1. Trúng thưởng trên messenger facebook có phải dạng lừa đảo không?
Trả lời:
Trong trường hợp của bạn, khả năng rất cao bạn đang là "con mồi" của những kẻ lừa đảo chuyên nghiệp, vì sao tôi lại nói như vậy, bởi những nguyên nhân như sau:
Thứ nhất, vấn đề bạn gặp phải khá phổ biến, có thể nói gần như người dùng nào thường xuyên truy cập mạng xã hội cũng nhận được những tin nhắn khuyến mại như thế này. Vậy, một câu hỏi đặt ra là bạn không tham gia chương trình quay số trúng thưởng, bốc thăm trúng thưởng ... nào mà vẫn được giải thì đó là điều bất hợp lý. Mặt khác, một chương trình khuyến mại, trao thưởng phải được đăng ký ở các cơ quan có thẩm quyền (có thể là Sở Công Thương hoặc Bộ Công Thương (qua Cục Xúc tiến thương mại)), đặc biệt là với những chương trình có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên.
Thứ hai, giả sử chương trình trao thưởng kia là có thật và có đặt ra việc nộp thuế thật thì có hai điểm nghi vấn dễ thấy đó là bạn không ủy quyền cho họ thì họ không đại diện bạn đứng ra nộp thuế được. Số thuế phải nộp theo quy định tại Luật thuế thu nhập cá nhân, thì trong trường hợp của bạn, bạn có thu nhập từ trung thưởng thì bạn sẽ phải đóng 10% trên phần trúng thưởng có giá trị vượt trên 10 triệu đồng.
Tức là với giá trị quà tặng là 200 triệu đồng thì số thuế thu nhập cá nhân phải nộp sẽ là: (200-10)x10%=19 (triệu đồng)
Như vậy, trong trường hợp của bạn, khoản tiền thuế khoảng trên dưới 20 triệu đồng.
Có thể nói rằng, việc trúng thưởng là điều may mắn tuy nhiên bạn cần phải ết sức cảnh giác với những chiêu trò lừa đảo tinh vi trên mạng xã hội.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự về hành vi lừa đảo tài sản, gọi: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!
2. Kiện người bán hàng trên facebook khi nhận hàng khác với hình ảnh quảng cáo?
Trả lời:
1. Có thể thấy việc người bán hàng đăng bán mặt hàng chất lượng tốt, đẹp nhưng lại giao cho bạn hàng khác kém chất lượng; sau khi bạn phản hồi lại im lặng là hành vi cung cấp thông tin gian dối. Mục đích của họ là nhằm chiếm đoạt được tài sản của bạn và những khách hàng khác, thực tế hành vi này đã xảy ra rất nhiều.
Theo Điều 174 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:
Người nào bằng thủ đoạn gian dối:"Chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng..." hoặcDưới 2.000.000 đồng nhưng "đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm" hoặc "đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm" hoặc "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội" hoặc "tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ."
Người bán hàng đã cố ý cung cấp thông tin sai sự thật về hàng hóa và đã chiếm đoạt được số tiền của bạn cho nên hành vi này chính là lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
2. Cũng theo quy định trên, mặc dù hành vi là lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng giá trị tài sản lại chưa thỏa mãn để khởi tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Để cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì giá trị tối thiểu phải là hai triệu đồng
Theo điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP hành vi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác sẽ bị xử phạt hành chính với mức từ một triệu đến hai triệu đồng
3. Hướng giải quyết:
Trước hết bạn nên tìm đến đúng địa chỉ của người bán hàng để yêu cầu trả tiền theo đúng thỏa thuận của hai bên; hoặc có thể yêu cầu đổi hàng đúng chất lương với số tiền.
Trình báo với Trưởng công an xã nơi người đó cư trú yêu cầu xử phạt hành chính và buộc trả lại số tiền của mình. Nếu trường hợp không thể lấy lại được số tiền và cũng không được đổi hàng, bạn có thể sử dụng phương án cuối cùng là khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện nơi người bán hàng cư trú để yêu cầu Tòa giải quyết, bạn nên giữ lại giao dịch giữa hai bên để làm chứng cứ.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
3. Thương lái mua cá xong không trả tiền có phải là lừa đảo không?
>> Luật sư tư vấn Luật hình sự trực tuyến, gọi:1900.6162
Trả lời:
Theo Điều 175 BLHS quy định cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:
Người nào thực hiện một trong các hành vi:
- Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả hoặc
- Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản
chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng
Hoặc dưới dưới 4.000.000 đồng nhưng "đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản' hoặc "đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm" hoặc "tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ"
Theo thông tin bạn cung cấp thì thuơng lái đã mua của gia đình bạn tổng cộng là 160 triệu đồng, nhưng đã qua một thời gian dài mà thương lái vẫn chưa trả tiền. Ngoài gia đình bạn cũng còn nhiều gia đình khác rơi vào hoàn cảnh tương tự. Như vậy, thương lái này sau khi đã láy được cá từ gia đình bạn và những gia đình khác và có ý định không trả tiền. Gia đình bạn đã cố gắng liên lạc nhưng vẫn có hồi âm nên có thế người này bỏ trốn để không phải trả tiền. Căn cứ vào những dấu hiệu này, thì người này sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lợi dụng tin nhiệm chiếm đoạt tài sản với tình tiết tăng nặng thuộc khoản 4 Điều này. Bạn và các gia đình khác cùng bị thương lái này không trả tiền sẽ đến cơ quan công an trình báo sự việc để cơ quan này tiến hành điều tra.
>> Tham khảo: Mẫu đơn tố cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản mới nhất
4. Nhờ mua điện thoại rồi cãi trắng có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản?
Đến nay số điện thoại mẹ tôi mua hộ người đó đã lên 28 cái, nhưng khi đòi tiền thì người đó không trả và nói là do mẹ tôi cho. Nhưng mẹ tôi không hề mua cho mà là mua hộ.
Vậy trường hợp trên có phải lừa đảo chiếm đoạt tài sản không?
Xin chân thành cảm ơn Luật sư.
Người gửi: Đ.V.T
>> Tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài: 1900.6162
Trả lời:
Việc mẹ bạn mua hộ người đó 28 chiếc điện thoại, giá mỗi chiếc hơn 2 triệu đồng không có giấy tờ nhờ mua nên để chứng minh đây là do họ nhờ mua chứ không phải mẹ bạn mua cho là một việc tương đối khó. Tuy nhiên, nếu mẹ bạn có căn cứ, bằng chứng chứng minh là người đó nhờ mua mà giờ họ lại khẳng định mẹ bạn mua cho, thì họ có thể phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 BLHS quy định cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:
Người nào bằng thủ đoạn gian dối:"Chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng..." hoặcDưới 2.000.000 đồng nhưng "đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm" hoặc "đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm" hoặc "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội" hoặc "tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ."
Như vậy, với số lượng điện thoại lên đến 28 chiếc (tức khoảng 55-60 triệu đồng) thì người đó đã rơi vào khoản 2 Điều 174 nêu trên, cụ thể là:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
>> Tham Khảo: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định mới nhất