1. Khái quát về tư tưởng phật giáo và kinh tế họcKhông giống những tôn giáo khác và những lý thuyết hiện đại về kinh tế học, đạo Phật cho rằng kinh tế học gắn liền với đạo đức học và lý thuyết về hành vi (kamma). Mặc dù nhiều nhà kinh tế xem kinh tế học là một khoa học “tích cực” của một loại hiện tượng xã hội, nhưng dưới cái nhìn của đạo Phật, kinh tế học có quan hệ đặc biệt với đạo đức học. Lý thuyết kinh tế học của đạo Phật nhấn mạnh quan điểm về sự chủ tâm trong việc giải thích tư cách đạo đức con người. Trong bài này, tác giả cố gắng giải thích vài khái niệm quan trọng trong kinh tế học như đã được mô tả trong kinh điển đạo Phật để cho thấy rằng đạo đức học đóng một vai trò quan trọng trong kinh tế học và do đó có một tầm quan trọng lớn đối với kinh tế học và ngược lại.
2. Cơ sở kinh điển phật giáo về kinh tế họcMặc dù những mối quan tâm thực tiễn của Đức Phật không nhằm mang lại cuộc cách mang kinh tế, nhưng những giáo lý của Ngài có đề cập đến những khía cạnh đạo đức của kinh tế học. Là một tôn giáo đạo đức chủ trương sự tiến bộ đạo đức và sự phát triển tâm linh của những cá thểtrong xã hội, Phật giáo thấy rõ rằng những khía cạnh đạo đức của thái độ ứng xử của con người liên quan đến kinh tế học như một yếu tố quantrọng nhất, còn hơn cả lý thuyết kinh tế học. Mặc dù không có lời dạy trực tiếp nào về kinh tế học trong những kinh điển Phật giáo, nhưng những lời dạy của Đức Phật về bốn nhu cầu: ăn, mặc, ở và thuốc men xuất hiện khắp trong các bản kinh đạo Phật đều có liên quan đến kinh tế học. Nói cách khác, không có một lý thuyết kinh tế học bao quát trong các kinh điểnPhật giáo nhưng người ta có thể tìm thấy rãi rác đây đó trong giáo lý Đức Phật một số những quan sát chỉ dẫn và những quy định liên quan đến những khía cạnh đặc biệt của kinh tế mà đến nay vẫn còn có liên hệ đếnnhững học thuyết kinh tế học hiện đại. Những lời dạy xưa nhất của ĐứcPhật có liên quan đến kinh tế học là kinh Cakkavatthis và kinh K((adanta. Nghiên cứu tỷ mĩ về hai kinh này cho thấy một mặt đạo đức học và kinh tế học và mặt khác là sự quan trọng về mặt đạo đức xã hội của kinh tế chính trị là có quan hệ với nhau. Ngoài việc đề cập đến bốn nền tảng chánh niệm (satipa((h(na) và những nguyên tắc điều hành quốc gia bằng một chế độ quân chủ phổ quát, kinh Chuyển Luân Vương còn nhắm đến đạo đức trong sự tiến bộ vật chất của loài người. Kinh dạy chúng ta rằng sự nghèo nàn đưa đến nạn trộm cắp và phá huỷ những định chế xã hội, và điều này tới phiên nó lại đưa đến sự suy thoái đời sống cá nhân và xã hội. Nó chỉ ra rằng sự phân phối sai hàng hoá và của cải làm phá vỡ toàn bộ cấu trúc xã hội và kinh tế của quốc gia. Nó còn chothấy rằng để mang lại sự cải tiến trong phẩm chất cuộc sống, những giá trị đạo đức nên được tôn trọng và thực thi. Với quan điểm thực nghiệmkhi tiếp cận kinh tế học, kinh K((adanta phê phán nhà nước trong việc phung phí tài sản quốc gia vào những hội hè lễ lạc vô ích trong khi đất nước đang phải chịu đựng những bất lợi xã hội do nạn khủng hoảng kinh tế gây ra. Ở đây Đức Phật kể lại một nhà vua giàu có trong kiếp trước muốn làm tế lễ, cầu mong mang lại hạnh phúc cho mình trong tương lai cũng như cho xứ sở, phù hợp với những hành trì của bà-la-môn giáo. Nhà vua hỏi người cố vấn của mình, lúc đó là Đức Phật trong một kiếp quá khứ, làm cách nào để thực hiện điều đó một cách có hiệu quả. Người cố vấn chỉ ra rằng vương quốc đang bị tàn phá do nạn trộm cắp, cướp giật, buôn lậu. Tình huống sẽ trở nên tồi tệ hơn nếu thực thi những việc hành hình, trừng phạt hay những biện pháp đàn áp, vì những kẻ sống sót sẽ tiếp tục gây rắc rối. Theo kinh này mô tả, bổn phận đạo đức của nhà vua hay chính phủ là đề ra những chương trình xoá đói giảm nghèo: nên phát ngũ cốc và giống cho những người làm nông và chăn nuôi gia súc, nên phân phát vốn liếng cho những người buôn, và phát tiền lương thích đáng cho những người làm việc chính phủ. Về mặt quản lý kinh tế, một đất nước lý tưởng cóthể được định nghĩa là một quốc gia trong đó sự nghèo nàn được xoá bỏ, sự rối loạn trật tự xã hội được vãng hồi rõ ràng, trong khi hoà bìnhvà tiến bộ đạo đức chiếm ưu thế. Trong những kinh này, đức Phật gián tiếp đề cập đến công ăn việc làm, sản xuất phân phối, tiêu thụ và phát triển kinh tế cá nhân hay quốc gia để nuôi dưỡng hạnh phúc vật chấtcủa con người. Những kinh này thường được một số lớn Phật tử ở thế kỷhai mươi đọc tụng, xem như những xuất xứ quan trọng của lời Phật dạy về kinh tế học, hoặc đạo đức kinh tế cho cả người quản lý lẫn người cộng sự. Những nguồn gốc rãi rác khác của giáo lý Đạo Phật về kinh tế học rất nhiều và sẽ được đưa ra khi nó có liên hệ đến bài thảo luận.
3. Phương thức tạo ra của cảiLà một tôn giáo trung đạo, đạo Phật không xem của cải là điều xấu, cũng không xem nó là cứu cánh trong tự thân của nó. Tuỳ thuộc vào phương cách nó được tạo ra và mục đích con người sử dụng nó, của cải sẽ được khuyến khích hay bị lên án. Đối với người Phật tử, vấn đề không phải ở chỗ người ta nên có bao nhiêu của cải, mà là cách thức họ sở hữu và sử dụng của cải thế nào. Nếu của cải được tạo ra bằng những con đường phi pháp và phi đạo đức và được sử dụng cho những hoạt động chống lại xã hội, hoặc ngay cả cho nhu cầu xa xí, đạo Phật xem của cải như thế là điều xấu ác. Nếu của cải được làm ra do nỗ lực chân chánh, dùng để mang lại an lạc và hạnh phúc cho chính mình, cho gia đình mình và vì lợi ích cho xã hội, nó được coi là một phương tiện quan trọng để tạo một cuộc sống tốt đẹp và một cuộc sống đạo đức có thể được. Trong Kinh, đức Phật nói như sau: Sự phát triển trong điền sản, trong của cải và ngũ cốc, nơi người bạn đời và con cái, nơi người làm công và nơi súc vật gồm trong mười sự pháttriển mà một vị thánh đệ tử trưởng thành trong bậc thánh, cố gắng làm để hoàn thiện mình. Nói cách khác, đạo Phật khuyến khích một đời sống chánh đáng để thiết lập một xã hội tốt đẹp. Đoạn kinh sau đây mô tả tinh thần tương tự: Vì chính mình và vì mọi người, ta khônglàm điều xấu ác, cũng không muốn vì những con trai con gái mình, hay vì của cải, vì vương quốc mà làm điều xấu ác, cũng không muốn thành công bằng những phương tiện bất thiện. Người như vậy là đạo đức, khôn ngoan và đúng đắn. Chính từ việc này mà đạo Phật cho rằngmắc nợ là khổvà không mắc nợ là nguồn gốc của hạnh phúc. Như đức Phật đã dạy rằng tâm dẫn đầu các nghiệp báo của con người,cho nên nói rằng đời sống tiện nghi hay của cải vật chất tự thân nó làmột điều xấu ác là sai lầm. Mặt khác, đạo Phật tán thán của cải đượclàm ra bằng những con đường chân chánh. Đạo Phật đề cao sự sử dụng củacải chân chánh cho sự an lạc và hạnh phúc của chính con người, chohạnh phúc của cha mẹ, những thành viên trong gia đình, họ hàng, bè bạn, người quen và cho tỳ-kheo, tỳ-kheo ni. Người làm điều thiện (kusala kamma) sẽ được giàu có trong đời này vàđời sau là một trong những điều giáo huấn tốt đẹp mà Phật tử nào cũng biết đến. Tất cả những điều này nói lên rằng đạo Phật không phải là một tôn giáobảo con người đừng có của cải, mà là một tôn giáo chấp nhận của cải làmột điều đáng được tầm cầu vì nó có thể giúp ích cho một đời sống tốt đẹp. Trong số đệ tử cư sĩ của đức Phật, Cấp Cô Độc, là một thương gia giàu có, nổi tiếng là một người đại thí chủ của đức Phật và tăng đoàn, thường được tán thán là một người làm lợi ích nhiều nhất và được gọi là trưởng lão thí chủ. Tuy nhiên, đạo Phật không tán thành sự lạm dụng của cải để xa xí, vì đó là một nguyên nhân làm mất mát của cải cũng như đưa đến tình trạng buông lung trong lạc thú. Kinh điển Phật giáo lên án cả hai thái độ bủn xỉn và phung phí đối với của cải và xem những kẻ hà tiện là nô lệ, trong khi coi những kẻ lãng phí của cải là kẻ tự huỷ hoại mình. Hai loại người này bị coi như khó làm hài lòng và khó mang đến an lạc cho người khác. Hơn thế nữa, ngay cả của cải sanh ra bằng phương cách đạo đức và hợp pháp, kinh điển Phật giáo cũng cảnh cáo những kẻ trở thành nô lệ cho của cải. Chấp thủ vào củacải vật chất sẽ là gánh nặng: Của cải sẽ làm hỏng kẻ ngu nhưng không thể làm hỏng người tìm kiếm bờ bên kia (niết-bàn). Vì tham lam của cải kẻ ngu làm hỏng chính mình và làm hỏng những kẻ khác. Thái độ của người theo Phật có thể đượcnhìn thấy rõ ràng qua việc chấp nhận con đường trung đạo vượt lên trênhai cực đoan của (a) sự phóng dật trong chủ nghĩa vật chất nhằm thoả mãn khoái lạc giác quan, và (b) sự nghèo khó, thiếu thốn mọi phương tiện cần thiết để có đời sống đạo đức tốt đẹp. Cực đoan đầu sẽ đưa đếnnợ nần và đau khổ. Kinh Pháp Cú dạy rằng “đói là căn bệnh lớn nhất.” Vì nghèo khó được coi là nguyên nhân khuyến khích người ta nói dối, lường gạt, sanh ra trộm cắp và phi đạo đức, làm phát sanh sự bất ổn và rối loạn xã hội. Hơn thế nữa,trong một tình trạng nghèo khó, người ta rất khó sống một cuộc đời đạo đức và tâm linh, chưa cần nói đến sống một đời vì xã hội. Mặt khác, đức Phật xem của cải vật chất là một phương tiện hỗ trợ một đời sống đạo đức và tiến bộ trí tuệ, chứ tự thân nó không phải là cứu cánh. Để có sống một đời đạo đức và tiến bộ tâm linh, cần có nhiều điều kiện. Đó là (1) con người phải khoẻ mạnh, (2) không thiếu thốn lương thực,(3) sống trong môi trường thân thiện, và (4) tập thể hoà hợp. Một cống hiến quan trọng khác về vấn đề của cải được tìm thấy trong kinh điển đạo Phật là khuyên người ta không nên tiếc nuối khi của cải bị huỷ hoại hay bị mất cắp. Trong trường hợp tăng thêm của cải, người ta nên điềm tỉnh. Thái độ đầu tiên giúp chúng ta thoát khỏi đau khổ vì sự đổi thay trong khi thái độ sau giúp người ta tránh khỏi sự thoả mãn cảm giác.Thái độ quân bình như vậy sẽ giúp cho chúng ta thoát khỏi hai cặp pháp thế gian (lokadhamma), đó là sự được mất, và hạnh phúc (sukha) đau khổ (dukkha). Khuynh hướng chung là con người cảm thấy hạnh phúc, vui sướng và bám víu vào điều đạt được, và đau khổ khó chịu và thờ ơ đối với điều mất mát.
4. Thái độ của đạo Phật với tiêu dùngĐặt trên nền tảng thực nghiệm, đạo Phật đưa ra sự thật rằng tất cả chúng sanh sống còn nhờ vào thực phẩm. Vì sống nhờ vào thực phẩm nên con người phải dùng đến những phương tiện và đường lối khác nhau, như thiện hay bất thiện, để đối phó với nhu cầu căn bản này. Ngược lại với những kinh tế gia hiện đại định nghĩa sự tiêu thụ là sử dụng hàng hoá và sản phẩm để thoả mãn cảm giáchay để làm hài lòng bản ngã, mà đúng ra là để duy trì sự khoẻ mạnh của cơ thể, sứ khoẻ tốt để theo đuổi và đạt được cuộc sống đạo đức. Nói cách khác, sự tiêu dùng không phải để có phẩm chất tốt cho cuộc sống mà là để có phẩm chất tốt cho cuộc sống đạo đức. Khi sự tiêu thụ duy trì sự an lạc và hạnh phúc của đời sống đạo đức, nó được xem là quan trọng cho đời sống con người. Nếu việc ăn uống chỉ để nếm mùi vị ngon, để thoả manc cảm giác thì sự tiêu dùng trở thành một chướng ngại đối với việc phát triển con người. Một thái độ tiêu dùng như thế sớm muộn gì cũng sẽ đưa đến sự bất mãn. Theo Hoà thượng Payutto, sự tiêu dùng được coi là “một phương tiện cho một cứu cánh, đó là sự phát triển tiềm năng của con người”hoặc là “sự an lạc nơi cá nhân, xã hội và môi trường sinh sống” Phân biệt kinh tế học Phật giáo với kinh tế học của các kinh tế gia hiện đại, Schumacher đã chỉ ra một cách đúng đắn rằng: Kinh tế học Phật giáo hẳn rất khác so với kinh tế học của chủ nghĩa duy vật hiện đại, bởi vì người theo Phật nhìn thực chất của nền văn minh không phải trong phép tính nhân của những nhu cầu con người mà là trong sự tịnh hoá tính cách con người. Lý do căn bản cho sự khác biệt đó là“kinh tế học Phật giáo là một môn học có hệ thống về việc làm cách nào để đạt những mục tiêu đã có với những phương tiện tối thiểu.” Trong khi kinh tế học hiện đại nhấn mạnh vào sự tiêu dùng tối đa. Ở nơi khác ông nói rõ về luận điểm này như sau: “một nhà kinh tế học Phật giáo sẽ xem phương pháp này là quá bất hợp lý bởi vì sự tiêu dùng chỉ là một phương tiện đối với hạnh phúc con người, mục tiêu là phải đạt được hạnh phúc tối đa bằng sự tiêu dùng tối thiểu.” Mặt khác, Hoà thượng Payutto còn phân biệt giữa sự “tiêu dùng chánh đáng” và “sự tiêu sai pháp”, ngài cho rằng sự tiêu dùng chánh đáng là “làm thoả mãn cái ước muốn hạnh phúc thật sự” trong khi “ tiêu dùng sai pháp là để thoả mãn ước muốn đối với những cảm giác vui sướng hoặc sự thoả mãn bản ngã.” Ngài thấy rõ rằng kinh tế học hiện đại đặt căn bản trên sự giả định vềmục tiêu của con người là tìm kiếm hạnh phúc qua sự thoả mãn lòng tham. Điều đó có nghĩa là mục tiêu luôn luôn ở phía chân trời bởi vì lòng tham không bao giờ được thoã mãn. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là đạo Phật chống lại sự tiêu dùng, là cái đáp ứng được sự thoã mãn và đòi hỏi. Đạo Phật cho rằng chỉ cósự tiêu dùng thích đáng mới làm tăng trưởng hạnh phúc thật sự củangười tiêu dùng. Điều mà đạo Phật không tán thành là sự tiêu dùng phát sinh từ lòng tham lam, vì nó dẫn đến những hậu quả tai hại và kéo theo sự mất mát hạnh phúc thật sự. Thú vị hơn nữa khi Schumacher nhận xét rằng trong khi kinh tế học hiện đại “cố gắng tối đa hoá sự tiêu dùng bằng mô hình tốt nhất của sự tiêu dùng,” kinh tế học Phật giáo không nhấn mạnh trên những khía cạnh vật chất đơn thuần của đời sống và sự sở hữu của cải, mà là đặt nặng sự phát triển nội tâm của cá nhân, xem đó là một yếu tố quan trọng trong việc phát triển xã hội, do đó không có cơ hội để gia tăng tội phạm và sự bạo hành, rối loạn xã hội sanh ra từ sự suy thoái kinh tế. Đến đây thật là thú vị khi nói đến sựtiêu dùng trong chế độ quân chủ. Theo truuyền thống, cuộc sống lýtưởng của một tỳ-kheo hay một tỳ-kheo-ni là cuộc sống của một người có những sở hữu tối thiểu được hỗ trợ do sự cúng dường của cư sĩ hơn là do bất cứ nghề nghiệp nào có được. Lối sống của họ rất đơn sơ nhưng mẫu mực đạo hạnh. Tài sản cá nhân của một tu sĩ gồm mười nhu yếu, đó là ba y, một bình bát, một dây đai, một dao cạo, một cây kim, một đảy lọc nước, một tích trượng và một tăm xỉa răng. Người tu được huấn luyện để hài lòng vớinhững sở hữu ít ỏi đó để không bị những giới hạn và những bám víu của đời sống cư sĩ, chuẩn bị cho cơ hội lớn lao để tu tập đạo đức và tiếnbộ tâm linh. Sự đơn sơ trong tu viện của một tu sĩ được xem như đôi cánh của con chim cần thiết cho việc bay xa: Vị tỳ-kheo bằng lòng với thức ăn vừa đủ để bảo vệ thân thể, và khất thực vừa đủ thức ăn cho nhu cầu của bao tử. Nơi nào vị tỳ-kheo có thể đi đến đều mang theo những thứ này bên mình, giống như một con chim bay xa, nơi nào nó có thể bay trên đôi cánh củanó thì nó chỉ bay với gánh nặng trên đôi cánh. Vì phụ thuộc vào người cư sĩ cung cấp cho vật chất, đời sống của tỳ-kheo luôn luôn đơn sơ như sự mô tả của thuật ngữ này. Sống với những nhu cầu ít ỏi và bằng lòng với sự không sở hữu hay những sở hữutối thiểu sẽ giúp cho vị tỳ-kheo tránh khỏi những sự chăm nom và llắng. Với tinh thần của người sống độc thân và xả ly, các tỳ-kheo cóthể dồn hết thời giờ và năng lực cho sự phát triển đạo đức và tâm linh vì sự lợi ích cho xã hội. Tỳ-kheo bằng lòng với bất cứ thứ cần dùngnào miễn đó là y áo, thức ăn khất thực được, chỗ ở và thuốc men mà họ có được. Hơn thế nữa, vị ấy luôn luôn nỗ lực để diệt trừ những tính chất xấu ác, đạt sự tiến bộ kiên trì và mạnh mẽ trong việc thiện và không bao giờ rời bỏ những bổn phận của mình. Đời sống của một tỳ-kheo cũng được xem như lời bình phẩm về những giới hạn của đời sống xa hoa có thể chịuảnh hưởng bởi sự buồn nãn và sa sút, phải băn khoăn lo lắng về việcmất mát của cải, và sự tranh cãi hay tranh chấp phát sinh từ tài sản.
5. Sự điều độ và hạnh phúcNgược lại với kinh tế hiện đại nghĩ rằng hoạt động kinh tế là để thoả mãn tối đa những ham muốn, kinh tế học Phật giáo hướng về sự an lạc và hạnh phúc của cá nhân vàxã hội qua sự điều độ. Tri thức và lối sống điều độ trongsự tiêu dùng và sử dụng những tài sản cá nhân là một cách tốt nhất để giữ gìn của cải chân chánh: Một người nam hay người nữ có đạo đức tìm kiếm điều đã đánh mất, sữa chữa lại điều đã hư hao, ăn uống điều đôïvà rời bỏ quyền hành. Như vậy lối sống điều độ trở thành một trong những yếu tố quan trọng trong kinh tế học Phật giáo. Theo đạo Phật, việc tu tập sự điều độ có thể làm cho con người thoát khỏi những ham muốn vô tận và bất thiện và sẽ đưa đến việc kiểm soát sự rắc rối do sản xuất quá mức và tiêu dùng quá độ. Có bốn loại điều độ để tu tập theo bốn nhu yếu ăn, mặc, ở và thuốc men. Về sự điều độ trong ăn uống, nhà Phật quan niệm rằng thức ăn được xem là để dùng vào mục đích bảo hộ thân thể, đáp ứng những năng lượng cung cầu về thể chất và tinh thần để đạt đến đời sống cao hơn. Rõ ràng là không phải để thoả mãn sự ham muốn, cũng không phải vì để làm đẹp: Với sự phản tỉnh khôn ngoan, chúng takhất thực thức ăn không phải để vui chơi, cũng không phải vì sự quyến rũ của mùi vị, không phải vì sự hấp dẫn, mà chỉ là để chịu đựng và tiếp tục kiếp sống này, để chấm dứt sự lo lắng và để hỗ trợ đời sống phạm hạnh. Nhờ sự tiêu dùng thức ăn này, chúng ta khắc phục được những cảm giác đau đớn trước đó vì đói, và để đề phòng cảm giác lo lắng có thể phát sinh. Như thế chúng ta sống đời không chướng ngại, không đángtrách và sống trong sự thoải mái. Về sự điều độ trong y phục, chúng ta được khuyên rằng áo quần được dùng cho mục đích bảo vệ thân thể, tránh thời tiết khắc nghiệt, để giữ thân thể khoẻ mạnh và che đậy những phần riêng tư. Nó không được dùngcho mục đích trang sức. Kinh dạy rằng: Phản tỉnh khôn ngoan, chúng ta sử dụng yáo để bảo vệ thân khỏi lạnh, nóng, khỏi tiếp xúc với những con mòng, con muỗi, gió, ánh mặt trời và loài côn trùng, và chỉ có mục đích che dấu phần thân thể riêng tư. Về vấn đề điều độ chỗ ở, kinh điển Phật dạy rằng việc sử dụng chỗ ở để phòng những hiểm hoạ về khí hậu và để hưởng sự ẩn dật, trong khi dùng những nhu yếu thuốc men là để bảo vệ khỏi những cảm giác đau đớn. Vào những ngày trai giới, người cư sĩ Phật tử cũng tu tập đời sống xuất gia gồm có việc ăn một lần vào buổi trưa, để dồn thời gian cho việc thiền định và tu tập lờiPhật dạy. Ở đây nên lưu ý rằng sự tu tập bốn sự điều độ trên đây mở ra cho tất cả những ai nỗ lực vì an lạc và hạnh phúc của chính họ. Theo tinh thần của sự điều độ, người ta cho rằng những giáo huấn của Đức Phật về kinh tế học có thể được lập thành công thức như sau: “hưởng hạnh phú tối đa với tài sản tối thiểu.” Nó cho thấy sự tiêu dùng thíchđáng và khôn ngoan có quan hệ lớn đến phẩm chất đời sống kể cả sự tốt đẹp và đạo đức của cá nhân và xã hội.
6. Sự nghèo khổ và rối loạn xã hộiCó hai giả thuyết chính về nguồn gốc tăng gia rối loạn xã hội (dhana) theo kinh Phật đã nói, đó là lý thuyết rối loạn xã hội do tư hữu và lý thuyết rối loạn xã hội do nghèo khổ (daliddiya). Với lý thuyết thứ nhất, kinh Khởi Thế Nhân Bổn cho rằng sự suy đồi của con người xuất hiện vào giai đoạn có sự nghèo khổ của người dân cùng với hậu quả của sự làm biếng, tham lam tiêu dùng không hợp pháp, và chủ nghĩa cá nhân (atta) bắt đầu có mặt.Vì thiếu nỗ lực chân chính để kiếm sống, sanh ra do sự tham lam thủđắc nhiều tài sản hơn, con người sanh ra trộm cắp, lừa gạt, bạo hànhvà điều này mang lại sự bất ổn và rối loạn xã hội. Để mang đến công bằng, an ninh và hạnh phúc xã hội, người dân chọn ra một người xứng đáng nhất, về thể chất, đạo đức và trí tuệ để làm vua. Vị vua này cai trị dân đúng theo chánh pháp. Mặt khác, kinh Cakkavatthis(han(da Sutta xem sự nghèo khổ là điều kiện chính phát sinh ra những tội ác và rốiloạn xã hội. Như vậy theo hai thuyết này, sự nghèo khổ và tham lam củacải bằng những phương tiện bất hợp pháp hay không chánh đáng góp phần làm cho xã hội xấu ác và làm suy sụp đất nước. Đặt vấn đề một cáchkhác, sự ổn định kinh tế và đạo đức cá nhân là rất cần thiết để manglại một xã hội tốt đẹp và lành mạnh. Trong “Bài pháp về nợ nần,” đức Phật không khuyến khích sự nghèo khổ: “sự nghèo khổ của người dân là sự đau khổ trong thế giới này” bởi vì người ghèo ít có cơ hội so với người khác về mặt quan hệ xã hội, và họ có thể sống trong cảnh cực khổ, khó khăn và nợ nần. Cũng trong bài pháp này, đức Phật khẳng định rằng “đau khổ thay! sự nghèo nàn vànợ nần.” Theo lý duyên sinh, học thuyết cho rằng mọi điều trên thế gian này đều có nguyên nhân và điều kiện của nó, thì tội phạm như trộm cắp gây ra do ý định xấu và có sự nghèo khó (daliddiya) làm trợ duyên. Nói cách khác, với khuynh hướng bất thiện những kẻ không có nhucầu căn bản của cuộc sống sinh ra trộm cắp. Như kinh Cakkavatthis(han(da chỉ ra rằng, khi sự nghèo khó trở nên đầy dãy trong xã hội do sự phân phối sai hàng hoá, của cải và tài nguyên, rõ ràng nó làm hư hoại cấu trúc xã hội, phá huỷ đạo đức của xã hội, làm gia tăng tội phạm và bạo hành, và cuối cùng đưa đất nước đến một cuộc chiến tranh trên quy mô lớn giữa người có của và người không có. Kinh ghi rằng: Như vậy, do việc không cấp tài sản chongười thiếu thốn, sự nghèo khó tăng nhiều. Từ sự gia tăng nghèo khó này sẽ làm gia tăng việc trộm cắp. Từ trộm cắp gia tăng việc dùng khí giới. Từ sự gia tăng sử dụng khí giới, sự cướp đoạt sinh mạng người khác gia tăng. Từ sự gia tăng sát hại đó tuổi thọ con người giảm xuống.Sắc đẹp giảm xuống, con cái của những người có tuổi thọ tám mươi ngànnăm chỉ còn sống đến bốn mươi ngàn năm… Như vậy do việc hàng hoá khôngđược ban ra… sự nói dối… nói điều ác… sự vô đạo đức … nói lời nhục mạ… câu chuyện vu vơ… sự tham lam phóng đảng, và tính dâm đảng đồi truỵ…cho đến cuối cùng là thiếu tình thương con cái và sự mộ đạo, và thiếu sự thăm hỏi đối với người trưởng tộc gia tăng… trong số những con người như thế xuất hiện mười bài học đạo đức trong việc xử thế sẽ cùng biến mất, tiếp đó mười bài học về hoạt động phi đạo đức sẽ vô cùng phát triển, sẽ không có một lời đạo đức nào giữa con người như thế và càng ít những con người đạo đức hơn nữa. Giữa những người như thế, kẻnào thiếu tình cảm con cái và sự mộ đạo, và không có chút tôn trọng đối với người trưởng tộc – đó là những người đáng để tôn trọng và tán thán - thế giới sẽ rơi vào chỗ rối loạn… Giữa những con người như thế sự oán cừu sâu sắc lẫn nhau là lẽ thường, sân hận dữ dội, những tư tưởng phiền não sẽ xuất hiện, thậm chí như con muốn giết mẹ, mẹ muốn giết con, con muốn giết cha, cha muốn giết con. Giữa những người nhưvậy sẽ sinh ra một giai đoạn đấu kiếm bảy ngày, trong suốt thời gianđó họ nhìn nhau như nhìn những con dã thú, kiếm bén sẽ xuất hiện nơi tay, và ý nghĩ “đây là một dã thú, đây là một dã thú” sẽ tước đi mạng sống của nhau bằng thanh kiếm của họ. Theo nhận xét trên của đức Phật, sự nghèo khó là nguyên nhân đầu tiên mang đến suy đồi đạo đức dẫn đến sự rối loạn trật tự và tội phạm xã hội. Giai cấp lãnh đạo có trách nhiệm về sự gia tăng nghèo khó, nó làmầm móng của tội phạm và rối loạn xã hội. Điều này cho thấy sự bấtbình đẳng về kinh tế giữa các cá nhân có ảnh hưởng đến sự rối loạn vàxung đột xã hội, như nói dối, nói lời độc ác, nói lời nhục mạ, thamlam và sân hận, hay nói chung là sự suy đồi xã hội. Nó cũng minh hoạ cho cách nó tàn phá những giá trị và tín ngưỡng truyền thống lâu đời, cách nó nhen nhóm lòng ganh tỵ, ghen tuông, sân hận và bạo hành, và cách nó làm cho con người sát hại lẫn nhau. Kinh nhấn mạnh rằng toàn bộ bức tranh nghèo khó, nói dối, trộm cắp, ghen tuông, sân hận và bạohành trong bất kỳ xã hội nào cũng đều do sự lơ là của nhà lãnh đạotrong việc cung cấp sự hỗ trợ kinh tế vững chải cho người nghèo. Sự vững vàng kinh tế là yếu tố đầu tiên chịu trách nhiệm cho sự vững mạnh của đất nước. Điểm quan trọng ở đây là an ninh chính trị trở thành hàng thứ yếu đứng sau sự vững ổn kinh tế quốc gia. Kinh K((adanta nhấn mạnh trách nhiệm của nhà lãnh đạo đối với sự gia tăng nghèo nàn và rối loạn trậttự xã hội. Kinh đề nghị rằng thay vì tổ chức các tế lễ lãng phí đểcủng cố sự an nguy của nhà vua và đất nước theo phong tục tập quán mê tín của đạo bà-la-môn trước thời đức Phật, nhà vua nên cung cấp sự hỗ trợ kinh tế thích đáng lẫn an ninh đầy đủ cho sự an lạc và hạnh phúccủa quần chúng. Kinh cho thấy, sự nghèo khó phát sanh đầu tiên do sựthất nghiệp đưa đến biến động xã hội và tội phạm. Trong tình huống này,toàn bộ đất nước bị bọn thổ phỉ quấy rối và cướp phá. Việc đi lại trênđường trở nên không an toàn cho tài sản và an ninh cá nhân. Vì sợ hãido sự mất an ninh đó người dân sống trong lo âu. Kinh mô tả rằng khi nhà lãnh đạo không cung cấp chương trình phát triển kinh tế có định hướng kết quả tốt đẹp, hoặc không quan tâm đến kế hoạch công ăn việclàm dẫn đến sự an lạc cho người dân, thì sự rối loạn và xung đột xãhội sẽ xuất hiện. Trong tình huống thuộc loại này, việc đặt ra hìnhphạt thường được nhà lãnh đạo chấp nhận không còn là biện pháp chữatrị hữu hiệu để ngăn ngừa tội phạm phát sinh hoặc làm ngừng lại sự bấtổn xã hội. Kinh nói rằng: Tôi sẽ nhanh chóng làm dừng lại cơn dịch cướp bốc này bằng sự hành hình và bỏ tù hay bằng sự tịch thu, đe doạ và trục xuất. Nhưng làm như vậy vốn không phải là giảipháp hữu hiệu và thành công. Khi kẻ trộm cắp do nghèo khổ nghe ngóngbiết được chính sách mới của nhà vua đối với kẻ trộm cắp, họ liền tự trang bị vũ khí bằng những lưỡi kiếm và bắt đầu cướp phá làng mạc và thị trấn, cướp bóc của cải. Bạo lực bắt đầu tràn lan và điều này đến phiên nó đưa dân chúng đến những xấu ác về xã hội và đạo đức. Điểm đáng lưu ý kinh đưa ralà để diệt trừ tội phạm và những hành động chống phá xã hội của những người bị áp lực của cái nghèo và để mang hạnh phúc lại cho người dâncùng phát triển đất nước, nhà lãnh đạo nên cung cấp những cơ hội kinh tế cho người nghèo: Bây giờ có một phương pháp được chấp nhậnđể làm ngưng sự rối loạn này. Đối với những người trong vương quốc tham gia việc canh tác mùa màng và chăn nuôi gia súc, hãy để nhà vua phân phối ngũ cốc và cỏ khô. Đối với những người phục vụ cho chính phủ, nên quy định tiền lương và lương thực để sống cho phù hợp. Khi những người này theo mỗi công việc của họ, sẽ không còn làm hại vương quốc, thu nhập hàng năm của nhà vua sẽ rất lớn, đất nước sẽ yên ổn và hoà bình; dân chúng hài lòng nhau và hạnh phúc để cho trẻ con của họ nhảy nhót trong tay, sẽ sống trong nhà mà không cần đóng cửa. Kế hoạch đúng đắn có thể dập tắt những hoạt động phi pháp và mang lại một giải pháp hoà bình, an ninh cho người dân trong đất nước, có thể được diễn tả như sau: (i) Nông dân và người làm nghề nông nghiệp nên được cấp cho những phương tiện thiết yếu như hạt giống, phân bón, trâu bò và những dụng cụ cần thiết cho nghề nông. Như vậy sản phẩm sẽ được sản xuất nhiều hơn với chấtlượng cao hơn. (ii) Nhà buôn và doanh nhânnên được cung cấp vốn liếng chủ yếu để họ có thể đầu tư hợp pháp với hiệu suất kinh tế cao hơn. (iii) Nhân viên nhà nướ chay những người phục vụ trong chánh phủ nên được trả lương thích đáng để nhổ tận gốc rễ của việc lạm dụng chức quyền và tham nhũng. (iv) Những người khó khăn tài chánh nên được miễn thuế để họ có thể nhân cơ hội này mà tăng tiến công việc của họ. Như kinh đã nói rõ, chỉ cần có kế hoạch khôn ngoan và thích đáng về những cơ hội kinh tế, kết hợp với sự giúp đỡ có kế hoạch tốt của nhà nước và những nỗ lực cá nhân, nhà lãnh đạo có thể hoàn thành được bổn phận của mình để làm giảm bơt sự nghèo khổ, mang lại hoà bình và an lạc cho người dân, mà không phát sinh ra những loại tội ác xã hội nào hay hình phạt như Ariyasena đã chỉ ra một cách đúng đắn: Kế hoạch kinh tế được đề xuất trong kinh K((adanta-suttanta nhấn mạnh vào sự cần thiết kết hợp sáng kiến cá nhân và sự khích lệ cùng với sự giám sát của nhà nước về sự an lạc thật sự của người dân, bảo đảm tự do cá nhân và công bằng xã hội. Điều được chỉ ra ở đây là nhà nước nên cấp phát tư bản cần thiết cho mụcđích này, nhưng không nên dùng như sự trợ cấp thất nghiệp cho việc tiêu dùng hàng ngày. Kinh dạy chúng ta rằng bất cứ hành vi nào không có lòng từ thiện sẽ không phải là biện pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề nghèo đói. Thay vào đó, nó có thể mang đến sự gia tăng bất ổn và tội phạm xã hội. Điều này được mô tả rõ trong kinh Cakkavattis(han(da. Khi nhà vua quan sát biết người dân vì bị áp lựccủa cái nghèo nên sanh ra trộm cắp và tội phạm, Ông nên ban phát cho họ tiền bạc, hàng hoá và dạy họ kiếm sống bằng cách kinh doanh chân chính, để họ có thể tự giúp và giúp gia đình cũng như tham gia vào những hoạt động phúc lợi xã hội. Ngược lại với lòng tin tốt đẹp của nhà vua, hành động từ bi của ngài không mang lại kết quả như mong đợi. Hơn nữa, khi những người khôn khéo và biếng nhác nghe được điều này, họ bắt đầu dấn thân vào những hoạt động như thế để dễ dàng có tiền. Nạn trộm cắp chỉ có gia tăng và tình huống không còn kiểm soát được. Điều này cho thấy rằng hành vi từ bi hay lòng từ thiện không có trí tuệ được chứng tỏ là mang đến những kết quả tai hại thay vì giải quyết được những rắc rối. Một điểm quan trọng khác cần lưu ý là sự phân phối đồng đều tự bản thân nó không giải quyết được những vấn đề xã hội và kinh tế. Một lời khuyên khôn ngoan được dâng lên nhà vua rằng những người tham gia công việc thương mại nên được hỗ trợ tài chánh (p(bhata). Giao công việc cho người dân nên được thực hiện theo một kế hoạch thích đáng có liên quan đến cấu trúc kinh tế quốc gia. Ban phát việc làm nên thích hợp với khuynh hướng, khả năng và tài khéo léo của người thợ. Chỉ như thế sự giúp đỡ và ban phát của nhà nước mới có kết quả và góp phần làm tiến bộ kinh tế cá nhân và quốc gia. Nói tóm lại, để chấm dứt một cách chắc chắn sự bạo hành và tội phạm, xây dựng một xã hội hạnh phúc và hoà bình, kinh dạy rằng hình phạt nên được thay thế bằng cách bảo đảm công ăn việc làm sinh lợi cho người nghèo. Bài viết tham khảo: Kinh tế từ cái nhìn Phật giáo; Thích Nhật Từ (daophatngaynay); Bài viết tham gia hội thảo quốc tế "Phật giáo trong thời đại mới: Cơ hội và thách thức" |
Tìm hiểu quan niệm của Đạo Phật về kinh tế học
Không giống những tôn giáo khác và những lý thuyết hiện đại về kinh tế học, đạo Phật cho rằng kinh tế học gắn liền với đạo đức học và lý thuyết về hành vi (kamma). Mặc dù nhiều nhà kinh tế xem kinh tế học là một khoa học “tích cực” của một loại hiện tượng xã hội
Mục lục bài viết
Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?
Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?
Cảm ơn bạn đã nhận xét!
Like fanpage Luật Minh Khuê để nhận tin mới mỗi ngày
Liên hệ để được hỗ trợ tốt nhất