1. Tính mới của sáng chế được quy định như thế nào ?

Điều 60 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009 có quy định:

"1. Sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên.

2. Sáng chế được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về sáng chế đó.

3. Sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu được công bố trong các trường hợp sau đây với điều kiện đơn đăng ký sáng chế được nộp trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày công bố:

a) Sáng chế bị người khác công bố nhưng không được phép của người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này;

b) Sáng chế được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này công bố dưới dạng báo cáo khoa học;

c) Sáng chế được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức."

Tính mới của sáng chế được quy định như thế nào?

Sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu được công bố trong các trường hợp sau đây với điều kiện đơn đăng ký sáng chế được nộp trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày công bố:

Thứ nhất: sáng chế bị người khác công bố nhưng không được phép của người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật sở hữu trí tuệ;

Thứ hai: sáng chế được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật sơ hữu trí tuệ 2005 công bố dưới dạng báo cáo khoa học;

Thứ ba: sáng chế được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức.

Tính mới của sáng chế phải mang tính chất tuyệt đối, tức là sáng chế cũng phải mới so với toàn thế giới chứ không phải chỉ ở riêng Việt Nam.

Tiêu chí chưa bị bộc lộ công khai:

– Sáng chế được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về sáng chế đó.

– Thời điểm để xác định một sáng chế bị bộc lộ công khai là ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên.

– Hình thức bộc lộ công khai có thể là sáng chế sáng chế đã được sử dụng, mô tả bằng ấn phẩm tư liệu, mô tả bằng thuyết trình, giảng dạy, đăng tải trên Internet, lưu thông trên thị trường…hoặc bằng bất kỳ cách bộc lộ nào khác miễn để cho người khác biết đến sáng chế của mình.

– Để xác định một sáng chế có tính mới hay không thì cần có sự so sánh, đối chiếu với các đối chứng cụ thể. Các đối chứng này không chỉ giới hạn trong phạm vi những đăng kí sáng chế, văn bằng bảo hộ trong nước và nước ngoài mà còn phải tra cứu ở cả những công trình khoa học, tài liệu nghiên cứu thuộc lĩnh vực.

Một điểm cần lưu ý nữa là khi dùng các tài liệu đối chứng thì không được kết hợp tài liệu của từng phần riêng biệt yêu cầu bảo hộ mà phải đánh giá tổng thể. Ví dụ như yêu cầu bảo hộ một cái bàn có bánh xe di chuyển được cấu tạo từ mặt bàn của chiếc bàn thông thường và chân bàn có bánh xe di chuyển của chiếc ghế có bánh xe, thì khi bảo hộ, phải tìm tài liệu đối chứng là tổng thể cái mặt bàn + chân ghế có bánh xe chứ không thể dẫn chứng tài liệu từ sản phẩm bàn và ghế trên để xét nghiệm sáng chế.

Tiêu chí không trùng lặp với bất kì một giải pháp kĩ thuật nào trước đó:

Sáng chế để bảo đảm tính mới thì phải đảm bảo sự không trùng lặp hoặc có ít nhất một dấu hiệu kỹ thuật cơ bản khác biệt so với các giải pháp kỹ thuật đã được cấp bằng bảo hộ hoặc đã nộp đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ.

Tuy nhiên, pháp luật cũng có quy định về trường hợp ngoại lệ trong việc xác định tính mới của sáng chế. Theo đó, sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu được công bố trong các trường hợp sau đây với điều kiện đơn đăng ký sáng chế được nộp trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày công bố:

– Sáng chế bị người khác công bố nhưng không được phép của người có quyền đăng ký.

– Sáng chế được người có quyền đăng ký công bố dưới dạng báo cáo khoa học;

– Sáng chế được người có quyền đăng ký trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức.

Đây là các trường hợp mà sự biết đến và bộc lộ của sáng chế đến từ những người có điều kiện nhất định và giới hạn số lượng biết đến sáng chế như người kiểm định; cộng sự cùng tạo ra sáng chế đó hoặc số lượng người tới xem triển lãm (số lượng này có thể giới hạn được). Tuy nhiên, với trường hợp này, những người cộng sự cùng làm ra sáng chế phải có một thoả thuận về việc giữ bí mật tính mới của sáng chế, nhưng khi một người trong số đó phá vỡ quy tắc, bộc lộ sáng chế ra với bên ngoài thì sáng chế này cũng bị coi là không còn tính mới.

Để một sáng chế được bảo hộ, việc xem xét về tính mới là vô cùng quan trọng và cũng là một quá trình tương đối phức tạp. Vì vậy, trước khi quyết định đăng ký cho một sáng chế nào đó, chủ sở hữu sáng chế cần phải kiểm tra tính mới của sáng chế mà mình sở hữu, để chắc chắn rằng sáng chế đó vẫn chưa bị bộc lộ công khai và khác biệt đáng kể với những sáng chế được bảo hộ trước đó.

2. Đăng ký sáng chế tại Thụy Điển

Đăng ký sáng chế tại Thụy Điển, cũng giống như việc đăng ký sáng chế tại các quốc gia Hà Lan, Thụy Sỹ, Đan Mạch, Pháp... chủ sở hữu sáng chế phải cung cấp cho cơ quan sáng chế Thụy Điển bộ hồ sơ đăng ký sáng chế tại Thụy Điển gồm giấy ủy quyề; Giấy giao nhiệm vụ của tác giả sáng chế.

Tại Thụy điển, giải pháp kỹ thuật (sáng chế) phải được nộp đơn đăng ký sáng chế tại Thụy Điển và được đồng ý cấp giấy chứng nhận độc quyền sáng chế tại Thụy Điển thì chủ sở hữu mới được độc quyền tại Thụy Điển.

+ Đăng ký sáng chế Quốc tế

Để nộp đơn Đăng ký sáng chế Quốc tế người nộp đơn có thể lựa chọn nộp đơn trực tiếp tại quốc gia đó hoặc nộp đơn quốc tế thông qua các hiệp ước, công ước quốc tế về đăng ký sáng chế mà quốc gia đó là thành viên

+ Đăng ký theo công ước Paris

- Bản mô tả sáng chế (bao gồm cả phần mô tả chi tiết, phần tóm tắt, yêu cầu bảo hộ)

- Bản vẽ hoặc bộ ảnh chụp sáng chế (nếu có)

- Thông tin người nộp đơn và chủ sở hữu sáng chế

- Tài liệu chứng minh quyền ưu tiên theo công ước Paris (12 tháng) (bản sao đơn đầu tiên nộp tại một trong số các nước thành viên)

+ Đăng ký theo hiệp ước hợp tác sáng chế PCT

- Thư lệnh (theo mẫu)

- Công bố đơn quốc tế PCT, báo cáo sơ bộ tra cứu sáng chế quốc tế

- Bản dịch chi tiết bản mô tả sáng chế

- Bộ ảnh vẽ hoặc ảnh chụp sáng chế

+ Hiệu lực văn bằng sáng chế:

- Giấy chứng nhận đăng ký sáng chế tại Thụy Điển có hiệu lực kể từ ngày cấp và kéo dài hết 20 năm kể từ ngày nộp đơn

- Hàng năm chủ sở hữu sáng chế phải nộp lệ phí duy trì hiệu lực

+ Hồ sơ đăng ký sáng chế tại

- Bản tóm tắt sáng chế (theo mẫu)

- Yêu cầu bảo hộ sáng chế (theo mẫu)

- Thông tin tác giả (tên, địa chỉ, quốc tịch)

- Thông tin của chủ sở hữu/ người nộp đơn (tên, địa chỉ, người đại diện)

- Ảnh chụp hoặc hình vẽ sáng chế

- Tài liệu chứng minh quyền ưu tiên (Nếu có)

- Công bố của tác giả (theo mẫu)

3. Đăng ký sáng chế tại Malaysia

Đăng ký sáng chế tại Malaysia, theo đó chủ sở hữu của sáng chế (giải pháp kỹ thuật) sau khi nộp đơn và được chấp nhận bảo hộ thì sẽ được độc quyền sáng chế tại Malaysia.

Cần lưu ý gì trước khi nộp đơn đăng ký sáng chế tại Malaysia

- Xác định đối tượng đăng ký sáng chế có khả năng được bảo hộ hay không

Để được bảo hộ sáng chế thì đối tượng đăng ký phải đáp ứng các tiêu chuẩn về Tính mới, Trình độ sáng tạo, Khả năng áp dụng công nghiệp

+ Đối tượng phải là một giải pháp kỹ thuật

+ Có tính mới: Chưa được bộc lộ dưới bất cứ hình thức nào (văn bản, báo cáo, internet...) tại bất kỳ nơi đâu

+ Có trình độ sáng tạo: Đối tượng được tạo ra là một bước sáng tạo, không phải đơn giản ai cũng có thể tạo ra được

+ Có khả năng áp dụng công nghiệp: Có thể tạo ra được nhiều sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình mà đối tượng đăng ký sáng chế đề cập đồng thời tạo ra những kết quả giống nhau.

- Tài liệu cần thiết để đăng ký sáng chế tại Malaysia

+ Bản mô tả sáng chế

+ Thông tin người nộp đơn

+ Thông tin tác giả (Người đã sáng tạo ra sáng chế)

+ Tờ khai đăng ký sáng chế tại Malaysia (Theo mẫu quy định của Cơ quan Sáng Chế Malaysia)

4. Đăng ký sáng chế tại Singapore

+ Hồ sơ đăng ký sáng chế tại Singapore

Theo Quy định của luật sáng chế ở Singapore, để nộp đơn đăng ký sáng chế tại Singapore thì người nộp đơn cần cung cấp các tài liệu sau:

+ Tên và địa chỉ của người nộp đơn (Nếu người nộp đơn là công ty thì cần nộp kèm đăng ký chứng nhận thành lập + giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh...)

+ Tên, địa chỉ và quốc tịch của (các) tác giả sáng chế

+ Tên sáng chế, bản mô tả sáng chế

+ Yêu cầu bảo hộ

+ Ảnh chụp, bản vẽ (chấp nhận bản vẽ kỹ thuật) của sáng chế

+ Tuyên bố của tác giả sáng chế (nếu tác giả làm việc cho một công ty và quyền sở hữu thuộc về công ty hoặc người thứ ba)

+ Bản sao tài liệu chứng minh hưởng quyền ưu tiên (Nếu có)

+ Giấy ủy quyền

+ Quy trình đăng ký sáng chế tại Singapore

- Nộp đơn, thẩm định hình thức đơn.

Sau khi chủ đơn đã chuẩn bị đúng, đầy đủ bộ hồ sơ đăng ký sáng chế tại Singapore và nộp đơn tại Cục Sở Hữu Trí Tuệ Singapore thì Cục này sẽ cấp số đơn và ngày nộp đơn cho chủ đơn đó. Số đơn và ngày nộp đơn một mặt sẽ là căn cứ để ghi nhận quyền cho chủ đơn cũng như quyền ưu tiên của chủ đơn (nếu có); đồng thời một mặt cũng là căn cứ để xác minh các tiêu chuẩn bảo hộ của giải pháp nêu trong đơn. Do đó, việc nộp đơn càng sớm càng được khuyến khích. Đăng ký sáng chế Quốc tế

- Công bố đơn: Thời hạn công bố là 18 tháng kể từ ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên, tùy thuộc vào ngày nào sớm hơn.

- Thẩm định đơn: Bất kì thời điểm nào người nộp đơn sáng chế tại Singapore cũng có thể yêu cầu thẩm định đơn (nhưng không được quá 03 năm kể từ ngày nộp đơn)

- Thông báo kết quả : Sau khi thẩm định đơn, Cục Sở Hữu Trí Tuệ Singapore sẽ ra thông báo

+ Chấp nhận bảo hộ -> Tiếp tới giai đoạn 5. Cấp bằng độc quyền, hoặc

+ Từ chối: Người nộp đơn có thể tiến hành phản đối ý kiến của Cục Sở Hữu Trí Tuệ Singapore nếu có căn cứ cho rằng ý kiến từ chối của cơ quan này không chính xác.

- Cấp bằng độc quyền sáng chế tại Singapore: Sau khi nhận được thông báo cấp văn bằng, người nộp đơn tiếp tục nộp phí cấp bằng độc quyền sáng chế và phí công bố bằng sáng chế tại Singapore. Tiếp đó, người nộp đơn sẽ nhận được bằng độc quyền sáng chế tại Singapore.

- Duy trì hiệu lực: Hàng năm, chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế bắt buộc phải nộp lệ phí duy trì hiệu lực cho sáng chế của mình, nếu không bằng sáng chế đó sẽ không có hiệu lực tại Singapore

5. Ai có quyền đăng ký sáng chế ?

Trả lời:

Những người sau đây có quyền đăng ký sáng chế

+ Tác giả (tức là người trực tiếp tạo ra sáng chế bằng trí tuệ), nếu tác giả tự đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất để tạo ra sáng chế; hoặc

+ Tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả, nếu sáng chế được tạo ra do tác giả sử dụng kinh phí, phương tiện vật chất đó; hoặc

+ Tổ chức, cá nhân ký hợp đồng thuê với tác giả, nếu sáng chế được tạo ra do thực hiện hợp đồng thuê việc và trong hợp đồng thuê việc không có thỏa thuận khác; hoặc

+ Tổ chức nơi tác giả làm việc, nếu sáng chế được tác giả tạo ra do thực hiện nhiệm vụ của tổ chức được giao.

+ Tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký có thể chuyển giao hoặc để thừa kế quyền đăng ký cho tổ chức cá nhân khác.

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi: CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ

Luật Minh Khuê là đơn vị đại diện sở hữu trí tuệ tại Việt Nam (Tổ chức đại diện sở hữu trí tuệ do Cục Sở hữu Trí tuệ cấp phép hoạt động)

Điện thoại yêu cầu dịch vụ luật sử tư vấn luật Sở hữu trí tuệ, gọi: 1900.6162

Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: [email protected]

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Sở hữu Trí tuệ - Luật Minh Khuê biên tập