy hết hiệu quả, chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của Nhà nước đặt ra trong từng giai đoạn.

 Thứ hai, về mặt pháp lý, chúng ta đã có Pháp lệnh Cán bộ, công chức và nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ quy định về hoạt động của cán bộ, công chức. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, các quy định của pháp luật hiện hành chưa bao quát đầy đủ, toàn diện hoạt động công vụ, cán bộ, công chức; chưa quy định rõ mục tiêu, nguyên tắc hoạt động công vụ trong quá trình phục vụ nhân dân và xã hội; nghĩa vụ và trách nhiệm của công chức trong thực thi công vụ chưa được quy định một cách hệ thống và bổ sung đầy đủ thành các nhóm nghĩa vụ và trách nhiệm; chưa chú trọng đúng mức đến quyền lợi đối với công chức như chính sách tiền lương, nhà ở và các chính sách đãi ngộ khác; các chuẩn mực về đạo đức công vụ chưa được quy định rõ ràng, cụ thể; chưa có quy định về thanh tra công vụ; việc điều động, thuyên chuyển cán bộ, công chức giữa các cơ quan, tổ chức còn bất cập, thiếu sự phối hợp chặt chẽ và ăn khớp giữa các cơ quan của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội với các cơ quan của nhà nước. Các điều kiện bảo đảm cho công chức để thực thi tốt công vụ chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính hiện đại, hiệu quả, thông suốt. Ngoài ra, một số quy định về quản lý nhà nước đối với công chức chưa tạo ra sự thống nhất trong cách hiểu và vận dụng trong thực tiễn.

Thứ ba, trên thực tế, việc thực hiện tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức hiện nay chủ yếu gắn với chỉ tiêu biên chế; cách thức tuyển dụng công chức áp dụng theo chế độ làm việc lâu dài, phù hợp với cơ chế kế hoạch hóa tập trung, nhưng chưa phù hợp với yêu cầu xây dựng nền hành chính hiện đại, năng động. Trong nhiều cơ quan, tổ chức, việc tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức có xu hướng nặng về văn bằng, chứng chỉ, chưa chú trọng nhiều đến năng lực thực thi công vụ của cán bộ, công chức, dẫn đến tình trạng đào tạo chưa gắn với yêu cầu thực tiễn. Hiện tượng này dẫn đến nhiều hạn chế trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, làm suy giảm hiệu quả hoạt động công vụ và chưa thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao bổ sung cho nền công vụ, trong khi xã hội đang có xu hướng dịch chuyển lực lượng lao động sang khu vực tư.

Các hạn chế trên đã làm cho hoạt động công vụ chưa được quản lý và kiểm soát chặt chẽ, phát sinh các tiêu cực ảnh hưởng đến đạo đức, tác phong, lề lối làm việc của công chức, giảm sức sáng tạo trong hoạt động công vụ, giảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức Nhà nước trong quá trình phục vụ nhân dân. Các biểu hiện về thiếu tinh thần trách nhiệm, yếu kém về năng lực, chuyên môn, kỹ năng hành chính, phong cách làm việc ở một bộ phận cán bộ, công chức đã làm cho bộ máy hành chính trì trệ, kém hiệu quả; các biểu hiện quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân vẫn tồn tại trong cán bộ, công chức làm ảnh hưởng đến lòng tin của người dân đối với Đảng và Nhà nước.

Từ thực trạng trên, để đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, xây dựng một nền hành chính trong sạch, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với xu hướng chuyển đổi sang nền hành chính phục vụ, thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, việc ban hành Luật cán bộ, công chức là hết sức cần thiết.

II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

1. Quan điểm chỉ đạo

>> Xem thêm:  Chế độ bảo hiểm y tế đối với thương binh (hiện là công chức nhà nước)

Tư tưởng chỉ đạo thể hiện trong Luật Cán bộ, công chức vừa được ban hành là thể chế hóa đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tiếp tục đổi mới hoạt động công vụ và phương thức quản lý cán bộ, công chức phù hợp với thể chế chính trị ở nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại với một đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực. Qua đó, phục vụ tốt các nhu cầu của xã hội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và doanh nghiệp; đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước.  Các nội dung của Luật Cán bộ, công chức góp phần hoàn thiện chế độ công vụ và quản lý cán bộ, công chức; bảo đảm tính minh bạch, công khai và tính tự chịu trách nhiệm trong hoạt động công vụ; có kế thừa và phát triển các quy định hiện hành về công vụ và cán bộ, công chức; bảo đảm phù hợp với tình hình, đặc điểm cụ thể của Việt Nam. Có thể nói, đây là một bước tiến mới về nhận thức và tư duy về một nền công vụ khoa học, hiện đại, đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. 

 Luật Cán bộ, công chức phải tạo cơ sở pháp lý có giá trị cao để xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới; phát huy tính năng động, sáng tạo của cán bộ, công chức và thể hiện được chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn mới; luật hóa và đổi mới hoạt động quản lý cán bộ, công chức theo hướng kết hợp giữa hệ thống chức danh tiêu chuẩn với hệ thống vị trí việc làm. Bảo đảm tính liên thông giữa các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị, đồng thời tạo các điều kiện pháp lý cần thiết cho hoạt động công vụ như vấn đề công sở, thanh tra công vụ...

2.2. Quá trình xây dựng Luật cán bộ, công chức:

Ngay sau khi được Chính phủ giao xây dựng Dự án Luật, Bộ trưởng Bộ Nội vụ thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 284/QĐ-BNV ngày 14 tháng 3 năm 2006 và Quyết định số 1242/QĐ-BNV ngày 21 tháng 9 năm 2007 thành lập Ban soạn thảo Dự án Luật Cán bộ, công chức (CBCC). Quá trình xây dựng Dự án Luật, Ban soạn thảo đã tiến hành các hoạt động sau đây: nghiên cứu các đề tài khoa học về công vụ, công chức, đặc biệt là nghiên cứu đề tài cấp Nhà nước "Nghiên cứu cơ sở khoa học hoàn thiện chế độ công vụ ở Việt Nam"; tổ chức nghiên cứu các tài liệu, báo cáo, kinh nghiệm của nước ngoài liên quan đến hệ thống công vụ, chế độ công chức của một số nước trên thế giới như Trung Quốc, Thái lan, Nhật bản, Liên bang Nga, Cộng hòa Pháp, Cộng hòa liên bang Đức, Vương quốc Anh, Hoa kỳ, Úc....; điều tra, khảo sát, đánh giá đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nước; tổ chức nghiên cứu khảo sát, đánh giá hệ thống thể chế quản lý cán bộ, công chức hiện nay; tổ chức nhiều cuộc họp, tọa đàm, hội thảo trong nước và quốc tế với sự tham gia của các nhà khoa học, quản lý ở Trung ương và địa phương.

Dự thảo Luật đã được nhiều lần chỉnh lý trên cơ sở tham khảo và tiếp thu ý kiến của các nhà khoa học, các nhà quản lý, các cơ quan, tổ chức và ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động của dự thảo Luật, đặc biệt là các tổ chức chính trị - xã hội. Dự thảo Luật cũng đã được giới thiệu đến các Bộ, ngành và đoàn thể ở Trung ương và được đưa lên trang WEB của Chính phủ để lấy ý kiến nhân dân, các tổ chức và chủ thể khác có liên quan nhằm nghiên cứu, tiếp thu và hoàn thiện Dự thảo.

III. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13/11/2008, gồm 10 Chương, 87 Điều. Cụ thể như sau:

 Chương I: QUY ĐỊNH CHUNG (từ Điều 1 đến Điều 7)

 Chương này quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng; hoạt động công vụ của cán bộ, công chức; các nguyên tắc trong thi hành công vụ; cán bộ, công chức; các nguyên tắc quản lý cán bộ, công chức; chính sách đối với người có tài năng; giải thích từ ngữ.

a)  Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng:

>> Xem thêm:  Thi tuyển công chức và vấn đề thuyên chuyển công tác đối với công chức ?

Luật nay quy định về cán bộ, công chức; bầu cử, tuyển dụng, sử dụng, quản lý cán bộ, công chức; nghĩa vụ, quyền của cán bộ, công chức và điều kiện bảo đảm thi hành công vụ.

Việc xác định các nhóm công chức về cơ bản vẫn kế thừa các quy định của Pháp lệnh Cán bộ, công chức. Các đơn vị sự nghiệp công hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học công nghệ, văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao... là các tổ chức được Nhà nước thành lập và uỷ quyền để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Do đó, chỉ những người được Nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm để giữ các chức vụ trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của các tổ chức này mới là công chức và thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Cán bộ, công chức. Còn những người trực tiếp thực hiện các hoạt động này như giáo viên, bác sĩ, diễn viên, vận động viên,... dù làm việc trong khu vực công hay khu vực tư thì đều giống nhau về nghĩa vụ, quyền lợi, trách nhiệm và được thỏa thuận trong hợp đồng khi được tuyển dụng vào làm việc, theo quy định của Luật lao động và các văn bản pháp luật chuyên ngành khác. Hiện nay, trong lĩnh vực giáo dục, Nhà nước đang tiến hành soạn thảo Dự án Luật giáo viên; ở lĩnh vực y tế, Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân... Các văn bản Luật, pháp lệnh này có xu hướng sẽ điều chỉnh đối với những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp cả khu vực công và khu vực tư. Vì vậy, đối với các đơn vị sự nghiệp công chỉ quy định công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm để giữ các chức vụ trong bộ máy lãnh đạo, quản lý. 

b)  Hoạt động công vụ của cán bộ, công chức (Điều 2)

Hoạt động công vụ của cán bộ, công chức là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của Luật này và các quy định khác có liên quan.

c) Các nguyên tắc trong thi hành công vụ: có 4 nguyên tắc: Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân; Công khai, minh bạch, đúng thẩm quyền và có sự kiểm tra, giám sát; Bảo đảm tính hệ thống, thống nhất, liên tục, thông suốt và hiệu quả; Bảo đảm thứ bậc hành chính và sự phối hợp chặt chẽ.

d) Khái niệm và quy định cụ thể ai là Cán bộ, công chức (Điều 4): Bao gồm 3 nhóm: cán bộ; công chức và  cán bộ xã, phường, thị trấn.

đ) Các nguyên tắc quản lý cán bộ, công chức (Điều 5): Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước; Kết hợp giữa tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế; Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ trách nhiệm cá nhân và phân công, phân cấp rõ ràng; Việc sử dụng, đánh giá, phân loại cán bộ, công chức phải dựa trên phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực thi hành công vụ; Thực hiện bình đẳng giới.

e) Chính sách đối với người có tài năng: Nhà nước có chính sách để phát hiện, thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với người có tài năng. Chính phủ quy định cụ thể chính sách đối với người có tài năng.

f) Giải thích từ ngữ (Điều 7): Trong Luật, các từ ngữ được giải thích cách hiểu thống nhất, bao gồm: Cơ quan sử dụng cán bộ, công chức; Cơ quan quản lý cán bộ, công chức; Vị trí việc làm; Ngạch; Bổ nhiệm; Miễn nhiệm; Bãi nhiệm; Giáng chức; Cách chức; Điều động; Luân chuyển; Biệt phái; Từ chức:

- Cơ quan sử dụng cán bộ, công chức là cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao thẩm quyền quản lý, phân công, bố trí, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức.

>> Xem thêm:  Trình tự, thủ tục xử lý kỉ luật viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập ?

- Cơ quan quản lý cán bộ, công chức là cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao thẩm quyền tuyển dụng, bổ nhiệm, nâng ngạch, nâng lương, cho thôi việc, nghỉ hưu, giải quyết chế độ, chính sách và khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức.

- Vị trí việc làm là công việc gắn với chức danh, chức vụ, cơ cấu và ngạch công chức để xác định biên chế và bố trí công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.

- Ngạch là tên gọi thể hiện thứ bậc về năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức.

- Bổ nhiệm là việc cán bộ, công chức được quyết định giữ một chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc một ngạch theo quy định của pháp luật.

- Miễn nhiệm là việc cán bộ, công chức được thôi giữ chức vụ, chức danh khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm.

- Bãi nhiệm là việc cán bộ không được tiếp tục giữ chức vụ, chức danh khi chưa hết nhiệm kỳ.

- Giáng chức là việc công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý bị hạ xuống chức vụ thấp hơn.

- Cách chức là việc cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý không được tiếp tục giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm.

- Điều động là việc cán bộ, công chức được cơ quan có thẩm quyền quyết định chuyển từ cơ quan, tổ chức, đơn vị này đến làm việc ở cơ quan, tổ chức, đơn vị khác.

- Luân chuyển là việc cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý được cử hoặc bổ nhiệm giữ một chức danh lãnh đạo, quản lý khác trong một thời hạn nhất định để tiếp tục được đào tạo, bồi dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu nhiệm vụ.

>> Xem thêm:  Viên chức xin nghỉ ốm đau có ảnh hưởng đến xếp hạng thi đua không ?

- Biệt phái là việc công chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị này được cử đến làm việc tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khác theo yêu cầu nhiệm vụ.

- Từ chức là việc cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý đề nghị được thôi giữ chức vụ khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm.

Chương II: NGHĨA VỤ, QUYỀN CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC (từ Điều 8 đến Điều 27). Chương này được chia làm 4 mục như sau:

Mục 1. NGHĨA VỤ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

Luật Cán bộ, công chức đã bổ sung, quy định rõ nghĩa vụ về lòng trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân; chịu sự giám sát của nhân dân; nghĩa vụ trong quan hệ hành chính và trong công vụ. Bao gồm:

a) Nghĩa vụ của cán bộ, công chức đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân (Điều 8): Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia. Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân. Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

b) Nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ (Điều 9): Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước. Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao. Chấp hành quyết định của cấp trên. Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định. Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

c) Nghĩa vụ của cán bộ, công chức là người đứng đầu (Điều 10): Ngoài việc thực hiện quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật này, cán bộ, công chức là người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị còn phải thực hiện các nghĩa vụ: Chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của cán bộ, công chức. Tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống quan liêu, tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về việc để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hóa công sở trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý có hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân. Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cá nhân, tổ chức. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Mục 2.QUYỀN CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

Kế thừa các quy định của Pháp lệnh cán bộ, công chức, Luật đã hệ thống và bổ sung các quy định về quyền được bảo đảm điều kiện thực thi công vụ; quyền hưởng lương và chế độ đãi ngộ; quyền được hưởng chế độ nghỉ ngơi, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; quyền lợi khi thi hành công vụ bị thương hoặc hy sinh; quyền được hưởng các chính sách ưu đãi về nhà ở, đặc biệt là các quyền của công chức nữ để thống nhất với Luật Bình đẳng giới; bao gồm:

>> Xem thêm:  Thời gian nghỉ điều trị bệnh của công chức được nghỉ tối đa là bao lâu ?

a) Quyền của cán bộ, công chức được bảo đảm các điều kiện thi hành công vụ (Điều 11):  Được giao quyền tương xứng với nhiệm vụ; Được bảo đảm trang thiết bị và các điều kiện làm việc khác theo quy định của pháp luật; Được cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn được giao; Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ; Được pháp luật bảo vệ khi thi hành công vụ.

 b) Quyền của cán bộ, công chức về tiền lương và các chế độ liên quan đến tiền lương (Điều 12): Được Nhà nước bảo đảm tiền lương tương xứng với nhiệm vụ, quyền hạn được giao, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Cán bộ, công chức làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc trong các ngành, nghề có môi trường độc hại, nguy hiểm được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật; Được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm, công tác phí và các chế độ khác theo quy định của pháp luật.

 c) Quyền của cán bộ, công chức về nghỉ ngơi (Điều 13): Cán bộ, công chức được nghỉ hàng năm, nghỉ lễ, nghỉ để giải quyết việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động. Trường hợp do yêu cầu nhiệm vụ, cán bộ, công chức không sử dụng hoặc sử dụng không hết số ngày nghỉ hàng năm thì ngoài tiền lương còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng tiền lương cho những ngày không nghỉ.

d) Các quyền khác của cán bộ, công chức (Điều 14): Cán bộ, công chức được bảo đảm quyền học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội; được hưởng chính sách ưu đãi về nhà ở, phương tiện đi lại, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật; nếu bị thương hoặc hy sinh trong khi thi hành công vụ thì được xem xét hưởng chế độ, chính sách như thương binh hoặc được xem xét để công nhận là liệt sĩ và các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Mục 3. ĐẠO ĐỨC, VĂN HÓA GIAO TIẾP CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

Nhằm xây dựng một nền công vụ phục vụ nhân dân, góp phần vào việc xây dựng văn hóa công vụ, quy tắc ứng xử của công chức trong thực thi công vụ, Luật cũng quy định cụ thể các chuẩn mực về đạo đức công vụ như đạo đức công chức, văn hóa giao tiếp trong công sở, văn hóa giao tiếp với nhân dân. bao gồm:  

a) Cán bộ, công chức phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ (Điều 15).

b) Văn hóa giao tiếp ở công sở (Điều 16): Trong giao tiếp ở công sở, cán bộ, công chức phải có thái độ lịch sự, tôn trọng đồng nghiệp; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc. Cán bộ, công chức phải lắng nghe ý kiến của đồng nghiệp; công bằng, vô tư, khách quan khi nhận xét, đánh giá; thực hiện dân chủ và đoàn kết nội bộ. Khi thi hành công vụ, cán bộ, công chức phải mang phù hiệu hoặc thẻ công chức; có tác phong lịch sự; giữ gìn uy tín, danh dự cho cơ quan, tổ chức, đơn vị và đồng nghiệp.

c) Văn hóa giao tiếp với nhân dân (Điều 17):  Cán bộ, công chức phải gần gũi với nhân dân; có tác phong, thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc. Cán bộ, công chức không được hách dịch, cửa quyền.

Mục 4. NHỮNG VIỆC CÁN BỘ, CÔNG CHỨC KHÔNG ĐƯỢC LÀM

>> Xem thêm:  Hỏi về cán bộ công chức hưởng chế độ thu hút theo nghị định 116/2010/NĐ-CP

Pháp lệnh Cán bộ, công chức trước đây quy định những việc cán bộ, công chức không được làm nhằm chống tệ quan liêu, hách dịch, cửa quyền; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thu lợi cho cá nhân và gia đình hoặc ảnh hưởng đến an ninh quốc gia. Luật lần này đã kế thừa, hoàn thiện và khẳng định lại giá trị pháp lý các nội dung liên quan đến những việc công chức không được làm, bao gồm:

a) Những việc cán bộ, công chức không được làm liên quan đến đạo đức công vụ (Điều 18):

- Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc hoặc tham gia đình công.

- Sử dụng tài sản của Nhà nước và của nhân dân trái pháp luật.

- Lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn; sử dụng thông tin liên quan đến công vụ để vụ lợi.

- Phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức.

b)  Những việc cán bộ, công chức không được làm liên quan đến bí mật nhà nước (Điều 19):

- Cán bộ, công chức không được tiết lộ thông tin liên quan đến bí mật nhà nước dưới mọi hình thức.

- Cán bộ, công chức làm việc ở ngành, nghề có liên quan đến bí mật nhà nước thì trong thời hạn ít nhất là 05 năm, kể từ khi có quyết định nghỉ hưu, thôi việc, không được làm công việc có liên quan đến ngành, nghề mà trước đây mình đã đảm nhiệm cho tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc liên doanh với nước ngoài.

- Chính phủ quy định cụ thể danh mục ngành, nghề, công việc, thời hạn mà cán bộ, công chức không được làm và chính sách đối với những người phải áp dụng.

>> Xem thêm:  Nghi hưu trước tuổi có lợi hơn nghỉ hưu đúng tuổi không ?

c) Ngoài những việc không được làm quy định tại Điều 18 và Điều 19 của Luật, cán bộ, công chức còn không được làm những việc liên quan đến sản xuất, kinh doanh, công tác nhân sự quy định tại Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và những việc khác theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.

Chương III: CÁN BỘ Ở TRUNG ƯƠNG, CẤP TỈNH VÀ CẤP HUYỆN

a) Về Cán bộ (Điều 21):

- Bao gồm cán bộ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. Cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam căn cứ vào điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, của tổ chức chính trị - xã hội và quy định của Luật này quy định cụ thể chức vụ, chức danh cán bộ làm việc trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội.

- Chức vụ, chức danh cán bộ làm việc trong cơ quan nhà nước được xác định theo quy định của Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Toà án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật kiểm toán nhà nước và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

b) Nghĩa vụ, quyền của cán bộ (Điều 22):

- Thực hiện các nghĩa vụ, quyền quy định tại Chương II và các quy định khác có liên quan của Luật này và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp, pháp luật và điều lệ của tổ chức mà mình là thành viên.

- Chịu trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước, nhân dân và trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

c) Bầu cử, bổ nhiệm chức vụ, chức danh cán bộ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội (Điều 23):

Việc bầu cử, bổ nhiệm chức vụ, chức danh cán bộ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội được thực hiện theo quy định của điều lệ, pháp luật có liên quan.

d) Bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm chức vụ, chức danh cán bộ trong cơ quan nhà nước (Điều 24), quy định việc bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm chức vụ, chức danh cán bộ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước từ trung ương đến cấp huyện được thực hiện theo quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật kiểm toán nhà nước, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

đ) Đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ (Điều 25), quy định về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải căn cứ vào tiêu chuẩn, chức vụ, chức danh cán bộ, yêu cầu nhiệm vụ và phù hợp với quy hoạch cán bộ. Chế độ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ do cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ quy định.

e) Điều động, luân chuyển cán bộ (Điều 26), đây là nội dung mới được quy định tại Luật. Cơ quan sử dụng cán bộ phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, quy hoạch cán bộ, cán bộ được điều động, luân chuyển trong hệ thống các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội. Việc điều động, luân chuyển cán bộ được thực hiện theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.

f) Về đánh giá cán bộ, Luật quy định cụ thể về mục đích đánh giá cán bộ (Điều 27); nội dung đánh giá cán bộ (Điều 28) và phân loại đánh giá cán bộ (Điều 29), cụ thể:

- Đánh giá cán bộ để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao. Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với cán bộ.

- Nội dung đánh giá cán bộ: Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc; Năng lực lãnh đạo, điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ; Tinh thần trách nhiệm trong công tác; kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.

- Việc đánh giá cán bộ được thực hiện hàng năm, trước khi bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, quy hoạch, điều động, đào tạo, bồi dưỡng, khi kết thúc nhiệm kỳ, thời gian luân chuyển.

- Thẩm quyền, trình tự, thủ tục đánh giá cán bộ được thực hiện theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.

- Căn cứ vào kết quả đánh giá, cán bộ được phân loại đánh giá như sau: Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; Hoàn thành tốt nhiệm vụ; Hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực; Không hoàn thành nhiệm vụ.

- Kết quả phân loại đánh giá cán bộ được lưu vào hồ sơ cán bộ và thông báo đến cán bộ được đánh giá.

- Cán bộ 02 năm liên tiếp hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực hoặc có 02 năm liên tiếp, trong đó 01 năm hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực và 01 năm không hoàn thành nhiệm vụ thì cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bố trí công tác khác.

- Cán bộ 02 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ thì cơ quan, tổ chức có thẩm quyền miễn nhiệm, cho thôi làm nhiệm vụ.

g) Xin thôi làm nhiệm vụ, từ chức, miễn nhiệm (Điều 30):

- Cán bộ có thể xin thôi làm nhiệm vụ hoặc từ chức, miễn nhiệm trong các trường hợp: Không đủ sức khỏe; Không đủ năng lực, uy tín; Theo yêu cầu nhiệm vụ; Vì lý do khác.

- Thẩm quyền, trình tự, thủ tục xin thôi làm nhiệm vụ, từ chức, miễn nhiệm được thực hiện theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.

h) Nghỉ hưu đối với cán bộ (Điều 31): Luật quy định cụ thể các trường hợp sau:

- Cán bộ được nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật lao động.

- Trước 06 tháng, tính đến ngày cán bộ nghỉ hưu, cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý cán bộ phải thông báo cho cán bộ bằng văn bản về thời điểm nghỉ hưu; trước 03 tháng, tính đến ngày cán bộ nghỉ hưu, cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý cán bộ ra quyết định nghỉ hưu.

- Trong trường hợp đặc biệt, đối với cán bộ giữ chức vụ từ Bộ trưởng hoặc tương đương trở lên có thể được kéo dài thời gian công tác theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.

Chương IV: CÔNG CHỨC Ở TRUNG ƯƠNG, CẤP TỈNH, CẤP HUYỆN. Chương này gồm 29 điều, từ Điều 32 đến Điều 60, được chia thành 7 Mục. Cụ thể như sau:

Mục 1

CÔNG CHỨC VÀ PHÂN LOẠI CÔNG CHỨC

a) Công chức (Điều 32). Công chức quy định tại Luật này bao gồm: Công chức trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội; Công chức trong cơ quan nhà nước; Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập; Công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp.

- Chính phủ quy định cụ thể các loại công chức.

b) Nghĩa vụ, quyền của công chức (Điều 33) quy định về việc thực hiện các nghĩa vụ, quyền quy định tại Chương II và các quy định khác có liên quan của Luật này. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp, pháp luật. Chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

c) Về phân loại công chức và ngạch của công chức (Điều 34): Để có cơ sở thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng, quy hoạch, tiêu chuẩn hóa, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá và phân cấp quản lý công chức, Luật quy định phân loại công chức như sau:

+ Phân loại công chức theo ngạch, gồm: công chức loại A (là những người được bổ nhiệm vào ngạch cao cấp); loại B (là những người được bổ nhiệm vào ngạch chính); loại C (là những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương); loại D (là những người được bổ nhiệm vào các ngạch còn lại- các ngạch thấp hơn ngạch chuyên viên).

+ Phân loại công chức theo vị trí công tác gồm: công chức lãnh đạo, quản lý và công chức thừa hành.

Việc sử dụng các ngạch công chức được thực hiện như sau: Công chức lãnh đạo, quản lý và công chức tham mưu, hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện được bổ nhiệm từ ngạch cao cấp trở xuống tương ứng với từng vị trí công tác; công chức thực thi, thừa hành được bổ nhiệm vào các ngạch từ ngạch chính trở xuống tương ứng với từng vị trí công tác.

Mục 2

TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC

a) Tuyển dụng công chức là một trong các nội dung có ảnh hưởng rất quan trọng đến chất lượng thực thi, thừa hành công vụ. Do vậy, Luật quy định cụ thể các vấn đề sau:

- Việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế. căn cứ vào vị trí việc làm và tiêu chuẩn chức danh công chức (Điều 36); tất cả công dân Việt Nam đủ điều kiện đều có cơ hội như nhau tham gia dự tuyển công chức, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo. Bên cạnh đó, Luật còn quy định những trường hợp không được đăng ký dự tuyển (không thường trú tại Việt Nam, mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự; đang bị truy cứu trách nhịêm hình sự, bị kết án mà chưa được xoá án tích...).

b) Về phương thức tuyển dụng: Thực hiện tinh thần của Nghị quyết Trung ương 5 Khoá X của Đảng về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý bộ máy nhà nước, Luật quy định việc ký hợp đồng làm việc đối với một số vị trí việc làm trong các cơ quan nhà nước. Các quy định tại Điều 37, 38 sẽ vừa bảo đảm được tính ổn định, liên tục, vừa đảm bảo được tính linh hoạt, mềm dẻo của hoạt động công vụ thích ứng với cơ chế thị trường, gắn với trách nhiệm của người đứng đầu với quá trình đẩy mạnh phân cấp hiện nay. Cụ thể là: việc tuyển dụng người vào các vị trí việc làm tương ứng với ngạch chuyên viên hoặc tương đương trở xuống thì thực hiện tuyển dụng có thời hạn thông qua ký hợp đồng làm việc. Việc tuyển dụng người vào các vị trí việc làm tương ứng với ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương trở lên thì thực hiện tuyển dụng lâu dài thông qua quyết định tuyển dụng.

Bên cạnh đó, Luật cũng quy định nguyên tắc tuyển dụng công chức (Điều 38) phải đảm bảo bình đẳng, công khai, khách quan, cạnh tranh, đúng pháp luật. Tuyển chọn đúng người, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ và vị trí việc làm. Ưu tiên tuyển chọn người có tài năng, người có công với nước, người dân tộc thiểu số. Người trúng tuyển vào công chức trước khi chính thức nhận nhiệm vụ phải qua thời gian thử việc theo quy định của pháp luật.

c) Về cơ quan thực hiện tuyển dụng (Điều 39): Việc tổ chức kỳ thi cũng như thẩm quyền tuyển dụng công chức vào làm việc ở Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Viện Kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân tối cao vẫn thực hiện như hiện nay. Riêng đối với các cơ quan của Chính phủ và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, việc tuyển dụng được phân định giữa thi và tuyển theo hướng sau: cơ quan quản lý công chức của Chính phủ thực hiện việc tổ chức các kỳ thi tuyển công chức vào làm việc trong các cơ quan Nhà nước ở Trung ương; Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc thi tuyển công chức vào làm việc trong các cơ quan nhà nước ở địa phương. Căn cứ vào kết quả thi tuyển, các cơ quan, tổ chức của nhà nước có nhu cầu xem xét, lựa chọn tuyển dụng những người phù hợp.

Tổ chức lại việc tuyển dụng như trên vừa bảo đảm được sự phân công, phân cấp trong quản lý công chức hiện nay, vừa bảo đảm được tính chuyên môn hóa cao đối với việc lựa chọn công chức thông qua các kỳ thi. Mặt khác, việc phân định giữa thẩm quyền tổ chức đánh giá người dự tuyển vào công chức với thẩm quyền tuyển chọn người vào các cơ quan quy định như vậy sẽ vừa bảo đảm được tính khách quan trong tổ chức kỳ thi đồng thời nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức được giao thẩm quyền tuyển dụng và sử dụng đội ngũ công chức.

d) Tập sự đối với công chức (Điều 40): Người được tuyển dụng vào công chức phải thực hiện chế độ tập sự theo quy định của Chính phủ.

e) Tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán, Kiểm sát viên (Điều 41): Việc tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân được thực hiện theo quy định của pháp luật về tổ chức Tòa án nhân dân và pháp luật về tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.

Mục 3

CÁC QUY ĐỊNH VỀ NGẠCH CÔNG CHỨC

a) Ngạch công chức và việc bổ nhiệm vào ngạch công chức (Điều 42)

- Ngạch công chức bao gồm: Chuyên viên cao cấp và tương đương; Chuyên viên chính và tương đương; Chuyên viên và tương đương; Cán sự và tương đương; Nhân viên.

- Việc bổ nhiệm vào ngạch phải bảo đảm các điều kiện: Người được bổ nhiệm có đủ tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ của ngạch; Việc bổ nhiệm vào ngạch phải đúng thẩm quyền và bảo đảm cơ cấu công chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị.

- Việc bổ nhiệm vào ngạch công chức được thực hiện trong các trường hợp: Người được tuyển dụng đã hoàn thành chế độ tập sự. Công chức trúng tuyển kỳ thi nâng ngạch; Công chức chuyển sang ngạch tương đương.

b) Chuyển ngạch công chức (Điều 43) Chuyển ngạch là việc công chức đang giữ ngạch của ngành chuyên môn này được bổ nhiệm sang ngạch của ngành chuyên môn khác có cùng thứ bậc về chuyên môn, nghiệp vụ. Công chức được chuyển ngạch phải có đủ tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ của ngạch được chuyển và phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Công chức được giao nhiệm vụ không phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ của ngạch công chức đang giữ thì phải được chuyển ngạch cho phù hợp. Không thực hiện nâng ngạch, nâng lương khi chuyển ngạch.

c) Nâng ngạch công chức (Điều 44): Việc nâng ngạch phải căn cứ vào vị trí việc làm, phù hợp với cơ cấu công chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị và thông qua thi tuyển. Công chức có đủ tiêu chuẩn, điều kiện để đảm nhận vị trí việc làm tương ứng với ngạch cao hơn thì được đăng ký dự thi nâng ngạch. Kỳ thi nâng ngạch được tổ chức theo nguyên tắc cạnh tranh, công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật.

d) Tiêu chuẩn, điều kiện đăng ký dự thi nâng ngạch công chức (Điều 45):

- Cơ quan, tổ chức, đơn vị có nhu cầu về công chức đảm nhận vị trí việc làm tương ứng với ngạch dự thi thì công chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó được đăng ký dự thi.

- Công chức đăng ký dự thi nâng ngạch phải có phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của ngạch dự thi.

e) Tổ chức thi nâng ngạch công chức (Điều 46): Nội dung và hình thức thi nâng ngạch công chức phải phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ của ngạch dự thi, bảo đảm lựa chọn công chức có năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với tiêu chuẩn của ngạch dự thi và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức hữu quan tổ chức kỳ thi nâng ngạch công chức. Chính phủ quy định cụ thể về việc thi nâng ngạch công chức.

Mục 4

ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC

a) Về đào tạo, bồi dưỡng công chức: Với mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, Luật quy định chế độ đào tạo, bồi dưỡng công chức (Điều 47), Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị trong đào tạo, bồi dưỡng công chức (Điều 48): Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý công chức có trách nhiệm xây dựng và công khai quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để tạo nguồn và nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức; tạo điều kiện để công chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức. Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng công chức do ngân sách nhà nước cấp và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật. Theo đó, chế độ đào tạo, bồi dưỡng công chức bao gồm đào tạo tiền công vụ; đào tạo khi nâng ngạch và thay đổi chức danh nghề nghiệp cao hơn; đào tạo nhằm bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo, quản lý; đào tạo để nâng cao trình độ phục vụ yêu cầu công việc. Việc đào tạo, bồi dưỡng phải căn cứ vào kế hoạch, quy hoạch, tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý và tiêu chuẩn của từng vị trí công tác ứng với từng ngạch hoặc chức danh công chức.

b) Trách nhiệm và quyền lợi của công chức trong đào tạo, bồi dưỡng (Điều 49): Công chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng phải chấp hành nghiêm chỉnh quy chế đào tạo, bồi dưỡng và chịu sự quản lý của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng; được hưởng nguyên lương và phụ cấp; thời gian đào tạo, bồi dưỡng được tính vào thâm niên công tác liên tục, được xét nâng lương theo quy định của pháp luật. Công chức đạt kết quả xuất sắc trong khóa đào tạo, bồi dưỡng được biểu dương, khen thưởng. Công chức đã được đào tạo, bồi dưỡng nếu tự ý bỏ việc, xin thôi việc phải đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng theo quy định của pháp luật.

Mục 5

ĐIỀU ĐỘNG, BỔ NHIỆM, LUÂN CHUYỂN, BIỆT PHÁI, TỪ CHỨC, MIỄN NHIỆM ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC

Về điều động, bổ nhiệm, luân chuyển, biệt phái, miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ, công chức được quy định từ Điều 50 đến Điều 54 của Luật Cán bộ, công chức. Những nội dung tại mục này kế thừa các quy định của Pháp lệnh Cán bộ, công chức và các văn bản hướng dẫn hiện hành. Trong đó, có những vấn đề được bổ sung như quy định bổ nhiệm và thời hạn bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý; khi hết thời hạn thì phải xem xét bổ nhiệm lại hoặc không bổ nhiệm lại; quy định về bổ nhiệm ngạch, chuyển ngạch, nâng ngạch, luân chuyển, biệt phái; miễn nhiệm, từ chức...

a) Điều động công chức (Điều 50): Việc điều động công chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ và phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức. Công chức được điều động phải đạt yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với vị trí việc làm mới.

b) Bổ nhiệm công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý (Điều 51): Việc bổ nhiệm công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý phải căn cứ vào: Nhu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị và tiêu chuẩn, điều kiện của chức vụ lãnh đạo, quản lý.

- Thẩm quyền, trình tự, thủ tục bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý được thực hiện theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.

- Thời hạn bổ nhiệm công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý là 05 năm; khi hết thời hạn, cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền phải xem xét bổ nhiệm lại hoặc không bổ nhiệm lại.

- Công chức được điều động đến cơ quan, tổ chức, đơn vị khác hoặc được bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý mới thì đương nhiên thôi giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đang đảm nhiệm, trừ trường hợp kiêm nhiệm.

c) Luân chuyển công chức (Điều 52):. Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, quy hoạch, kế hoạch sử dụng công chức, công chức lãnh đạo, quản lý được luân chuyển trong hệ thống các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội. Chính phủ quy định cụ thể việc luân chuyển công chức.

 d) Biệt phái công chức (Điều 53): Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý công chức biệt phái công chức đến làm việc ở cơ quan, tổ chức, đơn vị khác theo yêu cầu nhiệm vụ. Thời hạn biệt phái không quá 03 năm, trừ một số ngành, lĩnh vực do Chính phủ quy định. Công chức biệt phái phải chấp hành phân công công tác của cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi được cử đến biệt phái. Công chức biệt phái đến miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng các chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật. Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý công chức biệt phái có trách nhiệm bố trí công việc phù hợp cho công chức khi hết thời hạn biệt phái. Không thực hiện biệt phái công chức nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

e) Từ chức hoặc miễn nhiệm đối với công chức (Điều 54): Công chức lãnh đạo, quản lý có thể từ chức hoặc miễn nhiệm trong các trường hợp: Không đủ sức khỏe; Không đủ năng lực, uy tín; Theo yêu cầu nhiệm vụ; Vì lý do khác.

- Công chức lãnh đạo, quản lý sau khi từ chức hoặc miễn nhiệm được bố trí công tác phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ được đào tạo hoặc nghỉ hưu, thôi việc.

- Công chức lãnh đạo, quản lý xin từ chức hoặc miễn nhiệm nhưng chưa được cấp có thẩm quyền đồng ý cho từ chức hoặc miễn nhiệm vẫn phải tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

- Thẩm quyền, trình tự, thủ tục xem xét, quyết định việc từ chức hoặc miễn nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý được thực hiện theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.

Mục 6

ĐÁNH GIÁ CÔNG CHỨC

 Về đánh giá công chức: Luật quy định cụ thể mục đích, căn cứ, nội dung, phân loại đánh giá, các trường hợp đánh giá và trách nhiệm đánh giá công chức theo hướng: việc đánh giá công chức phải căn cứ vào các quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm, đạo đức công vụ và gắn với kết quả thực thi công vụ; đồng thời, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong việc đánh giá công chức. Căn cứ vào kết quả đánh giá, công chức được xếp loại theo các mức độ: xuất sắc; tốt; trung bình; yếu. Công chức có 2 năm liên tục bị đánh giá ở mức độ yếu (không hoàn thành nhiệm vụ) thì áp dụng chế độ cho thôi việc.

a) Mục đích đánh giá công chức (Điều 55): Đánh giá công chức để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao. Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với công chức.

b) Nội dung đánh giá công chức (Điều 5): Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc; Năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; Tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ; Tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ; Thái độ phục vụ nhân dân.

- Ngoài những quy định trên, công chức lãnh đạo, quản lý còn được đánh giá theo các nội dung: Kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý; Năng lực lãnh đạo, quản lý; Năng lực tập hợp, đoàn kết công chức.

- Việc đánh giá công chức được thực hiện hàng năm, trước khi bổ nhiệm, quy hoạch, điều động, đào tạo, bồi dưỡng, khi kết thúc thời gian luân chuyển, biệt phái.

- Chính phủ quy định trình tự, thủ tục đánh giá công chức.

c) Trách nhiệm đánh giá công chức (Điều 57): Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng công chức có trách nhiệm đánh giá công chức thuộc quyền. Việc đánh giá người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị do người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên quản lý trực tiếp thực hiện.

d)  Phân loại đánh giá công chức (Điều 58):

- Căn cứ vào kết quả đánh giá, công chức được phân loại đánh giá theo các mức: Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; Hoàn thành tốt nhiệm vụ; Hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực; Không hoàn thành nhiệm vụ.

 - Kết quả phân loại đánh giá công chức được lưu vào hồ sơ công chức và thông báo đến công chức được đánh giá.

- Công chức 02 năm liên tiếp hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực hoặc có 02 năm liên tiếp, trong đó 01 năm hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực và 01 năm không hoàn thành nhiệm vụ thì cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền bố trí công tác khác.

- Công chức 02 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ thì cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền giải quyết thôi việc.

Mục 7

THÔI VIỆC, NGHỈ HƯU ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC

a) Thôi việc đối với công chức (Điều 59):

- Công chức được hưởng chế độ thôi việc nếu thuộc một trong các trường hợp: Do sắp xếp tổ chức; Theo nguyện vọng và được cấp có thẩm quyền đồng ý; Theo quy định tại khoản 3 Điều 58 của Luật này.

- Công chức xin thôi việc theo nguyện vọng thì phải làm đơn gửi cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền xem xét, quyết định. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đơn, cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản, nếu không đồng ý cho thôi việc thì phải nêu rõ lý do; trường hợp chưa được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền đồng ý mà tự ý bỏ việc thì không được hưởng chế độ thôi việc và phải bồi thường chi phí đào tạo, bồi dưỡng theo quy định của pháp luật.

- Không giải quyết thôi việc đối với công chức đang trong thời gian xem xét kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

- Không giải quyết thôi việc đối với công chức nữ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi, trừ trường hợp xin thôi việc theo nguyện vọng.

b) Nghỉ hưu đối với công chức (Điều 60): Công chức được nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật lao động. Trước 06 tháng, tính đến ngày công chức nghỉ hưu, cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý công chức phải thông báo bằng văn bản về thời điểm nghỉ hưu; trước 03 tháng, tính đến ngày công chức nghỉ hưu, cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý công chức ra quyết định nghỉ hưu.

            Chương V. CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ

Chương này quy định cụ thể về chức danh, chức vụ của cán bộ, công chức cấp xã (Điều 61). Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý. Nghĩa vụ, quyền của cán bộ, công chức cấp xã (Điều 62) Bầu cử, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã (Điều 63). Đánh giá, phân loại, xin thôi làm nhiệm vụ, từ chức, miễn nhiệm, thôi việc, nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức cấp xã (Điều 64). Việc đánh giá, phân loại, xin thôi làm nhiệm vụ, từ chức, miễn nhiệm, thôi việc, nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức cấp xã được thực hiện theo quy định tương ứng của Luật này đối với cán bộ, công chức và các quy định khác của pháp luật, điều lệ có liên quan, cụ thể Luật quy định, như sau:

a) Chức vụ, chức danh cán bộ, công chức cấp xã (Điều 61):

1. Cán bộ, công chức cấp xã quy định tại khoản 3, Điều 4 của Luật này bao gồm cán bộ cấp xã và công chức cấp xã.

2. Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây:

a) Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ;

b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;

c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;

d) Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

đ) Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

e) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

g) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);

h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. 

3. Công chức cấp xã có các chức danh sau đây:

a) Trưởng Công an;

b) Chỉ huy trưởng Quân sự;

c) Văn phòng - thống kê;

d) Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã);

đ) Tài chính - kế toán;

e) Tư pháp - hộ tịch;

g) Văn hóa - xã hội.

Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý.

4. Cán bộ, công chức cấp xã quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã.

5. Căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội, quy mô, đặc điểm của địa phương, Chính phủ quy định cụ thể số lượng cán bộ, công chức cấp xã.

b) Nghĩa vụ, quyền của cán bộ, công chức cấp xã (Điều 62):

1. Thực hiện các nghĩa vụ, quyền quy định tại Luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan, điều lệ của tổ chức mà mình là thành viên.

2. Cán bộ, công chức cấp xã khi giữ chức vụ được hưởng lương và chế độ bảo hiểm; khi thôi giữ chức vụ, nếu đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật được xem xét chuyển thành công chức, trong trường hợp này, được miễn chế độ tập sự và hưởng chế độ, chính sách liên tục; nếu không được chuyển thành công chức mà chưa đủ điều kiện nghỉ hưu thì thôi hưởng lương và thực hiện đóng bảo hiểm tự nguyện theo quy định của pháp luật; trường hợp là cán bộ, công chức được điều động, luân chuyển, biệt phái thì cơ quan có thẩm quyền bố trí công tác phù hợp hoặc giải quyết chế độ theo quy định của pháp luật.

c) Bầu cử, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã (Điều 63):

1. Việc bầu cử cán bộ cấp xã được thực hiện theo quy định của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, điều lệ của tổ chức có liên quan, các quy định khác của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.

2. Việc tuyển dụng công chức cấp xã phải thông qua thi tuyển; đối với các xã miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì có thể được tuyển dụng thông qua xét tuyển.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện tổ chức tuyển dụng công chức cấp xã theo quy định của Chính phủ.

3. Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã phải căn cứ vào tiêu chuẩn của từng chức vụ, chức danh, yêu cầu nhiệm vụ và phù hợp với quy hoạch cán bộ, công chức.

Chế độ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã do cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chính phủ quy định.

Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã do ngân sách nhà nước cấp và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật.

d) Đánh giá, phân loại, xin thôi làm nhiệm vụ, từ chức, miễn nhiệm, thôi việc, nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức cấp xã (Điều 64):

Việc đánh giá, phân loại, xin thôi làm nhiệm vụ, từ chức, miễn nhiệm, thôi việc, nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức cấp xã được thực hiện theo quy định tương ứng của Luật này đối với cán bộ, công chức và các quy định khác của pháp luật, điều lệ có liên quan.

Chương VI. QUẢN LÝ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

a) Nội dung quản lý cán bộ, công chức (Điều 65), quy định về nội dung quản lý cán bộ, công chức. Cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ quy định cụ thể nội dung quản lý cán bộ, công chức.

b) Thẩm quyền quyết định biên chế cán bộ, công chức (Điều 66): Thẩm quyền quyết định biên chế cán bộ được thực hiện theo quy định của pháp luật và cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định biên chế công chức của Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân. Chủ tịch nước quyết định biên chế công chức của Văn phòng Chủ tịch nước. Chính phủ quyết định biên chế công chức của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cấp tỉnh, đơn vị sự nghiệp công lập của Nhà nước. Căn cứ vào quyết định chỉ tiêu biên chế được Chính phủ giao, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định biên chế công chức trong cơ quan của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập của Uỷ ban nhân dân các cấp. Cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định biên chế công chức trong cơ quan và đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội.

c) Thực hiện quản lý cán bộ, công chức (Điều 67):

- Việc quản lý cán bộ, công chức được thực hiện theo quy định của Luật này, các quy định khác của pháp luật có liên quan, điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội và văn bản của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công chức.

Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công chức.

Bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về công chức theo phân công, phân cấp của Chính phủ.

Uỷ ban nhân dân cấp huyện trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về công chức theo phân cấp của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.

- Cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình thực hiện việc quản lý công chức theo phân cấp của cơ quan có thẩm quyền và theo quy định của Chính phủ.

d) Chế độ báo cáo về công tác quản lý cán bộ, công chức (Điều 68).

e) Quản lý hồ sơ cán bộ, công chức (Điều 69): Cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền chịu trách nhiệm quản lý hồ sơ cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý. Hồ sơ cán bộ, công chức phải có đầy đủ tài liệu theo quy định, bảo đảm chính xác diễn biến, quá trình công tác của cán bộ, công chức.. Cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam hướng dẫn việc lập, quản lý hồ sơ cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý. Bộ Nội vụ hướng dẫn việc lập, quản lý hồ sơ cán bộ, công chức, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

Chương VII: CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO CHO HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ (từ Điều 70 đến Điều 73):

 Đây là một nội dung mới so với Pháp lệnh cán bộ, công chức. Các điều kiện bảo đảm cho hoạt động công vụ được xây dựng trong Luật bao gồm các quy định về công sở, nhà công vụ, phương tiện, trang bị làm việc trong công sở, phương tiện đi lại của công chức, các điều kiện khác phục vụ cho hoạt động công vụ. Bao gồm: Công sở; Nhà ở công vụ; Trang thiết bị làm việc trong công sở; Phương tiện đi lại để thi hành công vụ, cụ thể:

a) Công sở (Điều 70):

- Công sở là trụ sở làm việc của cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập, có tên gọi riêng, có địa chỉ cụ thể, bao gồm công trình xây dựng, các tài sản khác thuộc khuôn viên trụ sở làm việc.

- Nhà nước đầu tư xây dựng công sở cho cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội.

- Quy mô, vị trí xây dựng, tiêu chí thiết kế công sở do cơ quan có thẩm quyền quy định, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của từng cơ quan, tổ chức, đơn vị đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và tiêu chuẩn, định mức sử dụng.

b) Nhà ở công vụ (Điều 71):

- Nhà ở công vụ do Nhà nước đầu tư xây dựng để cán bộ, công chức được điều động, luân chuyển, biệt phái thuê trong thời gian đảm nhiệm công tác. Khi hết thời hạn điều động, luân chuyển, biệt phái, cán bộ, công chức trả lại nhà ở công vụ cho cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý nhà ở công vụ.

- Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý nhà ở công vụ phải bảo đảm việc quản lý, sử dụng nhà ở công vụ đúng mục đích, đối tượng.

c) Trang thiết bị làm việc trong công sở (Điều 72):

- Nhà nước bảo đảm trang thiết bị làm việc trong công sở để phục vụ việc thi hành công vụ; chú trọng đầu tư, ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao hiệu quả thi hành công vụ.

- Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện việc mua sắm trang thiết bị làm việc theo tiêu chuẩn, định mức, chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

- Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm xây dựng quy chế quản lý trang thiết bị làm việc trong công sở, bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm.

d. Phương tiện đi lại để thi hành công vụ (Điều 73):

 Nhà nước bố trí phương tiện đi lại cho cán bộ, công chức để thi hành công vụ theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; trường hợp không bố trí được thì cán bộ, công chức được thanh toán chi phí đi lại theo quy định của Chính phủ. 

      Chương VIII: THANH TRA CÔNG VỤ (Chương này gồm 2 điều: Điều 74 và Điều 75):

Với quan điểm thanh tra công vụ là hoạt động hết sức quan trọng nhằm bảo vệ và giữ gìn trật tự, kỷ cương của hoạt động công vụ, Luật xác định phạm vi hoạt động của thanh tra công vụ bao gồm: việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức; các điều kiện bảo đảm cho hoạt động công vụ; khen thưởng và xử lý vi phạm trong hoạt động công vụ; nội dung, yêu cầu và tổ chức thanh tra công vụ. Nội dung cụ thể như sau:

a. Phạm vi thanh tra công vụ (Điều 74): Thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của Luật này và các quy định khác có liên quan. Thanh tra việc thực hiện tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, điều động, luân chuyển, biệt phái, miễn nhiệm, đánh giá, thôi việc, nghỉ hưu, khen thưởng, xử lý kỷ luật công chức, đạo đức, văn hóa giao tiếp trong thi hành công vụ của công chức và các điều kiện bảo đảm cho hoạt động công vụ.

b. Thực hiện thanh tra công vụ (Điều 75):

- Thanh tra bộ, Thanh tra sở, Thanh tra tỉnh, Thanh tra huyện trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức.

- Thanh tra Bộ Nội vụ, Thanh tra Sở Nội vụ thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành trong phạm vi quy định tại khoản 2 Điều 74 của Luật.

 Chính phủ quy định cụ thể hoạt động thanh tra công vụ.

 Chương IX: KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM ( Chương này gồm 8 điều, từ Điều 76 đến Điều 83): 

a) Về khen thưởng: Cùng với việc quy định các hình thức khen thưởng hiện hành đối với công chức có công trạng và thành tích xuất sắc trong thực thi công vụ như giấy khen, bằng khen, danh hiệu vinh dự nhà nước, kỷ niệm chương, huy chương, huân chương, Luật quy định các hình thức khen thưởng (Điều 76) như: Cán bộ, công chức có thành tích trong công vụ thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua khen thưởng. Cán bộ, công chức được khen thưởng do có thành tích xuất sắc hoặc công trạng thì được nâng lương trước thời hạn, được ưu tiên khi xem xét bổ nhiệm chức vụ cao hơn nếu cơ quan, tổ chức, đơn vị có nhu cầu.

Chính phủ quy định cụ thể về việc khen thưởng.

b. Về miễn trách nhiệm đối với cán bộ, công chức (Điều 77): Cán bộ, công chức được miễn trách nhiệm trong các trường hợp sau đây:

- Phải chấp hành quyết định trái pháp luật của cấp trên nhưng đã báo cáo người ra quyết định trước khi chấp hành; 

- Do bất khả kháng theo quy định của pháp luật.

c. Về kỷ luật: Song song với quy định việc khen thưởng, Luật cũng quy định việc xử lý kỷ luật khi công chức vi phạm pháp luật. Trường hợp vi phạm có dấu hiệu của tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trường hợp làm mất mát, hư hỏng trang thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của Nhà nước thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.      Trường hợp có hành vi vi phạm pháp luật trong khi thi hành công vụ mà gây thiệt hại cho người khác thì phải hoàn trả cho cơ quan, tổ chức đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Hình thức kỷ luật công chức: Ngoài các hình thức kỷ luật đã có hiện nay, Luật bổ sung quy định hình thức kỷ luật giáng chức; đồng thời thay đổi hình thức buộc thôi việc bằng hình thức sa thải để đảm bảo tính thống nhất với các quy định của Bộ luật lao động. Các hình thức kỷ luật đối với công chức (Điều 79), Công chức vi phạm quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật sau đây:

+ Khiển trách;

+ Cảnh cáo;

+ Hạ bậc lương;

+ Giáng chức;

+ Cách chức;

+ Buộc thôi việc.         

Việc giáng chức, cách chức chỉ áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.

Công chức bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo thì đương nhiên bị buộc thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; công chức lãnh đạo, quản lý phạm tội bị Tòa án kết án và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên thôi giữ chức vụ do bổ nhiệm.

Chính phủ quy định việc áp dụng các hình thức kỷ luật, trình tự, thủ tục và thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với công chức.

Thời hiệu, thời hạn: Bên cạnh đó, Luật còn quy định bổ sung về thời hiệu xử lý trách nhiệm người đứng đầu trong xử lý kỷ luật công chức vi phạm; về tạm đình chỉ hoạt động công vụ và các quy định khác liên quan đến công chức bị kỷ luật; việc chấm dứt hiệu lực của quyết định kỷ luật (từ Điều 80 đến Điều 82).

Thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật (Điều 80):  

- Thời hiệu xử lý kỷ luật là thời hạn do Luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì cán bộ, công chức có hành vi vi phạm không bị xem xét xử lý kỷ luật. Thời hiệu xử lý kỷ luật là 24 tháng, kể từ thời điểm có hành vi vi phạm.

- Thời hạn xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức là khoảng thời gian từ khi phát hiện hành vi vi phạm kỷ luật của cán bộ, công chức đến khi có quyết định xử lý kỷ luật của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Thời hạn xử lý kỷ luật không quá 02 tháng; trường hợp vụ việc có những tình tiết phức tạp cần có thời gian thanh tra, kiểm tra để xác minh làm rõ thêm thì thời hạn xử lý kỷ luật có thể kéo dài nhưng tối đa không quá 04 tháng.

- Trường hợp cá nhân đã bị khởi tố, truy tố hoặc đã có quyết định đưa ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự, nhưng sau đó có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án mà hành vi vi phạm có dấu hiệu vi phạm kỷ luật thì bị xử lý kỷ luật; trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, người ra quyết định phải gửi quyết định và hồ sơ vụ việc cho cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền xử lý kỷ luật.

Về tạm đình chỉ công tác đối với cán bộ, công chức (Điều 81):

- Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý cán bộ, công chức có thể ra quyết định tạm đình chỉ công tác trong thời gian xem xét, xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, nếu để cán bộ, công chức đó tiếp tục làm việc có thể gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý. Thời hạn tạm đình chỉ công tác không quá 15 ngày, trường hợp cần thiết có thể kéo dài thêm nhưng tối đa không quá 15 ngày; nếu cán bộ, công chức bị tạm giữ, tạm giam để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử thì thời gian tạm giữ, tạm giam được tính là thời gian nghỉ việc có lý do; hết thời hạn tạm đình chỉ công tác nếu cán bộ, công chức không bị xử lý kỷ luật thì được tiếp tục bố trí làm việc ở vị trí cũ. 

- Trong thời gian bị tạm đình chỉ công tác hoặc bị tạm giữ, tạm giam để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, cán bộ, công chức được hưởng lương theo quy định của Chính phủ.

Các quy định khác liên quan đến cán bộ, công chức bị kỷ luật (Điều 82):    Cán bộ, công chức bị khiển trách hoặc cảnh cáo thì thời gian nâng lương bị kéo dài 06 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực; nếu bị giáng chức, cách chức thì thời gian nâng lương bị kéo dài 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực. Cán bộ, công chức bị kỷ luật từ khiển trách đến cách chức thì không thực hiện việc nâng ngạch, quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực; hết thời hạn này, nếu cán bộ, công chức không vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì tiếp tục thực hiện nâng ngạch, quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm theo quy định của pháp luật. Cán bộ, công chức đang trong thời gian bị xem xét kỷ luật, đang bị điều tra, truy tố, xét xử thì không được ứng cử, đề cử, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, biệt phái, đào tạo, bồi dưỡng, thi nâng ngạch, giải quyết nghỉ hưu hoặc thôi việc. Cán bộ, công chức bị kỷ luật cách chức do tham nhũng thì không được bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo, quản lý.

e) Đối với công chức giữ các chức vụ bầu cử, bổ nhiệm theo nhiệm kỳ quy định Luật này, Luật quy định như sau:

- Công chức bầu cử, được bổ nhiệm giữ các chức vụ trong các cơ quan nhà nước và trong các cơ quan của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội nếu vi phạm pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ áp dụng một trong các hình thức kỷ luật quy định tại Điều 78:

+ Khiển trách;

+ Cảnh cáo;

+ Cách chức;

+ Bãi nhiệm.

- Việc cách chức chỉ áp dụng đối với cán bộ được phê chuẩn giữ chức vụ theo nhiệm kỳ.

- Cán bộ phạm tội bị Tòa án kết án và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên thôi giữ chức vụ do bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm; trường hợp bị Tòa án phạt tù mà không được hưởng án treo thì đương nhiên bị thôi việc.

- Việc áp dụng các hình thức kỷ luật, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật cán bộ được thực hiện theo quy định của pháp luật, điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội và văn bản của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

- Công chức giữ các chức vụ bầu cử là đại biểu chuyên trách trong các cơ quan của Quốc hội và Hội đồng nhân dân nếu vi phạm pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ áp dụng các hình thức kỷ luật quy định tại Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân.

Trình tự, thủ tục và thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với công chức do Chính phủ và cơ quan có thẩm quyền của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội quy định cụ thể.

Chương X: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

 Chương này gồm 4 điều, từ Điều 84 đến Điều 87:

 Ngoài quy định về hiệu lực thi hành của Luật, các quy định cụ thể về việc giao cho Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật, cụ thể là: một số đối tượng khác được bầu vào các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức chính trị- xã hội- nghề nghiệp nhưng không phải là công chức quy định tại Luật này hoặc một số trường hợp khác như sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan chuyên nghiệp thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân; Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc và những người giữ các chức vụ quản lý khác trong doanh nghiệp Nhà nước, hoặc được Nhà nước cử làm đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước.

 Các đối tượng nêu trên, mặc dù không được quy định cụ thể tại Luật Cán bộ, công chức nhưng hoạt động của họ là nhân danh Nhà nước, thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước giao. Do vậy, Luật quy định giao cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội quy định cụ thể việc áp dụng Luật Cán bộ, công chức đối với các đối tượng này.

 

Phần thứ ba

 

NHỮNG ĐIỂM MỚI SO VỚI

PHÁP LỆNH CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NĂM 1998

 VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP TRIỂN KHAI THỰC HIỆN LUẬT

I. NHỮNG ĐIỂM MỚI SO VỚI PHÁP LỆNH CÁN BỘ CÔNG CHỨC NĂM 1998

Ngày 13/11/2008, kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XII thông qua Luật Cán bộ, công chức thay thế Pháp lệnh Cán bộ, công chức nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; xây dựng một nền hành chính trong sạch, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với xu hướng chuyển đổi sang nền hành chính phục vụ, thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế. Luật Cán bộ, công chức được ban hành với các quan điểm chỉ đạo là: thể chế hóa đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tiếp tục cải cách chế độ công vụ, công chức, đáp ứng yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; hoàn thiện chế độ công vụ và quản lý cán bộ, công chức  phải bảo đảm sự đồng bộ với các nội dung đổi mới hệ thống chính trị trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế; bảo đảm tính minh bạch, công khai và tính tự chịu trách nhiệm trong hoạt động công vụ; bảo đảm tính kế thừa và phát triển của các quy định hiện hành về công vụ và  cán bộ, công chức vừa phù hợp với thể chế chính trị và các giá trị văn hóa của Việt Nam, vừa tiếp cận được với các thành tựu của các nền công vụ trên thế giới.

Tuân thủ các quan điểm chỉ đạo nêu trên, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã thể hiện nhiều nội dung mới và tiến bộ, mang tính cải cách mạnh mẽ so với Pháp lệnh Cán bộ, công chức ban hành năm 1998, bao gồm các nội dung cơ bản sau:

1. Về đối tượng, phạm vi điều chỉnh

  1.1. Thu hẹp đối tượng, phạm vi điều chỉnh

  Luật Cán bộ, công chức đã thu hẹp đối tượng áp dụng so với Pháp lệnh Cán bộ, công chức gắn với yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN. Theo đó, đội ngũ viên chức làm việc trong khu vực sự nghiệp công lập chiếm số lượng rất lớn (khoảng trên 1,4 triệu người), do đặc điểm và tính chất hoạt động của họ không mang tính quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước nên đối tượng này không thuộc phạm vi và đối tượng điều chỉnh của Luật. Đây là một bước tiến mới về nhận thức trong quá trình tiếp tục cải cách chế độ công vụ, công chức. Khi tách đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp ra khỏi Luật Cán bộ, công chức sẽ có điều kiện tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách khuyến khích sự phát triển của các đơn vị sự nghiệp, góp phần đẩy mạnh quá trình xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp, nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức, nâng cao chất lượng phục vụ người dân của các đơn vị sự nghiệp. Trước đây, với việc sửa đổi và bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 2003, Nhà nước đã bước đầu phân định khu vực hành chính nhà nước với khu vực sự nghiệp, tạo cơ sở cho việc xây dựng cơ chế quản lý phù hợp đối với đội ngũ viên chức sự nghiệp. Sau 5 năm thực hiện việc phân định này, đội ngũ viên chức không còn là đối tượng điều chỉnh của Luật Cán bộ, công chức và sẽ được Luật viên chức sau này điều chỉnh. Việc xác định các nhóm công chức về cơ bản vẫn kế thừa các quy định của Pháp lệnh Cán bộ, công chức. Các đơn vị sự nghiệp công hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học công nghệ, văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao... là các tổ chức được Nhà nước thành lập và uỷ quyền để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước.

Hiện nay, trong lĩnh vực giáo dục, Nhà nước đang tiến hành soạn thảo Dự án Luật giáo viên; ở lĩnh vực y tế, Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân... Các văn bản Luật, pháp lệnh này có xu hướng sẽ điều chỉnh đối với những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp cả khu vực công và khu vực tư. Vì vậy, đối với các đơn vị sự nghiệp công chỉ quy định công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm để giữ các chức vụ trong bộ máy lãnh đạo, quản lý. 

1.2. Phân định tương đối rõ cán bộ, công chức

Song song với việc thu hẹp đối tượng điều chỉnh, Luật Cán bộ, công chức đã phân định tương đối rõ ai là cán bộ, ai là công chức. Cả một thời kỳ dài trước đây, do điều kiện chiến tranh và thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung, tất cả những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, của Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội, kể cả trong các doanh nghiệp, lâm nông trường... đều được gọi chung trong cụm từ là "cán bộ công nhân viên chức" mà chưa có sự phân định rõ ràng, cụ thể. Đến năm 1993, khi thực hiện cải cách tiền lương, mới bước đầu phân định cán bộ, công chức trong khu vực hành chính sự nghiệp với những người làm việc trong khu vực sản xuất kinh doanh. Đây là tiền đề để Nhà nước ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 điều chỉnh Cán bộ, công chức trong khu vực hành chính sự nghiệp (gồm các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội) nhưng vẫn sử dụng chung cụm từ "cán bộ, công chức", chưa xử lý được vấn đề tách cán bộ với công chức. Qua 10 năm thực hiện Pháp lệnh Cán bộ, công chức, do chưa phân định được rõ ràng ai là cán bộ, ai là công chức nên cơ chế quản lý và chế độ, chính sách do Nhà nước ban hành vẫn còn những hạn chế, chưa hoàn toàn phù hợp với từng nhóm đối tượng. Điều này ảnh hưởng đến quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ và đội ngũ công chức vốn có những đặc điểm hoạt động và công tác đặc thù riêng. Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã quy định tiêu chí phân định ai là cán bộ, ai là công chức. Theo đó, cán bộ gắn với tiêu chí được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ; công chức gắn với tiêu chí được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Bên cạnh đó, cụm từ “cán bộ, công chức cấp xã” đã được tách ra thành cán bộ cấp xã (gắn với cơ chế bầu cử) và công chức cấp xã (gắn với cơ chế tuyển dụng). Luật quy định cụ thể về chức danh, chức vụ của cán bộ, công chức cấp xã (Điều 61). Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý. Nghĩa vụ, quyền của cán bộ, công chức cấp xã ( Điều 62) Bầu cử, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã (Điều 63). Đánh giá, phân loại, xin thôi làm nhiệm vụ, từ chức, miễn nhiệm, thôi việc, nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức cấp xã (Điều 64). Việc đánh giá, phân loại, xin thôi làm nhiệm vụ, từ chức, miễn nhiệm, thôi việc, nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức cấp xã được thực hiện theo quy định tương ứng của Luật này đối với cán bộ, công chức cấp tỉnh và huyện.

1.3. Thể hiện bước tiến mới trong việc phân biệt một số nội dung quản lý cán bộ với quản lý công chức và cán bộ, công chức cấp xã

Bên cạnh những quy định áp dụng chung đối với cán bộ, công chức, để có những quy định phù hợp với đặc thù hoạt động và thực thi công vụ của cán bộ, công chức và cán bộ cấp xã, công chức cấp xã, Luật Cán bộ, công chức  có 3 chương riêng biệt: chương cán bộ ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; chương công chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; chương cán bộ, công chức cấp xã. Qua đó đã thể hiện bước tiến mới trong việc phân biệt một số nội dung quản lý cán bộ với quản lý công chức và cán bộ, công chức cấp xã. Đặc biệt, việc thực hiện điều động, luân chuyển cán bộ, công chức trong hệ thống các cơ quan của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội đã được thể chế hóa trong các chương này của Luật. Khắc phục xu hướng “hành chính hóa” và “phình” biên chế ở cơ sở, cán bộ cấp xã và công chức cấp xã được quy định cụ thể theo những chức vụ bầu cử và chức danh chuyên môn cần thiết.

Việc quy định các đối tượng áp dụng nêu trên của Luật có ý nghĩa vô cùng lớn trong việc quy định các vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ, công tác sử dụng, quản lý, đào tạo, bồi dưỡng cũng như xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp với đội ngũ cán bộ, đội ngũ công chức và cán bộ, công chức cấp xã.

 2. Về chế độ công vụ và cán bộ, công chức

 2.1. Thống nhất cách hiểu về hoạt động công vụ và quy định rõ các nguyên tắc trong thi hành công vụ

 Luật Cán bộ, công chức thống nhất cách hiểu về hoạt động công vụ và quy định rõ các nguyên tắc trong thi hành công vụ. Đây là cơ sở và nền móng để xây dựng một nền công vụ phù hợp với thể chế chính trị ở Việt Nam mà vẫn tiếp cận và bắt nhịp được với xu thế phát triển của các nền công vụ trên thế giới. Qua đó, bảo đảm mọi hoạt động công vụ do cán bộ, công chức  thực hiện đều hướng tới phục vụ nhân dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và nhân dân, chịu sự kiểm soát của nhân dân, bảo đảm hiệu quả và tuân thủ pháp luật.

2.2. Bổ sung một số nguyên tắc quản lý cán bộ, công chức

Để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu mới hiện nay, Luật bổ sung thêm một số nguyên tắc quản lý cán bộ, công chức. Trong đó, đáng chú ý là nguyên tắc kết hợp tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế. Nguyên tắc này tạo cơ sở khoa học đồng thời mang tính thực tiễn cao; giúp cho việc xóa bỏ hoàn toàn cơ chế "xin - cho" trong quản lý biên chế cũng như bảo đảm thực hiện có hiệu quả, đúng mục đích công tác tổ chức thi tuyển, thi nâng ngạch, đánh giá, sử dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Việc xác định biên chế được thực hiện trên cơ sở khoa học, không chỉ dựa vào nhu cầu công việc, nhiệm vụ của cơ quan, mà còn căn cứ vào tiêu chuẩn, vị trí việc làm và cơ cấu công chức. Nguyên tắc đề cao trách nhiệm cá nhân trong thực thi công vụ được kết hợp với nguyên tắc tập trung dân chủ; việc sử dụng, đánh giá, phân loại cán bộ, công chức phải dựa trên phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực thi hành công vụ - đây chính là việc vận dụng nguyên tắc thực tài trong hoạt động công vụ ở Việt Nam. Gắn với nguyên tắc này là việc quy định chính sách phát hiện, thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với người có tài năng.

2.3. Chỉnh lý, bổ sung hệ thống các quy định về nghĩa vụ, quyền của cán bộ, công chức

Luật Cán bộ, công chức cũng chỉnh lý, bổ sung hệ thống các quy định về nghĩa vụ, quyền của cán bộ, công chức. Nghĩa vụ của cán bộ, công chức được quy định tập trung vào hai nhóm cơ bản: nhóm nghĩa vụ liên quan đến thể chế chính trị, đến phục vụ và quan hệ với nhân dân và nhóm nghĩa vụ trong thi hành công vụ. Để khẳng định và gắn với việc đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, Luật quy định nghĩa vụ đối với người đứng đầu trong thực hiện chức trách và thẩm quyền được giao. Trách nhiệm của cán bộ, công chức chính là thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Do đó, sự gắn kết giữa trách nhiệm với nghĩa vụ trong thực thi công vụ của cán bộ, công chức cũng được thể hiện trong các quy định của Luật. Đạo đức, văn hóa giao tiếp và những việc không được làm quy định trong Luật đồng thời là các nội dung liên quan đến nghĩa vụ và trách nhiệm của cán bộ, công chức nhưng được tách thành một mục riêng nhằm nhấn mạnh và yêu cầu cán bộ, công chức phải thực hiện để xứng đáng là "công bộc", là "người đầy tớ" của nhân dân. Bên cạnh các nghĩa vụ, trách nhiệm mà cán bộ, công chức phải thực hiện, Luật quy định các điều kiện bảo đảm thi hành công vụ như công sở, trang thiết bị làm việc và phương tiện đi lại, nhà ở công vụ... nhằm khẳng định nghĩa vụ và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm các điều kiện thuận lợi cho cán bộ, công chức thực thi công vụ có hiệu quả.

3. Về phương thức quản lý cán bộ

Để xây dựng đội ngũ cán bộ, đội ngũ công chức và cán bộ, công chức cấp xã trong sạch, có phẩm chất, trình độ và năng lực đáp ứng yêu cầu hiện nay, bên cạnh việc kế thừa các quy định hiện hành còn phù hợp, Luật Cán bộ, công chức bổ sung nhiều nội dung nhằm đổi mới phương thức và cơ chế quản lý cán bộ, công chức theo chủ trương, chính sách của Đảng về công tác cán bộ và cải cách chế độ công vụ, công chức. Cụ thể là:

3.1. Về quản lý công chức

Để bảo đảm tính thống nhất trong quản lý cán bộ và quản lý công chức, Luật Cán bộ, công chức quy định rất cụ thể về vấn đề này. Đối với cán bộ, việc quản lý thực hiện theo quy định của cơ quan có thẩm quyền của Đảng và của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Đối với công chức, việc quản lý nhà nước về công chức do Chính phủ quản lý thống nhất - nghĩa là các quy định cụ thể về tuyển dụng, sử dụng, nâng ngạch, bổ nhiệm, từ chức, khen thưởng, kỷ luật, tiền lương, đãi ngộ, thôi việc, nghỉ hưu... đối với những người được xác định là công chức, cho dù họ làm việc trong cơ quan của Đảng, của Nhà nước, của tổ chức chính trị - xã hội hoặc bộ máy quản lý của đơn vị sự nghiệp, đều được thống nhất quản lý và thực hiện theo các quy định của Chính phủ. Cơ quan có thẩm quyền của Đảng, các bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh, tổ chức chính trị - xã hội thực hiện quản lý nhà nước về công chức theo phân công, phân cấp.

Thực hiện đổi mới công tác quản lý công chức, Luật quy định việc mô tả, quy định vị trí việc làm và cơ cấu công chức. Đó là căn cứ và cơ sở để xác định số lượng biên chế, thực hiện việc tuyển dụng, thi nâng ngạch, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng... Là vấn đề rất mới, nhưng nếu thực hiện theo đúng quy định và tinh thần của Luật thì công tác quản lý công chức sẽ được nâng cao về chất lượng và hiệu quả. Bên cạnh đó, Luật quy định cụ thể và rõ ràng chế độ báo cáo và quản lý hồ sơ cán bộ, công chức để đưa công tác này vào nền nếp, phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về công chức.

3.2. Về quản lý cán bộ

Căn cứ vào đặc điểm hoạt động và thực thi công vụ, một số nội dung quản lý cán bộ được quy định khác với quản lý công chức. Ví dụ: về nội dung đánh giá cán bộ, bên cạnh việc chấp hành đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, việc đánh giá cán bộ tập trung vào phẩm chất, năng lực, trách nhiệm và kết quả hoàn thành nhiệm vụ. Chế độ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được đổi mới theo hướng: việc đào tạo, bồi dưỡng căn cứ vào tiêu chuẩn, chức vụ, chức danh, yêu cầu nhiệm vụ và phù hợp với quy hoạch cán bộ. Do cán bộ được lựa chọn thông qua phương thức bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm nên các hình thức kỷ luật cũng không hoàn toàn giống như công chức và chỉ gồm các hình thức: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm. Điều động, luân chuyển cán bộ là nội dung mới được quy định tại Luật. Cơ quan sử dụng cán bộ phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, quy hoạch cán bộ, cán bộ được điều động, luân chuyển trong hệ thống các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội.

3.3. Về quản lý biên chế, tổ chức tuyển dụng và nâng ngạch công chức  

Quản lý biên chế, tổ chức tuyển dụng và nâng ngạch công chức được thay đổi theo hướng dựa trên tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm, mô tả công việc và xây dựng cơ cấu công chức. Điều kiện đăng ký dự tuyển công chức đã được thể hiện ngay trong Luật mà không giao cho Chính phủ hoặc các cơ quan khác quy định. Trong đó, điều kiện đăng ký dự tuyển công chức có một số điểm mới cần lưu ý, đó là: mặc dù Luật Quốc tịch đã được sửa đổi, bổ sung thông thoáng hơn trước đây nhưng chỉ những người có quốc tịch Việt Nam mới được dự tuyển; tuổi dự tuyển chỉ quy định tuổi sàn là từ đủ 18 tuổi trở lên, không quy định tuổi trần vì Luật Bảo hiểm xã hội đã quy định bên cạnh bảo hiểm bắt buộc còn có cả bảo hiểm tự nguyện; về điều kiện liên quan đến Luật Cư trú, người dự tuyển có quốc tịch Việt Nam nhưng không cư trú tại Việt Nam thì cũng không được dự tuyển; người đã chấp hành xong bản án, quyết định về hình sự của tòa án mà chưa được xóa án tích cũng không được dự tuyển. Bên cạnh thực hiện ưu tiên tuyển chọn người có công với nước, người dân tộc thiểu số còn thực hiện chính sách ưu tiên tuyển chọn người có tài năng.

Về tổ chức tuyển dụng, nâng ngạch: cùng với việc giao thẩm quyền tuyển dụng cho các bộ, ngành và địa phương, Luật bổ sung quy định các bộ, ngành và địa phương có trách nhiệm thực hiện việc phân cấp tuyển dụng công chức cho các cơ quan thuộc quyền quản lý. Bước đầu gắn dần thẩm quyền sử dụng với thẩm quyền tuyển dụng, khắc phục tình trạng người được giao quyền tuyển dụng không được giao quyền sử dụng; người được giao sử dụng thì lại không được giao quyền tuyển dụng; qua đó nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng, lựa chọn được đúng người có đủ năng lực, tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu công việc. Việc nâng ngạch phải qua kỳ thi và thực hiện theo nguyên tắc cạnh tranh để lựa chọn người giỏi hơn; không hạn chế số người đăng ký, không quy định thâm niên giữ ngạch và hệ số lương… Tuy nhiên, chỉ tiêu dự thi được xác định trên cơ sở nhu cầu vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức. Theo nguyên tắc cạnh tranh, cơ quan có thẩm quyền sẽ chỉ bổ nhiệm vào ngạch dự thi số người bằng đúng số vị trí còn thiếu trong số những người đạt yêu cầu, theo nguyên tắc chọn người giỏi hơn. Để nâng cao chất lượng công chức, nội dung và hình thức thi tuyển, thi nâng ngạch được đổi mới nhằm lựa chọn đúng người có đủ năng lực, phẩm chất, kỹ năng và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Việc tổ chức thi nâng ngạch được tập trung vào một đầu mối do Bộ Nội vụ chủ trì, trên cơ sở phối hợp với các đơn vị, cơ quan hữu quan.

3.4. Về các vấn đề liên quan đến việc sử dụng công chức

Các vấn đề liên quan đến việc sử dụng công chức: việc đào tạo, bồi dưỡng công chức được đổi mới theo hướng đào tạo căn cứ vào tiêu chuẩn chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý; tiêu chuẩn ngạch công chức và phải phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ. Các nội dung quy định liên quan đến bổ nhiệm, luân chuyển, biệt phái, từ chức, miễn nhiệm công chức chỉ có ở các văn bản dưới luật nay được đưa vào Luật, đã khẳng định thêm giá trị pháp lý của các quy định này. Riêng về biệt phái, Luật bổ sung thêm thời hạn biệt phái công chức có thể trên 3 năm đối với một số ngành, lĩnh vực và do Chính phủ quy định để phù hợp với yêu cầu của một số ngành, nghề. Việc đánh giá đối với công chức có thêm một số nội dung mang tính cụ thể hơn so với cán bộ như tiến độ và tinh thần phối hợp thực hiện nhiệm vụ, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thái độ phục vụ nhân dân.

2.5. Về công tác khen thưởng và kỷ luật cán bộ, công chức

Công tác khen thưởng và kỷ luật cán bộ, công chức cũng có một số điểm mới. Đó là: đối với cán bộ, công chức có thành tích trong thực thi công vụ vẫn được khen thưởng theo quy định hiện hành nhưng không còn hình thức nâng ngạch do có thành tích xuất sắc. Có 6 hình thức kỷ luật đối với công chức, trong đó không còn hình thức hạ ngạch và bổ sung thêm hình thức giáng chức. Để nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị và củng cố trật tự kỷ cương trong thực thi công vụ, Luật quy định thời hiệu xử lý kỷ luật và thời hạn xử lý kỷ luật. Theo đó, thời hiệu xử lý kỷ luật là 24 tháng kể từ khi có hành vi vi phạm, khi hết thời hạn đó thì CBCC vi phạm không bị xem xét xử lý kỷ luật. Thời hạn xử lý kỷ luật là 2 tháng, tối đa không quá 4 tháng kể từ khi phát hiện hành vi vi phạm đến khi có quyết định xử lý kỷ luật. Đối với mức độ kỷ luật khác nhau thời gian nâng bậc lương cũng không giống nhau. Nếu cán bộ, công chức bị kỷ luật khiển trách hoặc cảnh cáo thì thời gian nâng lương kéo dài thêm 6 tháng; trường hợp bị kỷ luật giáng chức hoặc cách chức thì thời gian nâng lương kéo dài thêm 12 tháng.

3.6. Về giải quyết thôi việc và nghỉ hưu

 Theo quy định mới của Luật, qua công tác đánh giá hàng năm nếu cán bộ, công chức bị phân loại là hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực hoặc không hoàn thành nhiệm vụ 2 năm liên tiếp thì cơ quan có thẩm quyền sẽ bố trí công tác khác hoặc giải quyết miễn nhiệm, cho thôi làm nhiệm vụ (đối với cán bộ) hoặc giải quyết cho thôi việc (đối với công chức). Đây là quy định hoàn toàn mới của Luật và là một giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, bước đầu thực hiện quan điểm: trong công vụ có vào, có ra và chỉ giữ lại những người thực sự đáp ứng được yêu cầu công việc. Bên cạnh đó, theo quy định của Luật, không kéo dài thời gian công tác đối với CBCC khi đến tuổi nghỉ hưu, trừ trường hợp đặc biệt đối với cán bộ giữ chức vụ từ Bộ trưởng hoặc tương đương trở lên thực hiện theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.

3.7.  Về các vấn đề đối với cán bộ, công chức cấp xã

Bên cạnh việc quy định rõ và cụ thể các chức vụ của cán bộ cấp xã, chức danh của công chức cấp xã, Luật phân cấp cho cấp huyện quản lý công chức cấp xã. Để chủ động và tạo thuận lợi trong quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, Quốc hội giao Chính phủ quy định cụ thể số lượng cán bộ, công chức cấp xã căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội, quy mô, đặc điểm của địa phương. Đồng thời, để thực hiện và bảo đảm tính liên thông đối với đội ngũ cán bộ cấp xã, công chức cấp xã, Luật quy định quyền lợi của cán bộ, công chức cấp xã khi chuyển thành công chức ở cấp huyện trở lên về các mặt như chế độ bảo hiểm xã hội, miễn tập sự, được hưởng chế độ chính sách liên tục. Trường hợp không chuyển thành công chức thì thôi hưởng lương và thực hiện đóng bảo hiểm tự nguyện theo quy định của pháp luật.

3.8. Quy định về thanh tra công vụ

 Thanh tra công vụ cũng là một nội dung hoàn toàn mới nhằm nâng cao trật tự, kỷ cương trong thực thi công vụ của cán bộ, công chức, bảo đảm cho cán bộ, công chức có ý thức trách nhiệm cao trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Theo đó, Luật quy định các vấn đề liên quan đến phạm vi và phân công thực hiện thanh tra công vụ. Phạm vi thanh tra công vụ được xác định rõ, gồm: thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức được phân công cho thanh tra bộ, thanh tra sở, thanh tra tỉnh, thanh tra huyện thực hiện căn cứ vào nhiệm vụ, quyền hạn của mình và thanh tra việc thực hiện các nội dung liên quan đến công tác quản lý cán bộ, công chức, đạo đức, văn hóa giao tiếp trong thi hành công vụ và các điều kiện bảo đảm hoạt động công vụ được phân công cho Thanh tra Bộ Nội vụ, Thanh tra Sở Nội vụ thực hiện theo chức năng thanh tra chuyên ngành.

3.9. Về đạo đức, văn hoá giao tiếp của cán bộ, công chức

Luật cán bộ, công chức năm 2008 bổ sung thêm mục đạo đức, văn hoá giao tiếp của cán bộ, công chức, nhằm xây dựng một nền công vụ phục vụ nhân dân, góp phần vào việc xây dựng văn hóa công vụ, quy tắc ứng xử của công chức trong thực thi công vụ. Luật cũng quy định cụ thể các chuẩn mực về đạo đức công vụ như đạo đức công chức, văn hóa giao tiếp trong công sở, văn hóa giao tiếp với nhân dân. bao gồm: Cán bộ, công chức phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ. Về văn hóa giao tiếp ở công sở, cán bộ, công chức phải có thái độ lịch sự, tôn trọng đồng nghiệp; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc. Cán bộ, công chức phải lắng nghe ý kiến của đồng nghiệp; công bằng, vô tư, khách quan khi nhận xét, đánh giá; thực hiện dân chủ và đoàn kết nội bộ. Khi thi hành công vụ, cán bộ, công chức phải mang phù hiệu hoặc thẻ công chức; có tác phong lịch sự; giữ gìn uy tín, danh dự cho cơ quan, tổ chức, đơn vị và đồng nghiệp. Trong giao tiếp với nhân dân, cán bộ, công chức phải gần gũi với nhân dân; có tác phong, thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc. Cán bộ, công chức không được hách dịch, cửa quyền.

Các nội dung mới trên đây của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã thể hiện được cơ bản chủ trương của Đảng về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước, đáp ứng các yêu cầu của thời kỳ phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế.

Sau hơn 10 năm thực hiện Pháp lệnh Cán bộ, công chức, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 được ban hành đã tiếp tục thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng về cải cách nền công vụ và về công tác cán bộ, công chức, tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc để tiếp tục cải cách nền công vụ, nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta. Việc ban hành Luật Cán bộ, công chức một lần nữa khẳng định, hoạt động công vụ và đội ngũ cán bộ, công chức là một nội dung quan trọng của nền hành chính quốc gia, luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm. Tổ chức và thực hiện tốt các nội dung đổi mới thể hiện tại Luật Cán bộ, công chức năm 2008 là trách nhiệm của tất cả các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và mọi người dân, góp phần xây dựng chế độ công vụ, công chức ở nước ta ngày một hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ.

II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP TRIỂN KHAI THỰC HIỆN LUẬT CÁN BỘ, CÔNG CHỨC

Để các tư tưởng, mục tiêu thể hiện trong Luật Cán bộ, công chức được các cơ quan, tổ chức, đơn vị và mọi người dân quán triệt và tuân thủ đầy đủ, cần tập trung làm tốt một số công việc sau:

1. Tổ chức và phối hợp với các cơ quan hữu quan thực hiện tốt hoạt động thông tin tuyên truyền, mở các lớp tập huấn và bồi dưỡng nhằm nâng cao và thống nhất nhận thức cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân về các nội dung liên quan đến tư tưởng, quan điểm, mục tiêu và các quy định của Luật Cán bộ, công chức. Đây là việc rất quan trọng, không thể xem nhẹ. Nhận thức, tư duy nếu chưa thông suốt và thống nhất, chậm thay đổi thì các nội dung nhằm cải cách chế độ công vụ, công chức thể hiện trong Luật không thể được triển khai tốt và có hiệu quả trong hoạt động thực tiễn.

2. Xây dựng kế hoạch triển khai Luật Cán bộ, công chức trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định. Nội dung của kế hoạch triển khai Luật Cán bộ, công chức không chỉ đơn thuần thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước của ngành Tổ chức nhà nước mà còn liên quan đến các lĩnh vực quản lý nhà nước khác thuộc chức năng, nhiệm vụ của một số bộ, ngành và các cơ quan, tổ chức hữu quan. Vì vậy, khi xây dựng các nội dung của kế hoạch triển khai Luật cần có sự tham gia và tạo sự đồng thuận cao của các cơ quan, tổ chức có liên quan, bên cạnh việc huy động trí tuệ của các chuyên gia, các nhà khoa học nhằm nâng cao chất lượng của các nội dung cần triển khai. 

3. Trong năm 2009, cần nhanh chóng xây dựng và trình Chính phủ và các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn những nội dung quan trọng của Luật. Cụ thể là:

- Nhóm các văn bản quy định chi tiết việc xác định các chức danh cán bộ làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị- xã hội; những trường hợp là công chức trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập; quy định cụ thể việc áp dụng Luật Cán bộ, công chức đối với những người là viên chức lãnh đạo, quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước hoặc những người được cử làm đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước; những người do Luật sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam, Luật Công an nhân dân điều chỉnh; những người do bầu cử nhưng không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Cán bộ, công chức; những người được Đảng, Nhà nước điều động, phân công hoặc được tuyển dụng làm việc trong tổ chức chính trị- xã hội- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp;

- Nhóm các văn bản quy định chi tiết liên quan đến việc quản lý cán bộ, công chức cấp xã, kể cả việc quy định khung số lượng, chế độ, chính sách đối với những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã;

- Nhóm các văn bản quy định liên quan đến thực hiện quyền, nghĩa vụ của cán bộ, công chức;

- Nhóm các văn bản quy định việc quản lý cán bộ như chế độ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; chế độ điều động, luân chuyển cán bộ; chế độ đánh giá cán bộ...;

- Nhóm các văn bản quy định các nội dung quản lý nhà nước về công chức, từ việc quy định phương pháp xác định vị trí việc làm, tiêu chuẩn ngạch, quản lý biên chế đến việc tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, nâng ngạch, đánh giá, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, phân cấp quản lý công chức...

- Nhóm các văn bản áp dụng pháp luật chung cho cán bộ, công chức như chế độ tiền lương và đãi ngộ, chế độ thôi việc và nghỉ hưu, chế độ trách nhiệm của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ; chính sách đối với người có tài năng; quy định việc tư vấn đối với cán bộ, công chức; thanh tra công vụ; công sở và nhà công vụ; quy định về các điều kiện bảo đảm cho hoạt động công vụ.

4. Đối với một số nội dung mới quy định trong Luật Cán bộ, công chức như đổi mới quản lý biên chế, xây dựng vị trí việc làm và cơ cấu công chức; thi nâng ngạch theo hướng cạnh tranh; thi tuyển vào các vị trí lãnh đạo, quản lý; tập trung một đầu mối tổ chức thi nâng ngạch... cần thiết phải xây dựng đề án thực hiện thí điểm, rút kinh nghiệm rồi mới triển khai thực hiện trong toàn quốc để tránh xáo trộn, mất ổn định trong đội ngũ cán bộ, công chức. Do đặc điểm lịch sử hình thành đội ngũ cán bộ, công chức ở nước ta, đối với một bộ phận cán bộ, công chức có quá trình cống hiến lâu năm, tuổi đã cao cần có chính sách phù hợp.

5. Đối với đội ngũ viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Cán bộ, công chức thì vẫn thực hiện theo các quy định hiện hành cho đến khi Nhà nước ban hành Luật Viên chức. Tuy nhiên, phải khẩn trương tổ chức nghiên cứu, rà soát và đánh giá hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành liên quan đến đội ngũ viên chức và các tổ chức sự nghiệp công lập, chuẩn bị các luận cứ khoa học và khảo sát thực tiễn liên quan đến vị trí, vai trò và chất lượng đội ngũ viên chức trong điều kiện thực hiện xã hội hóa, trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các các đơn vị sự nghiệp... phục vụ cho việc triển khai xây dựng dự án Luật Viên chức để báo cáo Chính phủ trình Quốc hội trong thời gian sớm nhất. Đây là việc làm cần thiết nhằm tạo sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân của các tổ chức sự nghiệp công lập ở nước ta.

6. Trong thời gian từ nay đến hết năm 2009, ngành Tổ chức nhà nước có trách nhiệm cùng với các cơ quan, tổ chức hữu quan giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền tiến hành soạn thảo các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật Cán bộ, công chức.

Thứ nhất, trước năm 2010 sẽ tổ chức Hội nghị các bộ, ngành và địa phương để triển khai Luật Cán bộ, công chức và các văn bản quy định chi tiết thực hiện. Vì vậy, để quá trình thực hiện đạt kết quả tốt, trước hết, các văn bản này phải được xây dựng đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành bảo đảm chất lượng, rõ ràng, dễ hiểu để không chỉ các cơ quan trong ngành Tổ chức nhà nước nắm vững, mà đội ngũ cán bộ, công chức và nhân dân đều hiểu để cùng nhau thực hiện.

Thứ hai, cần tổ chức các lớp bồi dưỡng để tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ, công chức ngành Tổ chức nhà nước để thực hiện đúng và chính xác các quy định về quản lý cán bộ, công chức.

 Thứ ba, nhận thức là một quá trình, vì vậy, các nội dung mới của quản lý cán bộ, công chức trong quá trình triển khai sẽ có những điểm còn có cách hiểu khác nhau, vì vậy cần thu thập, xử lý các thông tin đa chiều để kịp thời báo cáo các cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh, sửa đổi phù hợp. Đồng thời, nâng cao trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện Luật Cán bộ, công chức ở các bộ, ngành, địa phương và cơ quan, tổ chức. Sau một thời gian thực hiện sẽ tiến hành đánh giá, tổng kết, từ đó kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung những nội dung chưa phù hợp với thực tiễn.

Đất nước ta đang đứng trước giai đoạn phát triển mới với nhiều vận hội và thách thức. Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đòi hỏi phải xây dựng chế độ công vụ, công chức phù hợp, khắc phục những nhược điểm và hạn chế vẫn còn tồn tại của cơ chế cũ, tiếp tục xây dựng một nền hành chính phục vụ nhân dân. Bên cạnh sự tăng lên của kinh tế thị trường và của xã hội dân sự (các tổ chức phi lợi nhuận, phi chính phủ) nhưng vai trò của khu vực công và dịch vụ công của nhà nước vẫn luôn luôn giữ một vai trò thiết yếu, quan trọng trong đời sống xã hội. Do đó, cùng sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ, nhiều thành tựu của khoa học công nghệ đang được ứng dụng vào các hoạt động kinh tế - xã hội, trong đó có khu vực nhà nước và dịch vụ công như kinh tế tri thức, tin học hóa, chính phủ điện tử... đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục cải cách chế độ công vụ, công chức, mà trước hết phải tổ chức triển khai thật tốt và thực hiện có hiệu quả Luật Cán bộ, công chức nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.

 


[1] TS.Chu Văn Thành chủ nhiệm. Báo cáo tóm tắt đề tài khoa học cấp bộ “Nghiên cứu cơ sở khoa học của xây dựng chế độ công chức công vụ ở nước ta”, Hà Nội tháng 12 năm 1998, tr.3

[2] Chuyên đề “nền công vụ, công chức”, Thông tin khoa học pháp lý, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý ấn hành, tr.17

[3] GS.Đoàn Trọng Truyến (chủ biên): Từ điển Pháp- Việt: Pháp luật Hành chính, nxb Thế giới, Hà nội, 1992,tr.135.

[4] Nghị định này đã được thay thế bằng Nghị định số 117/NĐ-CP ngày 10/10/2003; Nghị định số 09/2007/NĐ-CP ngày 15/01/2007.

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm  hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)