Là một quy tắc vàng của luật tố tụng hình sự, phương thức bảo vệ nhân quyền quan trọng và tiêu chuẩn quốc tế tối thiểu đảm bảo xét xử công bằng, suy đoán vô tội đã trở thành một nguyên tắc nền tảng của hệ thống tư pháp hình sự ở nhiều quốc gia. Trung quốc ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội vào năm 1996 khi sửa đổi Luật Tố tụng hình sự. Cùng tìm hiểu về việc thông qua nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật Trung Quốc trong bài viết dưới đây:

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

1. Nguyên tắc suy đoán vô tội là gì?

Suy đoán vô tội là nguyên tắc mà theo đó bị can, bị cáo được coi là vô tội, không phải chịu trách nhiệm hình sự, khi lỗi của người đó chưa được chứng minh theo trình tự, thủ tục luật quy định và chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng của tố tụng hình sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, loại trừ việc buộc tội, kết án thiếu căn cứ

2. Việc thông qua nguyên tắc suy đoán vô tội ở Trung Quốc

Trung Quốc là quốc gia thành viên của ICCPR cũng như Công ước Liên hợp quốc về các tội phạm xuyên quốc gia có tổ chức (United Nations Convention on Transnational Organized Crimes - UNTOC), Công ước Liên hợp quốc về phòng chống tham nhũng (United Nations Convention Against Corruption - UNCAC) và các công ước khác nhau có nguyên tắc suy đoán vô tội. Tuy nhiên, chỉ đến năm 1996, nguyên tắc này mới được ghi nhận tại Trung Quốc khi sửa đổi Luật Tố tụng Hình sự. Trung Quốc lần đầu tiên ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự (Criminal Procedure Law - CPL) năm 1979 và sửa đổi vào các năm 1996, 2012 và 2018. Suy đoán vô tội được ghi nhận đầu tiên trong CPL vào năm 1996, sau đó được củng cố thêm vào năm 2012.

Việc thiết lập nguyên tắc suy đoán vô tội ở Trung Quốc trải qua một quá trình lâu dài và phức tạp. Những người ủng hộ và phản đối nguyên tắc này đã tổ chức một loạt các cuộc thảo luận vào những năm 1950. Từ cuối những nãm 1950 đến 1990, các cuộc thảo luận về suy đoán vô tội bị cấm vì những giới hạn về tư tưởng. Các học giả Trung Quốc ủng hộ nguyên tắc suy đoán vô tội từng bị chỉ trích, cô lập hoặc thậm chí bị đàn áp trong cuộc cách mạng văn hóa khi mà nền pháp quyền hoàn toàn không được áp dụng ở Trung Quốc.

Dưới ảnh hưởng liên tục của ý thức hệ lúc bấy giờ, CPL 1979 không ghi nhận suy đoán vô tội như một nguyên tắc, thay vào đó, đưa ra chỉ đạo đối với các tòa án, viện kiểm sát và các cơ quan an ninh công "phải dựa vào quần chúng và phải lấy sự thật làm cơ sở và luật pháp là tiêu chí" khi tiến hành tố tụng hình sự. Có thể nói rằng suy đoán có tội được áp dụng phổ biến trong một thời gian dài mặc dù chính quyền Trung Quốc khẳng định không ủng hộ nguyên tắc suy đoán có tội hay suy đoán vô tội. Các phiên toà được diễn ra một cách hình thức hơn là thực chất, số phận của bị cáo thường được quyết định trước khi phiên tòa bắt đầu. Trong giai đoạn tiền xét xử, sự suy đoán có tội trở nên rõ ràng với việc các nhà điều tra thường trích xuất lời thú tội thông qua tra tấn.

Khi CPL 1996 được soạn thảo, nguyên tắc suy đoán vô tội đã được đưa ra thảo luận và lần này phe ủng hộ đã gặp nhiều thuận lợi nhờ sự giải phóng về tư tưởng và các chính sách cải cách, mở cửa. Một điều khoản mới đã được bổ sung vào luật tố tụng hình sự, trong đó nêu rõ "Không ai bị kết tội mà không được xét xử bởi Tòa án Nhân dân theo quy định của pháp luật." (Điều 12,1996 CPL).

Một số nhà bình luận giải thích các quy định trong Luật Tố tụng Hình sự (1996) theo hướng bao hàm nguyên tắc suy đoán vô tội. Liên quan đến những bình luận này, các học giả Trung Quốc đã tiến hành các nghiên cứu so sánh và tìm ra hai mô hình biểu hiện của suy đoán vô tội: mô hình của Pháp và mô hình của Ý. Mặc dù đa số các quốc gia và các văn kiện quốc tế được xây dựng theo mô hình của Pháp, vẫn có những hình thức biểu hiện khác của nguyên tắc này, đó là những ví dụ của Ý và Nga. Theo Hiến pháp Ý, "một bị cáo không thể bị coi là có tội cho đến khi bị kết tội". Các học giả Trung Quốc cho rằng Điều 12 CPL1996 đã ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội theo phong cách này.

>> Xem thêm:  Tòa án kinh tế là gì ? Quy định pháp luật về tòa án kinh tế

Một phê phán phổ biến khác đối với Điều 12, đó là "Điều 12 không đề cập đến trách nhiệm chứng minh, tiêu chuẩn định tội (standard of guilt) hoặc bất kỳ vấn đề nào khác thường liên quan đến suy đoán vô tội. Quy định này cần được nhìn nhận rộng hơn chỉ là một tuyên bố thẳng thắn về trách nhiệm thuộc về chức năng, trong đó chỉ có toà án - và không có một cá nhân hay thể chế nào khác - có thể tuyên bố có tội". Điều 12 đúng là đã làm rõ toà án là cơ quan duy nhất kết luận về tội danh, tuy nhiên CPL 1996 lại ghi nhận nhiều thiết chế liên quan đến nguyên tắc suy đoán vô tội trong các mục khác nhau.

3. Nội dung về nguyên tắc suy đoán vô tội trong Bộ luật hình sự Trung quốc

3.1. Có sự phân biệt giữa thuật ngữ “nghi phạm” và “bị cáo”

Thứ nhất, nhằm thực thi nguyên tắc suy đoán vô tội, CPL 1996 đã bắt đầu có sự phân biệt giữa "nghi phạm" (suspects) và "bị cáo" (defendants), thuật ngữ "bị cáo" chỉ sử dụng sau khi có quyết định khởi tố còn "nghi phạm hình sự" được sử dụng trong thời gian trước đó. Sự thay đổi này, ít nhất về mặt lý thuyết, đã nhấn mạnh sự khác biệt về nội hàm của hai thuật ngữ, giữa chủ thể đang bị tình nghi với chủ thể phải chống lại các cáo buộc chính thức theo quyết định của công tố viên. Sự khác biệt này đã cho thấy sự thay đổi cơ bản từ áp dụng suy đoán có tội sang suy đoán vô tội.

3.2. Suy đoán vô tội cung cấp giải pháp cho trường hợp không thỏa mãn tiêu chuẩn về chứng minh phạm tội

Thứ hai, suy đoán vô tội cung cấp giải pháp cho các trường hợp không thoả mãn tiêu chuẩn về chứng minh phạm tội. Khi không thể đáp ứng được các tiêu chí về chứng minh tội phạm theo quy định của pháp luật, việc áp dụng nguyên tắc suy đoán có tội có thể dẫn đến việc tuyên bị cáo có tội ngay cả khi còn nhiều điểm nghi vấn về vụ án. Ngược lại, việc áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội đòi hỏi bị cáo phải được tuyên vô tội trước toà nếu bên công tố không thể chứng minh tội phạm ngoài mối nghi ngờ mang tính hợp lý. Trong thời gian trước đó, kể từ khi nguyên tắc suy đoán có tội chi phối nhận thức của các cơ quan tư pháp Trung Quốc, những vụ việc dù còn nghi ngờ vẫn đưa ra bản án có tội. Thực tiễn này đã dần được thay thế bằng một sự thỏa hiệp,đó là đình chỉ vụ án, thay vì tuyên bố có tội. Điều này có nghĩa, khi vẫn còn tồn tại những nghi ngờ về vụ án, các cơ quan chức trách Trung Quốc không xác định bị cáo có tội hoặc vô tội, thay vào đó, họ lưu hồ sơ và sẽ tiếp tục xử lý vụ án nếu có bằng chứng mới xuất hiện. Cả hai thực tiễn nêu trên đều không phù hợp với yêu cầu về công lý trong xã hội hiện đại. Khắc phục tình trạng này, CPL1996 đã ghi nhận rõ rằng các vụ việc khi còn nghi vấn cần được xử lý theo hướng tuyên bố vô tội.

Tòa án tiếp theo đó sẽ đưa ra phán quyết cuối cùng theo quy định tại Điều 162, cụ thể như sau: (1) Nếu sự thật của vụ án được làm sáng tỏ, các bằng chứng là đáng tin cậy và đầy đủ, và có thể kết tội bị cáo theo luật định, bị cáo sẽ bị tuyên bố có tội theo quy định pháp luật tương ứng; (2) nếu bị cáo được chứng minh là vô tội theo quy định của pháp luật, toà án sẽ tuyên bị cáo vô tội; (3) nếu không có đầy đủ bằng chứng dẫn đến không thể kết tội bị cáo, bị cáo sẽ được tuyên là vô tội vì lý do không đủ bằng chứng và lời buộc tội không có căn cứ. Theo đó, bị cáo có thể được tuyên vô tội nếu được chứng minh là thực sự vô tội hoặc không có đủ bằng chứng nhằm chứng minh các cáo buộc. Điều này ngụ ý sự phân biệt giữa một ngưòi thực sự vô tội và một người không thể chứng minh là có tội, ngay cả khi vẫn tồn tại nhiều nghi vấn về tội phạm trên thực tế.

3.3. Trách nhiệm chứng minh tội phạm theo quy định pháp luật

Thứ ba, mặc dù CPL 1996 không ghi nhận rõ trách nhiệm chứng minh, tuy nhiên về mặt lý thuyết hay thực tiễn, cơ quan công tố phải chịu trách nhiệm chứng minh tội phạm theo quy định của pháp luật. CPL 2012 đã khắc phục hạn chế này bằng cách ghi nhận rõ trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về công tố viên. Trung Quốc đã ban hành quy định chung về tiêu chí của chứng cứ từ CPL 1979, theo đó, yêu cầu "các tình tiết phải được làm sáng tỏ, bằng chứng phải đáng tin cậy và đầy đủ.” Và những tiêu chí được giữ nguyên trong CPL 1996, mặc dù bị đánh giá là mơ hồ và khó thực thi. Điều 53 CPL 2012 bổ sung quy định cụ thể hơn, theo đó chứng cứ "đáng tín cậy và đầy đủ" có nghĩa: “(1) có chứng cứ xác thật đối với mỗi tình tiết vần thiết để định tội và tuyên án; (2) tất cả các bằng chứng cần thiết để đưa ra phán quyết phải được xác minh thông qua các thủ tục pháp lý; và (3) dựa trên đánh giá tổng thể tất cả các bằng chứng, các tình tiết thực tế được chứng minh chứ không còn là những nghi ngờ chính đáng". Quy định mới này không chỉ làm sáng tỏ quy định về tiêu chí về chứng cứ mà còn kết nối với quy định trước đây của Trung Quốc, mà còn tương quan với tiêu chuẩn Trung Quốc, đó là "các tình tiết phải được làm sáng tỏ, bằng chứng phải đáng tin cậy và đầy đủ” chứ không chỉ còn là những nghi ngờ có cơ sở, góp phần nâng cao nhận thức về tiêu chí về chứng cứ theo hướng thực tế hơn.

3.4. Không có bất kỳ cá nhân hoặc cơ quan nào khác có thẩm quyền định tội danh ngoài Tòa án

Thứ tư, để đảm bảo bị cáo được coi là vô tội trước khi ra phán quyết, Điều 12 công nhận thẩm quyền định tội đối vớỉ toà án. Hay nói một cách khác, không có bất kỳ cá nhân hoặc cơ quan nào khác có thẩm quyền định tội danh ngoài toà án. Phù hợp với tinh thần của Điều 12, CPL 1996 đã bãi bỏ thẩm quyền của viện kiểm sát trong việc xác định bị cáo có tội nhưng được miễn hình phạt. Theo CPL 1979, viện kiểm sát có thẩm quyền xác định có tội nhưng miễn hình phạt trong trường hợp hành vi phạm tội không nghiêm trọng. Quy định này cho phép các kiểm sát viên xác định tội phạm và như vậy là không phù hợp với Điều 12. Do đó, thẩm quyền này của kiểm sát viên đã bị huỷ bỏ trong luật mới, thay vào đó, các kiểm sát viên chỉ có thể đưa ra quyết định không truy tố.

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, CPL 1996, CPL 2012 và CPL 2018 đều tăng cường quyền tư vấn. Như một số nhà bình luận đã chỉ ra một cách khôn khéo rằng lịch sử của luật tố tụng hình sự chính là lịch sử về quyền được tư vấn. Suy đoán vô tội được coi là lý do của quyền được tư vấn. Nghi phạm được coi là vô tội cần có cơ sở pháp lý để có thể tham gia tích cực vào quá trình tố tụng hình sự. Suy đoán vô tội là nền tảng của các quyền của bị cáo trong tố tụng, trong đó quyền được tư vấn là quyền cốt lõi. Do đó, việc áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội cũng đồng thời thúc đẩy sự cải thiện đối với quyền được tư vấn trong tố tụng hình sự ở Trung Quốc. CPL 1996 cho phép các luật sư bào chữa thực hiện trợ giúp pháp lý cho các nghi phạm ở giai đoạn sớm nhất có thể, tức là khi vụ việc đang được xem xét bởi các công tố viên.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Các loại thực nghiệm điều tra ? Mục đích của thực nghiệm điều tra ?

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thực nghiệm điều tra là gì ? Quy định mới về thực nghiệm điều tra

Câu hỏi thường gặp về nguyên tắc suy đoán vô tội trong luật Trung Quốc

Câu hỏi: Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của Trung Quốc được ban hành vào năm nào?

Trả lời:

Trung Quốc lần đầu tiên ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự (Criminal Procedure Law - CPL) năm 1979 và sửa đổi vào các năm 1996, 2012 và 2018.

Câu hỏi: Nguyên tắc suy đoán vô tội được ghi nhận lần đầu tại Trung Quốc khi nào?

Trả lời:

Suy đoán vô tội được ghi nhận đầu tiên trong CPL vào năm 1996, sau đó được củng cố thêm vào năm 2012.

Câu hỏi: Nội dung nguyên tắc suy đoán vô tội được ghi nhận tại Bộ luật tố tụng hình sự Trung Quốc là gì?

Trả lời:

Điều 12 đúng là đã làm rõ toà án là cơ quan duy nhất kết luận về tội danh, tuy nhiên CPL 1996 lại ghi nhận nhiều thiết chế liên quan đến nguyên tắc suy đoán vô tội trong các mục khác nhau. Thể hiện nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội qua các nội dung sau:

Thứ nhất, đã có sự phân biệt giữa thuật ngữ “nghi phạm” và “bị cáo”.

Thứ hai, quy định suy đoán vô tội cung cấp giải pháp cho trường hợp không thỏa mãn tiêu chuẩn về chứng minh phạm tội.

Thứ ba, quy định cụ thể về trách nhiệm chứng minh tội phạm theo quy định pháp luật.

Thứ tư, quy định không có bất kỳ cá nhân hoặc cơ quan nào khác có thẩm quyền định tội danh ngoài Tòa án.