>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162
Luật sư tư vấn:
1. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm hình sự là chế tài trong pháp luật hình sự buộc một người khi vi phạm một tội được quy định trong Bộ luật hình sự thì sẽ phải chịu hình phạt tương ứng với hành vi và hậu quả thường là hình phạt tù.
Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là độ tuổi mà người đó phải chịu trách nhiệm hình sự.
Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự 2015, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự được chia thành 3 mức như sau:
- Mức người từ đủ 16 tuổi trở lên: Là người từ đủ 16 tuổi thì phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật hình sự có quy định khác. Có quy định khác là trường hợp những tội phạm mà điều luật yêu cầu chủ thể đặc biệt ví dụ Điều 353 Tội tham ô tài sản. Ở tội tham ô tài sản thì chủ thể không chỉ phải đáp ứng yêu cầu về độ tuổi mà còn đáp ứng về điều kiện có chức vụ quyền hạn. Còn với các tội phạm thông thường như tội phạm xâm phạm trật tự xã hội; các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự;... thì chỉ yêu cầu về độ tuổi là từ đủ 16. Từ đủ 16 tức là người chịu trách nhiệm phải đủ 16 tuổi tính tròn ngày, tròn tháng, tròn năm. Ví dụ 1 người sinh 25/4/2000 thì đến ngày 25/4/2016 người đó mới đủ 16 tuổi.
- Mức người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này. Người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi thì chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm đã được nêu nhưng chỉ đối với tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng. Rất nghiêm trọng là tội phạm mà điều luật quy định mức hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Đặc biệt nghiêm trọng là mức hình phạt mà điều luật quy định là tù trên 15 năm, chung thân, tử hình. Một người trên 14 tuổi nhưng dưới 16 tuổi gây thương tích cho người khác 26% thì phạm vào khoản 1 điều 134 và người này sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự.
- Mức người dưới 14 tuổi: không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Vậy người chịu trách nhiệm hình sự ít nhất phải từ đủ 14 tuổi trở lên. Các trường hợp người dưới 14 tuổi khi có hành vi gây thương tích hoặc có hành vi tội phạm được quy định tại bộ luật hình sự thì sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự. Nhưng không phải người đó sẽ không phải chịu bất cứ trách nhiệm gì.
2. Trách nhiệm bồi thường dân sự.
2.1 Trách nhiệm bồi thường dân sự là gì?
Trách nhiệm bồi thường dân sự là trách nhiệm mà người gây ra thiệt hại( hoặc người đại diện hợp pháp cho người gây ra thiệt hại) đối với người khác thì phải bồi thường. Không kể đến yếu tố lỗi của người gây ra thiệt hại để đảm bảo quyền lợi cho người bị thiệt hại. Ví dụ thiệt hại do động vật gây ra, thiệt hại do cây cối gây ra,.. trong các trường hợp này người gây ra thiệt hại đều không có lỗi nhưng vẫn phải bồi thường.
Trách nhiệm dân sự trong trường hợp này là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và phải có đầy đủ 3 yếu tố sau:
- Người có năng lực hành vi dân sự: Người dưới 18 tuổi thì bố mẹ sẽ có trách nhiệm đền bù vì người này có năng lực hành vi dân sự không đầy đủ.
- Có thiệt hại xảy ra: tức là có khoản thiệt hại về thu nhập, sức khỏe, danh dự,..
- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra: Tức là hành vi này là nguyên nhân gây ra thiệt hại cho người bị thiệt hại một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
2.2 Trách nhiệm bồi thường dân sự do người chưa đủ tuổi chịu TNHS
Trách nhiệm bồi thường do hành vi của người chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự do bố mẹ, người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự.
Điều 586: Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân.
1. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
2. Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.
3. Các trách nhiệm khác
Bởi vì chưa đủ tuổi nên người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự thì sẽ không chịu chế tài hình sự mà hình phạt phổ biến là hình phạt tù. Nhưng người đó sẽ phải chịu chế tài hành chính tùy thuộc vào hành vi của người chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Có 2 biện pháp xử lý cho người chưa đủ tuổi nhưng vi phạm pháp luật hình sự bao gồm:
- Biện pháp giáo dục tại xã, phường, trị trấn.
- Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.
Ngoài ra Luật xử lý vi phạm hành chính còn có các biện pháp áp dụng đối với người nghiện ma túy, các chất kích thích khác
3.1 Biện pháp giáo dục tại xã, phường, trị trấn
Định nghĩa: Giáo dục tại xã, phường, thị trấn là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với các đối tượng quy định tại Điều 90 của Luật này để giáo dục, quản lý họ tại nơi cư trú trong trường hợp nhận thấy không cần thiết phải cách ly họ khỏi cộng đồng.
Theo Điều 90 Luật xử lý vi phạm hành chính các đối tượng đạt độ tuổi và có hành vi dưới đây thì sẽ phải chịu chế tài Giáo dục tại xã, phường, trị trấn.
1. Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự.
2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự.
3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi 02 lần trở lên trong 06 tháng có hành vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, gây rối trật tự công cộng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
4. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định.
5. Người từ đủ 18 tuổi trở lên thực hiện hành vi xâm phạm tài sản của cơ quan, tổ chức; tài sản, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của công dân hoặc người nước ngoài; vi phạm trật tự, an toàn xã hội 02 lần trở lên trong 06 tháng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
6. Những người quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này mà không có nơi cư trú ổn định thì được giao cho cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em để quản lý, giáo dục trong thời hạn chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
Ngoài các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật hình sự thì Luật xử lý vi phạm hành chính còn quy định các đối tượng khác tại khoản 3,4,5 cũng được áp dụng biện pháp hành chính Giáo dục tại xã, phường, trị trấn.
Ví dụ: Một đứa trẻ 12 tuổi giết người vào khoản 2 điều 123 Bộ luật hình sự thì người này không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người nhưng sẽ bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là biện pháp giáo dục tại xã,phường, trị trấn căn cứ theo khoản 1 Điều 90 Luật xử lý vi phạm hành chính 2015.
3.2 Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
Theo Điều 91: Đưa vào trường giáo dưỡng là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại Điều 92 của Luật này nhằm mục đích giúp họ học văn hóa, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của nhà trường.
Theo Điều 92: Các đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng bao gồm( kể cả các hành vi không vi phạm luật hình sự)
1. Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự.
2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý quy định tại Bộ luật hình sự.
3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
4. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi 02 lần trở lên trong 06 tháng thực hiện hành vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, gây rối trật tự công cộng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
Cũng giống biện pháp giáo dục tại xã, phường, trị trấn thì biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng kể cả các hành vi chưa vi phạm pháp luật hình sự.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!