Thỏa thuận tín dụng, thường là hạn mức tín dụng, cho phép những người vay là công ty tài trợ cho hàng tồn kho và khoản phải thu, mua các vật dụng, và trả lương trong một chu kỳ sản xuất và kinh doanh. Người vay có quyền chọn dùng hạn mức tín dụng bất kỳ lúc nào trong suốt một thời kỳ nhất định, thường là hai năm, và sau đó trở thành tín dụng tuần hoàn theo quy ước. Tuy nhiên, hạn mức tín dụng này có thể kém cam kết hơn một hạn mức tín dụng tuần hoàn.

Các phí cam kết và số dư bù trừ mà người vay phải trả để có được hạn mức tín dụng dự phòng, là cách ít tốn kém để vay so với một khoản vay có kỳ hạn cố định, vì người vay chỉ rút số tiền cần thiết, và có thể trả hết số dư còn lại vào bất cứ lúc nào.

Tín dụng mở rộng, được cung cấp bởi Phòng Cho vay Chiết khấu tại Ngân hàng Dự trữ Liên bang với các thời kỳ lên đến 90 ngày. Các Ngân hàng Dự trữ Liên bang tạm ứng tín dụng dưới một số điều kiện nhất định cho các định chế tài chính nhỏ hơn, chúng tỏ có nhu cầu về vốn theo mùa hay gặp khó khăn trong việc tạo vốn từ thị trường tiền tệ quốc gia.