1. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự được hiểu như nào?

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự được hiểu là một khái niệm pháp lý liên quan đến độ tuổi mà một cá nhân có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì các hành vi vi phạm pháp luật. Nó xác định độ tuổi tối thiểu mà một người có thể chịu trách nhiệm hình sự và bị xử lý hình sự nếu họ phạm tội.

Tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể khác nhau tùy thuộc vào từng quốc gia và luật pháp của từng địa phương. Trong hầu hết các nước, tuổi chịu trách nhiệm hình sự thường được quy định trong các luật hình sự hoặc luật tuổi thành niên. Ở nhiều nước, người dưới độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự được xem là chưa đủ khả năng phân biệt và hiểu rõ hành vi phạm tội của mình và do đó không thể chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này, họ có thể được xem như là vị thành niên và sẽ chịu một hệ thống xử lý riêng biệt dành cho vị thành niên, thường là hệ thống hình sự cho thanh thiếu niên. 

Việc xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự của các bên liên quan trong vụ án hình sự sẽ mang ý nghĩa như sau:

- Là cơ sở pháp lý cho tố tụng: Xác định độ tuổi của bị can, bị cáo và bị hại trong vụ án hình sự là cơ sở pháp lý quan trọng để đảm bảo việc áp dụng luật định liên quan đến truy cứu trách nhiệm hình sự. Các cơ quan thực hiện tố tụng cần dựa vào độ tuổi của các bên liên quan để xác định việc có thể áp dụng hình phạt hay biện pháp bổ sung nào phù hợp với từng trường hợp.

- Công bằng và quyền bình đẳng: Xác định độ tuổi của các bên liên quan trong vụ án hình sự là một yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo sự công bằng và quyền bình đẳng trước pháp luật. Điều này đồng nghĩa với việc không áp dụng những biện pháp truy cứu trách nhiệm hình sự quá nặng nề đối với người chưa đủ tuổi, như vị thành niên, và đảm bảo bị can và bị hại được đối xử công bằng và tôn trọng quyền lợi của họ.

- Bảo vệ quyền và lợi ích của các bên: Xác định độ tuổi của các bên liên quan cũng là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Trẻ em và vị thành niên thường được coi là đối tượng đặc biệt cần được bảo vệ, và việc xác định tuổi của họ giúp đảm bảo rằng họ sẽ không bị xử lý hình sự như người trưởng thành và sẽ được thực hiện những biện pháp phù hợp với độ tuổi và tính chất của họ.

Tóm lại, xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự là rất quan trọng để đảm bảo việc thực hiện tố tụng một cách công bằng, tôn trọng quyền bình đẳng trước pháp luật và bảo vệ quyền và lợi ích của từng bên liên quan.

 

2. Tính tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội là theo ngày sinh hay theo ngày, giờ, phút sinh?

Người bị buộc tội là người mà cơ quan điều tra hoặc cơ quan thực hiện tố tụng cho rằng đã phạm tội và có đủ căn cứ để tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự của họ. Đây là người mà bị cáo, bị tình nghi hoặc bị tố cáo vi phạm các quy định pháp luật và bị cơ quan thực thi pháp luật khởi tố hoặc điều tra vụ án. Trong quá trình điều tra và tố tụng hình sự, người bị buộc tội có quyền được bảo vệ quyền lợi pháp lý, được tiến hành xét xử công bằng, và được đảm bảo quyền tự bào chữa. Việc xác định xem ai là người bị buộc tội được căn cứ vào bằng chứng và thông tin thu thập trong quá trình điều tra và tố tụng, sau đó đưa ra quyết định xem liệu có đủ cơ sở để buộc tội và tiến hành xét xử hay không.

Về cơ bản, tuổi chịu trách nhiệm hình sự của các cá nhân là từ đủ 16 tuổi trở lên với mọi tội danh và từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đối với một số tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng theo quy định pháp luật. Việc xác định độ tuổi của bị can, bị cáo, bị hại là người dưới 18 tuổi được hướng dẫn bởi Thông tư liên tịch 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH và Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Cơ quan tiến hành tố tụng cần dựa vào một số giấy tờ, tài liệu như: Giấy chứng sinh, Giấy khai sinh, Chứng minh nhân dân, Thẻ căn cước công dân, Sổ hộ khẩu, Hộ chiếu để xác định chính xác ngày, tháng, năm sinh của bị can, bị cáo, bị hại là người dưới 18 tuổi.

Trong trường hợp các chứng cứ trên có mâu thuẫn, không rõ ràng hoặc không có giấy tờ, tài liệu thì cơ quan tiến hành tố tụng cần phối hợp với cá nhân, tổ chức có liên quan nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động, sinh hoạt để hỏi, lấy lời khai, xác minh và làm rõ mâu thuẫn hoặc tìm các giấy tờ, tài liệu khác có giá trị chứng minh về tuổi của người đó.

Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp nhưng chỉ xác định được khoảng thời gian tháng, quý, nửa đầu hoặc nửa cuối của năm hoặc năm sinh thì cần căn cứ vào khoản 2, 3 Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự để xác định tuổi như sau:

- Xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh.

- Xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh.

- Xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh.

- Xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh.

- Trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định độ tuổi để xác định tuổi và lấy tuổi thấp nhất trong khoảng độ tuổi đã xác định được để xác định tuổi của người đó khi chỉ xác định được khoảng độ tuổi bị can, bị cáo, bị hại.

Việc xác định độ tuổi của người dưới 18 tuổi trong vụ án hình sự đòi hỏi cơ quan tiến hành tố tụng phải tuân thủ các quy định pháp luật và áp dụng mọi biện pháp để xác định tuổi một cách chính xác, đảm bảo sự công bằng và quyền lợi của bị can, bị cáo và bị hại.

Bên cạnh đó, theo Công văn 64/TANDTC-PC năm 2019 thì việc tính tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội, cụ thể là việc xác định tuổi của bị can, bị cáo theo quy định tại Điều 417 của Bộ luật Tố tụng hình sự được thể hiện theo nội dung phân tích chi tiết sau:

Tuổi của người bị buộc tội:

Theo quy định tại Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuổi của người bị buộc tội được xác định dựa trên ngày sinh của họ, mà không tính theo giờ, phút sinh. Điều này có nghĩa là tuổi của người bị buộc tội được xác định chính xác bằng ngày, tháng và năm sinh của họ, và không tính các chi tiết nhỏ như giờ, phút.

Nguyên tắc có lợi cho người bị buộc tội:

Theo nguyên tắc có lợi cho người bị buộc tội, mặc dù trong một số trường hợp có thể xác định được cả ngày, giờ, phút sinh của người bị buộc tội, việc tính tuổi chịu trách nhiệm hình sự của họ vẫn chỉ được dựa vào ngày sinh. Điều này có ý nghĩa là việc xác định tuổi của người bị buộc tội sẽ không bị ảnh hưởng bởi các chi tiết nhỏ như giờ, phút sinh, nhằm bảo vệ quyền lợi và đảm bảo công bằng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tóm lại, việc tính tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội dựa vào ngày sinh và không tính theo giờ, phút sinh nhằm đảm bảo công bằng và đảm bảo quyền lợi cho người bị buộc tội. 

 

3. Thời điểm tính tuổi của người bị buộc tội trong vụ án hình sự

Về việc tính tuổi của bị can, bị cáo, bị hại trong vụ án hình sự dựa vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội được trình bày như sau:

- Thời điểm tính tuổi: Tuổi của bị can, bị cáo, bị hại trong vụ án hình sự được xác định ngay khi thực hiện hành vi phạm tội. Điều này có nghĩa là việc xác định tuổi của họ sẽ dựa vào thời điểm chính xác mà hành vi phạm tội được thực hiện.

- Hành vi phạm tội kéo dài và liên tục: Trong trường hợp hành vi phạm tội kéo dài và liên tục, có nhiều hành vi được thực hiện ở các thời điểm khác nhau. Khi xác định độ tuổi thực hiện hành vi phạm tội, có thể xảy ra trường hợp một người thực hiện hành vi khi chưa đủ tuổi và sau đó thực hiện hành vi khác khi đã đủ tuổi. Trong tình huống này, tuổi của người phạm tội sẽ được tính dựa vào độ tuổi ở hành vi cuối cùng.

- Tính chất liền kề của hành vi phạm tội: Trong một số trường hợp khi xác định độ tuổi của người phạm tội, có tính chất liền kề, có thể tách các hành vi ở từng độ tuổi để xem xét. Trong tình huống này, tuổi của người phạm tội sẽ được tính theo hướng có lợi hơn cho người phạm tội.

Tóm lại, thời điểm tính tuổi của bị can, bị cáo, bị hại trong vụ án hình sự được xác định ngay khi thực hiện hành vi phạm tội. Trong trường hợp hành vi phạm tội kéo dài và liên tục, tính chất liền kề, tuổi của người phạm tội sẽ được tính dựa vào thời điểm thực hiện hành vi cuối cùng hoặc theo hướng có lợi hơn cho người phạm tội.

Xem thêm: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có phải chịu trách nhiệm hình sự không?

Luật Minh Khuê sẽ giải đáp thắc mắc nhanh chóng qua tổng đài 1900.6162 hoặc qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn ./.