1. Khái niệm hợp đồng trong pháp luật Việt Nam

Ở các nước trên thế giới có nhiều khái niệm về hợp đồng như Luật Bắc kì quy định :Điều 644 Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 quy định:“Khế ước là một hiệp ước của một người hay nhiều người cam đoan với một hay nhiều người khác để tặng cho, để làm hay không làm cái gì”. Luật Dân Trung kì quy định: Điều 680 Dân luật Trung Kỳ năm 1936 quy định: “Khế ước là một hiệp ước của một người hay nhiều người cam đoan với một hay nhiều người khác để chuyển giao, để làm hay không làm cái gì”.Còn Việt Nam quy định về hợp đồng trong Bộ Luật dân sự như sau :

Điều 394 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 và Điều 388 BLDS năm 2005 của Việt Nam ngày nay đều quy định: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Điều 385 BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Theo đó ta thấy khái niệm về hợp đồng của hai bộ Dân luật Bắc Kỳ và Trung Kỳ thiếu sự bao quát khi đề cập ngay đến một sự phân loại nghĩa vụ dựa trên nội dung của nghĩa vụ, là chuyển giao quyền, làm hoặc không làm một việc gì đó. Riêng Bộ Dân luật Bắc Kỳ sử dụng thuật ngữ “tặng cho” dường như loại trừ các trường hợp chuyển giao quyền có đền bù, có nội hàm hẹp hơn nhiều so với thuật ngữ “chuyển giao” trong Bộ Dân luật Trung Kỳ. Cách phân loại này được đề cập tới nhiều trong việc thực hiện nghĩa vụ, nhưng cũng chỉ là một cách trong nhiều cách phân loại nghĩa vụ. Nội hàm của hai khái niệm này không bao quát được yếu tố tạo lập hậu quả pháp lý. Khái niệm hợp đồng của hai bộ luật này chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi BLDS Pháp năm 1804, do những chuyên gia pháp lý thời đó là người Pháp hoặc tiếp thu nền khoa học pháp lý Pháp.
BLDS năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005 lại không sử dụng thuật ngữ “hợp đồng” như tất cả các nghiên cứu cơ bản về hợp đồng mà có một bổ ngữ “dân sự” ở sau. Bổ ngữ “dân sự” này đã tạo ra bất cập trong thực tiễn. Về mặt cấu trúc của hệ thống pháp luật, ở những nước có sự phân biệt ngành luật công và luật tư thì BLDS thường được coi là bộ luật nền tảng của luật tư. Do vậy khái niệm hợp đồng và chế định hợp đồng trong BLDS có tính bao quát cho toàn bộ các quan hệ tư nơi mà các chủ thể trong quan hệ ở vị thế bình đẳng với nhau và giao kết hợp đồng dựa trên tự do ý chí. Việc thêm bổ ngữ “dân sự” ở đằng sau có thể khiến cho những người thực hành pháp luật hiểu nhầm rằng chế định về hợp đồng dân sự trong BLDS năm 1995 và năm 2005 chỉ áp dụng cho các quan hệ dân sự thuần túy (phục vụ mục đích sinh hoạt, tiêu dùng, không làm phát sinh lợi nhuận) mà không áp dụng cho các quan hệ tư khác như thương mại, kinh doanh, lao động thể hiện tư duy không chính xác về cấu trúc của hệ thống pháp luật tư và không thích ứng với cơ chế thị trường.Khái  niệm hợp đồng trong pháp luật thực định ở Việt Nam từ xưa đến nay, có thể thấy, khái niệm hợp đồng trong pháp luật Việt Nam được hoàn thiện dần theo thời gian. Bộ Dân luật Việt Nam Cộng hòa năm 1972 và BLDS năm 2015 hiện nay đều có chung quan điểm về hợp đồng rằng, hợp đồng là một sự thỏa thuận/sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể, nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự.

2. Tính chất dân sự và tính chất kinh doanh của hợp đồng

Hợp đồng kinh doanh là một dạng hợp đồng dân sự (Khoản 1 Điều 1 Bộ luật dân sự 2015) do các chủ thể kinh doanh tiến hành nhằm mục tiêu lợi nhuận.  Ngoài ra, có thể hiểu hợp đồng trong kinh doanh như sau: “Hợp đồng trong kinh doanh là sự thỏa thuận giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với một bên không phải là thương nhân trong việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động kinh doanh”.

Với những đặc điểm sau: 

 Là những giao dịch có bản chất dân sự,  thiết lập trên sự tự nguyện thỏa thuận, bình đẳng.

– Do hai hay nhiều bên tham gia, có thể là tổ chức hoặc cá nhân, hướng tới lợi ích cụ thể.

– Có một số điều khoản tương tự như hợp đồng dân sự: điều khoản về chủ thể, đối tượng của hợp đồng, giá cả, quyền và nghĩa vụ của các bên…

– Có thể giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi pháp lý cụ thể của các bên giao kết.

– Chủ thể của hợp đồng trong kinh doanh phải được thiết lập chủ yếu giữa các chủ thể kinh doanh (thương nhân).

– Mục đích lợi nhuận là đặc trưng cơ bản của các giao dịch kinh doanh.

Theo phương diện chủ quan, hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thoả thuận để cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định. Theo phương diện này, hợp đồng dân sự vừa được xem xét ở dạng cụ thể vừa được xem xét ở dạng khái quát. Nếu định nghĩa dưới dạng cụ thể thì "hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản, làm một việc hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thoả thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng"(Điều 1 Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991). Sự liệt kê cụ thể bao giờ cũng rơi vào tình trạng không đầy đủ và để quy định của pháp luật có thể bao trùm được toàn bộ các hợp đồng dân sự xảy ra trong thực tế, Bộ luật dân sự đã định nghĩa nó ở dạng khái quát hơn

Về tính chất dân sự và tính chất kinh doanh của hợp đồng
- Một hợp đồng có tính chất dân sự hoặc kinh doanh là ở Chỗ nó có là một hành vi kinh doanh hay không.Vì vậy, bán có thể là một hành vi dân sự hoặc một hành vi kinh doanh.Mặt khác cũng là một hợp đồng nhưng có thể có tính chất kinh doanh đối với bên này, lại có tính chất dân sự đối với  bên kia. Ví dụ: một người mua của một người bán một máy gia dụng. Đó là hợp đồng dân sự đối với người mua và là hợp đồng kinh doanh đối với người bán.
Tuy nhiên, cũng có một số hợp đồng luôn luôn là những hành vi kinh doanh và do đó có tính chất hợp đồng kinh doanh. Đó là những hợp đồng công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên danh hoặc công ty hợp vốn sự cam đoan chi trả một hối phiếu.
- Một số hợp đồng khác bao giờ cũng là hành vi dân sự.Đó là những hợp đồng cho không. Nó không thể là hành vi kinh doanh vì ý chí là cho không.

3. Quy tắc riêng về hợp đồng kinh doanh

Về nguyên tắc, những quy tắc của hợp đồng dân sự cũng là những quy tắc của hợp đồng kinh doanh, đặc biệt là về việc lập hợp đồng và về những khuyết tật trong ý chí thỏa thuận.Tuy nhiên, về một số điểm thì hợp đồng kinh doanh phải tuân theo một số quy tắc riêng.

3.1. Chứng minh hợp đồng.

Phương tiện chứng minh hợp đồng dân sự trên 5000 phrăng phải là một văn bản (điều 1341 Bộ luật dân sự), cho nên không được chứng minh bằng người làm chứng hoặc bằng suy đoán. Khi có văn bản thì không được dùng người làm chứng hoặc bằng suy đoán để phản bác hoặc bổ sung vào văn bản.Trái lại, đối với hợp đồng kinh doanh thì:
- Có thể chứng minh một hợp đồng bằng mọi phương tiện: văn bản, người làm chứng, suy đoán,
- Không phải làm thành nhiều bản hợp đồng, kể cả hợp đồng đa phương.
- Do có thể chứng minh bằng mọi phương tiện để phản bác hoặc bổ sung vào các văn bản đã ký, cho nên thẩm phán phải xem xét một cách sáng suốt và thận trọng.
Có thể lập hợp đồng kinh doanh qua viêc trao đổi bằng điện thoại. Đối với những người thường làm ăn với nhau thì cách làm đó không có gì mắc míu, nhưng để thận trọng hơn, nội dung trao đổi nên được xác định bằng thư.
Thông thường là qua trao đổi thư từ để thỏa thuận về hợp đổng. Ví dụ: một doanh nhân hứa sẽ giao cho một doanh nhân khác một, số lượng hàng hóa và người kia đã trả lời đồng ý. Thư đó cần có bản sao được giữ lại..
Lập hợp đồng bằng cách trao đổi thư từ thì việc xác định hợp đồng được lập vào thời điểm nào và tại địa điểm nào thường có khó khăn vì vấn đề này có liên quan đến thẩm quyền xét xử của Tòa án.
Thời điểm và địa điểm lập hợp đồng không căn cứ vào lúc và nơi bên nhận được lời chào hàng mà căn cứ vào thời điểm và địa điểm thư ưng thuận mua hàng được gửi đi.

3.2. Nội dung.

Điều khoản về hòa giải có thể được ghi trong hợp đồng dân sự cũng như hợp đồng kinh doanh 

3.3. Hậu quả.

Có thể hối thúc người phải thi hành nghĩa vụ bằng mọi cách mà không nhất thiết phải bằng thửa phát lại .
Những người cũng phải thi hành nghĩa vụ có trách nhiệm liên đới cho đến khi có chứng cứ trái lại.
Trước đây, lãi suất do pháp luật quy định cho hoạt động kinh doanh cao hơn lãi suất về dân sự. Nay lãi suất năm bằng nhau, tức là bằng tỷ suất chiết khấu tại Ngân hàng nước Pháp ngày 15 tháng chạp năm trước.
Thời hiệu về dân sự là 30 năm, còn thời hiệu đối với những nghĩa vụ giữa doanh nhân với nhau hoặc giữa doanh nhân với người không phải là doanh nhân chỉ là 10 năm, trừ trường hợp có quy định thời hiệu ngắn hơn.

3.4. Cấm lạm dụng sức mạnh về kinh tế.

Để bảo vệ có hiệu quả những người tiêu thụ, luật số 78-23 ngày 10-1-1978 đã quy định: chính phủ có quyền cấm hoặc quy định, một số điều khoản trong hợp đồng với người tiêu thụ nhằm cấm lợi dụng sức mạnh về kinh tế để áp đặt cho người tiêu thụ những điều khoản thu lợi quá đáng cho nhà kinh doanh.
Pháp lệnh số 68-464 ngày 24-3-1978:
- Cấm mọi điều khoản nhằm xác nhận người tiêu thụ đã thỏa thuận về những điều không có trong hợp đồng viết (quy định này đã bị quyết định của tham chính viện hủy bỏ ngày 3-3-1980).
- Cấm mọi điều khoản trong hợp đồng bán nhằm loại bỏ hoặc giảm bớt quyền được bồi thường của người tiêu thụ trong trường hợp doanh nhân không thực hiện một trong những nghĩa vụ của họ.
c. Cấm mọi điều khoản cho phép doanh nhân được đơn phương thay đổi tính chất của tài sản phải giao hoặc của dịch vụ.
d. Trong trường hợp đã có sự bảo đảm thì buộc doanh nhận phải ghi rõ trong hợp đồng là trong mọi trường hợp họ phải thực hiện sự bảo đảm đối với những khuyết tật ẩn dấu.
Ngoài ra "ủy ban chống những điều khoản lạm dụng "còn đưa ra một số "lời nhắc nhở", đặc biệt đối với những việc: cho thuê nhà, bảo đảm đối với những khuyết tật ẩn dấu, khởi kiện trước tòa án  và quảng cáo.

Mọi vướng mắc về các vấn đề pháp lý liên quan đến bài viết Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật  trực tuyến qua tổng đài.

Công Ty Luật Minh Khuê xin cảm ơn!!