Xin chào công ty luật Minh Khuê. Tôi có một thắc mắc về pháp luật mong nhận được giải đáp. Xin quý công ty cho biết quy định pháp luật về hình thức cho vay cầm đồ và họ hụi biêu phường theo quy định pháp luật hiện hành ạ? Rất mong nhận được giải đáp. Xin chân thành cảm ơn! (Nguyễn Huy - Hà Tĩnh)

Chào bạn, cạm ơn bạn đã tin tưởng gửi thắc mắc tới công ty luật Minh Khuê. Nội dung bạn hỏi chúng tôi nghiên cứu và giải đáp như sau:

Cơ sở pháp lý

- Bộ luật dân sự năm 2015

- Luật đầu tư năm 2020

- Nghị định số 19/2019/NĐ-CP

1. Quy định pháp luật về cho vay cầm đồ

1.1. Cho vay cầm đồ là gì?

Dịch vụ cầm đồ là một hoạt động cho vay thuộc 227 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện theo quy định của Luật Đầu tư năm 2020 (khoản 2 Điều 7 Phụ lục số IV ban hành kèm theo Luật đầu tư năm 2020). Dịch vụ cầm đồ được định nghĩa là “dịch vụ cho vay tiền mà người vay tiền phải có tài sản hợp pháp mang đến cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ để cầm cố”. Khoản 4 Điều 3 về “Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự và phạm vi quản lý”, Nghị định số96/2016/NĐ-CP

1.2. Lược sử về cho vay cầm đồ

Dịch vụ cầm đồ đã được đề cập rất sớm trong hệ thống pháp luật Việt Nam sau năm 1945, tại Luật Thuế trực thu năm 1949.

Năm 1993, pháp luật quy định Ngân hàng Nhà nước là cơ quan quản lý về hoạt động cầm đồ vàng.

Vào những năm 1994 - 1999, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Quyết định, rồi cùng với Bộ Thương mại ban hành Thông tư liên tịch quản lý dịch vụ cầm đồ, sau đó là Thông tư quản lý của Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương).

Vào năm 1995 và 2005, hai Bộ luật Dân sự đã từng quy định, việc cầm cố tài sản tại cửa hàng cầm đồ thực hiện theo các quy định về cầm cố tài sản.

Năm 1997, Luật Các tổ chức tín dụng quy định: “tổ chức tín dụng được cung ứng dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật”.

Năm 2006, Ngân hàng Nhà nước đã sửa từ “cầm đồ” thành “cầm cố” tại tên và nội dung hạch toán của Tài khoản 994 - Tài sản thế chấp, cầm đồ của khách hàng. Có thể nói, các tổ chức tín dụng đã chấm dứt dịch vụ cầm đồ kể từ thời điểm này, mặc dù quy định về dịch vụ cầm đồ của tổ chức tín dụng nêu trên đến năm 2011 mối hết hiệu lực.

1.3. Nội dung quy định pháp luật về cho vay cầm đồ

Pháp luật hiện hành quy định “kinh doanh dịch vụ cầm đồ, gồm: kinh doanh dịch vụ cho vay tiền mà người vay tiền phải có tài sản hợp pháp mang đến cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ để cầm cố’’. Và cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ phải có trách nhiệm “lập hợp đồng cầm cố tài sản theo quy định của pháp luật”.

Như vậy, cho vay cầm đồ là hoạt động cho vay hoàn toàn dựa trên cơ sở cầm cố tài sản, tức là bên vay phải có động sản và phải giao cho bên cho vay. Bản chất của dịch vụ cầm đồ là cho vay hoàn toàn dựa vào trị giá tài sản cầm cố. Nếu như bên vay không trả được nợ, thì bên cho vay được quyền xử lý tài sản để thu hồi nỢ, mà không dựa vào uy tín, vào tài sản cũng như từ các nguồn thu nợ khác.

Dịch vụ cầm đồ hoạt động dưới các hình thức doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và hộ kinh doanh sau khi được cơ quan Công an cấp huyện, quận cấp “Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự và quản lý các cơ sở kinh doanh” về “kinh doanh dịch vụ cầm đồ”.

Hoạt động dịch vụ cầm đồ không được dựa trên cơ sở bảo lãnh, tín chấp, không có tài sản bảo đảm hoặc là thế chấp tài sản, kể cả là bằng động sản hoặc bất động sản. Việc cho vay cầm đồ cũng không được phép dựa trên cơ sở bảo đảm bằng chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân, bằng tốt nghiệp đại học, giấy phép lái xe, sổ bảo hiểm xã hội, thẻ sinh viên, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, .., vì đó không phải là những tài sản có thể dùng để cầm cố theo quy định của Bộ luật Dân sự nám 2015. (Điều 105, Điều 309 Bộ luật dân sự năm 2015)

Dịch vụ cầm đồ không phải là một hoạt động tín dụng theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng. Việc cho vay vượt quá phạm vi cầm đồ, không dựa vào tài sản cầm cố, là vi phạm quy định “nghiêm cấm cá nhân, tổ chức không phải là tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động ngân hàng trừ giao dịch ký quỹ, giao dịch mua, bán lại chứng khoán của công ty chứng khoán”.

Việc cho vay vượt quá phạm vi cầm đồ, không dựa hoàn toàn vào tài sản cầm cố, là hành vi hoạt động ngân hàng, vi phạm quy định “nghiêm cấm cá nhân, tổ chức không phải là tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động ngân hàng”.

Giấy phép đã cấp cho các ngân hàng trước kia có dịch vụ cầm đồ, nhưng Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) hiện hành đã bỏ quy định về hoạt động cầm đồ. Vì vậy các ngân hàng không được cấp phép thực hiện dịch vụ cầm đồ, mà chỉ được phép cho vay có bảo đảm bằng tài sản cầm cố. (khoản 2 Điều 8 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi)

Năm 1999, lãi suất cho vay cầm đồ đã từng được quy định cao gấp hơn 3 lần nếu tính theo tháng và hơn 9 lần nếu tính theo ngày so với lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng (trường hợp cho vay dưới 10 ngày, lãi suất không quá 0,3%/ngày, tức 109,5%/năm, từ 10 ngày trở lên không quá 3%/tháng, tức 36%/năm)[2]. Tuy nhiên, đến nay, cho vay cầm đồ cũng phải thực hiện theo giới hạn lãi suất chung, trong đó lãi suất trong hạn không quá 20%/năm và lãi suất quá hạn không quá 30%/năm. Trong khi đó, lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng thì nhìn chung là không bị giới hạn.

2. Quy định pháp luật về họ, hụi, biêu, phường

Họ, hụi, biêu, phường (gọi chung là họ) được quy định trong mục “Hợp đồng vay tài sản” của Bộ luật Dân sự như sau: (Điều 3, Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 3, Điều 4 Nghị định 19/2019/NĐ-CP)

Thứ nhất, họ là hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên cơ sở thỏa thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại cùng định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ của các thành viên.

Thành viên là người tham gia dây họ, góp phần họ, được lĩnh họ và trả lãi (nếu có);

Thứ hai, việc tổ chức họ phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự và chỉ được thực hiện nhằm mục đích tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên;

Thứ ba, trường hợp việc tổ chức họ có lãi thì mức lãi suất trong hạn không quá 20%/năm và lãi suất quá hạn không quá 30%/năm.

Họ không có lãi là họ mà thành viên được lĩnh họ nhận các phần họ khi đến kỳ mở họ và không phải trả lãi cho các thành viên khác. Kỳ mở họ là thòi điểm được xác định theo thởa thuận của các thành viên mà tại thời điểm đó các thành viên góp phần họ và có thành viên được lĩnh họ. Phần họ là số tiền hoặc tài sản khác (sau đây gọi là tiền) được xác định theo thởa thuận mà mỗi thành viên phải góp tại mỗi kỳ mở họ.

Họ có lãi là họ mà thành viên được lĩnh họ nhận các phần họ khi đến kỳ mở họ và phải trả lãi cho các thành viên khác;

Thứ tư, không được tổ chức họ để cho vay nặng lãi, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, huy động vốn trái pháp luật hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác.

Pháp luật quy định một số nội dung chính về họ như sau:

Thứ nhất, điều kiện làm thành viên và chủ họ như sau: (Điều 5, Điều 6 Nghị định 19/2019/NĐ-CP)

- Là người từ đủ 18 tuổi trở lên và không thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định tại Bộ luật Dân sự.

Chủ họ là người tổ chức, quản lý dây họ, thu các phần họ và giao các phần họ đó cho thành viên được lĩnh họ trong mỗi kỳ mở họ cho tới khi kết thúc dây họ. Chủ họ có thể đồng thời là thành viên của dây họ;

- Người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu có tài sản riêng có thể là thành viên của dây họ. Dây họ là một họ hình thành trên cơ sở thởa thuận cụ thể của các thành viên về thời gian, phần họ, thể thức góp họ, lĩnh họ, quyền, nghĩa vụ của chủ họ (nếu có) và các thành viên;

- Trường hợp các thành viên tự tổ chức dây họ thì chủ họ là người được hơn một nửa tổng số thành viên bầu, trừ trường hợp có thởa thuận khác;

- Điều kiện khác theo thởa thuận của các thành viên;

Thứ hai, hình thức thởa thuận vể dây họ (kể cả sửa đổi, bổ sung) phải được thể hiện bằng văn bản; được công chứng hoặc chứng thực nếu thành viên yêu cầu;

Thứ ba, văn bản thỏa thuận về dây họ có những nội dung chủ yếu sau đây: (Điều 7, Điều 8 Nghị định 19/2019/NĐ-CP)

+ Họ, tên, số chứng minh nhân dân hoặc số căn cước công dân hoặc số hộ chiếu; ngày, tháng, năm sinh; nơi cư trú của chủ họ và của từng thành viên;

+ Số lượng thành viên;

+ Phần họ;

+ Thời gian diễn ra dây họ, kỳ mở họ;

+ Thể thức góp họ, lĩnh họ.

Ngoài các nội dung nêu trên, văn bản thỏa thuận về dây họ có thể có những nội dung khác.

Thứ tư, trừ trường hợp có thỏa thuận khác, một người có thể trở thành thành viên mới của dây họ khi: có sự đồng ý của chủ họ và tất cả các thành viên đồng thời phải góp đầy đủ các phần họ tính đến thòi điểm tham gia;

Thứ năm, việc rút khởi dây họ được quy định như sau (Điều 9, Điều 10 Nghị đinh 19/2019/NĐ-CP): thành viên đã lĩnh họ phải góp các phần họ chưa góp. Thành viên đã góp họ mà chưa lĩnh họ được nhận lại các phần họ đã góp hoặc theo thỏa thuận. Thành viên rút khởi dây họ phải hoàn trả một phần tiền lãi đã nhận (nếu có) và thực hiện nghĩa vụ khác theo thỏa thuận;

Thứ sáu, việc chấm dứt dây họ theo thởa thuận của các thành viên hoặc mục đích tham gia của các thành viên đã đạt được hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật; (Điều 11 Nghị định 19/2019/NĐ-CP)

Thứ bảy, chủ họ phải lập và giữ sổ họ, trừ trường hợp có thởa thuận về việc một thành viên lập và giũ sổ họ; (Khoản 1 Điều 12 Nghị định 19/2019/NĐ-CP)

Thứ tám, sổ họ có các nội dung sau đây: (Khoản 2 Điều 12 Nghị định 19/2019/NĐ-CP)

+ Các nội dung của thởa thuận về dây họ;

+ Ngày góp, số tiền đã góp họ của từng thành viên;

+ Ngày lĩnh, số tiền đã lĩnh họ của thành viên;

+ Chữ ký hoặc điểm chỉ của thành viên khi góp và lĩnh họ; các nội dung khác liên quan đến hoạt động của dây họ;

Thứ chín, khi góp họ, lĩnh họ, nhận lãi, trả lãi hoặc thực hiện giao dịch khác có liên quan thì thành viên có quyền yêu cầu chủ họ hoặc người lập và giữ sổ họ cấp giấy biên nhận về việc đó;

Thứ mười, chủ họ phải thông báo bằng văn bản cho ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú về việc tổ chức dây họ khi tổ chức dây họ có giá trị các phần họ tại một kỳ mở họ từ 100 triệu đồng trở lên hoặc tổ chức từ hai dây họ trở lên: (Điều 13, Điều 14 Nghị định 19/2019/NĐ-CP)

Thứ mười một, thành viên và chủ họ thực hiện quyền, nghĩa vụ và những quy định khác về họ theo quy định của pháp luật. (Điều 15 – Điều 25 Nghị định 19/2019/NĐ-CP)

Trên đây là bài viết của chúng tôi về nội dung "Tìm hiểu quy định pháp luật về cho vay cầm đồ và họ hụi biêu phường".

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập)