1. Tố cáo hành vi lừa đảo gửi đến có quan nào ?

Tôi có một vấn đề xin hỏi như sau:tôi mua tham gia vào một group mua bán vé máy bay trên facebook. Qua tìm hiểu trong group, tôi đã liên hệ với một người qua facebook để mua vé may bay để bán lại cho khách hàng. Tuy nhiên, sau khi hoàn tất thủ tục giao dịch (bao gồm chuyển tiền vé máy bay qua ngân hàng, gửi thông tin vé máy bay,.), khách hàng của tôi không thể check-in vì lí do vé máy bay không hợp lệ.

Tôi đã liên lạc với những người khác trong group và biết được họ cũng bị lừa đảo bởi những tài khoản facebook khác nhau nhưng giao dịch qua cùng một số tài khoản ngân hàng và một số điện thoại giống tôi. Số tiền vé máy bay tôi bị lừa đảo là 3. 100. 000 vnđhiện nay, tôi không thể tìm lại tin nhắn qua facebook với ctk facebook lừa đảo và bài post rao bán vé máy bay mà chỉ có số tài khoản và tên chủ tài khoản giao dịch cùng với các giấy tờ chứng minh giao dịch qua ngân hàng và giấy xác nhận hành trình chuyến bay. Nay tôi muốn tố các hành vi lừa đảo trên, tôi thắc mắc liệu có thể tố cáo chủ tài khoản facebook có hành vi lừa đảo trên không.

Nếu được, thì tôi sẽ tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 174 blhs 2015 hay hành vi sử dụng mạng máy tính thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điều 290 blhs 2015. Tôi xin cảm ơn.

- Nguyễn Bảo Anh

Luật sư trả lời:

Cảm ơn chị đã tin tưởng lựa chọn sự tư vấn của Công ty Luật Minh Khuê! Từ những thông tin chị đã cung cấp Luật sư thấy rằng chị cũng có sự tìm hiểu và am hiểu về pháp luật ở một mức nhất định. Hiện chị có hai thắc mắc là sẽ tố cáo hành vi của kẻ lừa tiền ở cơ quan nào và liệu với những tình tiết như trên thì kẻ lừa đảo sẽ bị xử lý theo căn cứ pháp lý nào.

Thứ nhất: Căn cứ vào Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g) Chiếm đoạt tài sản có giá từ 2,000,000 đồng đến dưới 50,000,000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a,b,c và d khoản 1 điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50,000,000 đến dưới 200,000,000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a,b,c và d khoan1 điều này.

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200,000,000 đồng đến dưới 500,000,000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a,b,c và d khoản 1 điều này.

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Từ những căn cứ nêu trên thì người lừa tiền của chị hoàn toàn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015. Còn việc chị đang phân vân căn cứ pháp lý thì Luật sư xin tư vấn như sau: Đây thực chất là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và dùng mạng xã hội facebook để tiếp cận nên facebook ở đây chỉ là công cụ thực hiện hành vi phạm tội chứ đây hoàn toàn không phải là hành vi dùng mạng máy tính nhằm chiếm đoạt tài sản theo Điều 290 Bộ luật hình sự như chị đã nêu.

Thứ hai: Căn cứ Điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định như sau:

Điều 145. Trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

1. Mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

2. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm:

a) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

b) Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.

3. Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố:

a) Cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của mình;

b) Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình;

c) Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục.

4. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có trách nhiệm thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan, tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Như vậy từ căn cứ pháp lý nêu trên thì chị là người bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên hoàn toàn có quyền tố giác, báo tin tại cơ quan điều tra công an cấp huyện cũng như tại viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi chị có hộ khẩu thường trú.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về tội lừa đảo trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.0159 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

2. Bị lừa mua like facebook có kiện được không ?

Thưa luật sư,em có một vấn đề xin được tư vấn như sau: ngày 14/4 em có dùng dịch vụ tăng like fanpage của bạn A . Trong cam kết của website , có nói sẽ bảo hành like và cam kết 100% like thật , vv, vv.. Em tăng 200.000 like cho fanpage đẹp và hấp dẫn hơn với giá 5 triệu 200 nghìn đồng, nhưng sau 1 tháng chỉ còn 9000 like .
Trước đó em có thỏa thuận là em muốn tăng like nhưng đảm bảo page Không gộp like từ những page khác . Nhưng sau đó họ vẫn gộp , nhưng rồi em cho qua Sau 1 tháng ,facebook kiểm duyệt và tách các fanpage khác ra nên chỉ còn 9.000 like Em có nói chuyện muốn bồi thường hoàn toàn , em sẽ mua lại fanpage cũ 9000 like với giá 1200K ( bình thường tăng like là khoảng 800K /9000 like ) ,và đòi A trả lại 4 triệu nhưng A nói lỗi là do facebook chứ không phải do A . Em thấy kể cả do facebook thì họ cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường cho em , , và A đảm bảo rồi em mới làm , bây giờ A bảo đền bù 50% số like , em không chịu vì em không muốn những like như thế . Đăng này trước khi làm e đã thỏa thuận là Không Gộp Page . Rồi A nói hôm sau sẽ trả lời , nhưng em có nhắn bao nhiêu thì A cũng chỉ đọc chứ không trả lời .
Vậy em có thể dựa vào đó tố tụng dân sự không , và phải làm như thế nào ạ ?
Em xin chân thành cảm ơn luật sư .Em mong nhận được hồi âm sớm của luật sư ạ . Em cảm ơn luật sư ạ .

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự , gọi: 1900.0159

Trả lời:

Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 có quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Theo đó:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Có thể thấy người bạn A đã cố tình cung cấp thông tin không đúng sự thật về dịch vụ tăng like.Theo cam kết là tăng like thật nhưng khi tiến hành thì lại không đúng như vậy.Bên cạnh đó,mục đích của bên A là nhằm chiếm đoạt số tiền của bạn dù cho bạn đã yêu cầu họ phải bồi thường nhưng lại lẩn tránh.Như vậy thì đã cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.Bạn nên tố giác tội phạm để bảo vệ quyền lợi của mình .

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

3. Bị lừa đảo trên mạng liệu có lấy lại tiền được không ?

Thưa luật sư! Mấy hôm trước em có mua hàng trên mạng. Người bán kêu em chuyển khoản rồi mới chuyển hàng. Xong em đã gửi 3triệu cho họ. Nhưng mấy hôm sau họ không gửi cho em mà còn chặn facebook. Bây giờ em không liên lạc được với họ. Liệu bây giờ em phải làm gì? Và em có thể lấy lại tiền của mình được không ạ?
Em vẫn là học sinh nên không có nhiều tiền. Bây giờ em không biết nên làm gì ạ?
Rất mong luật sư trả lời cho em về trường hợp này. Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Theo những thông tin mà bạn cung cấp thì người giao dịch với bạn qua mạng xã hội đó đã phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 139 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 như sau:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Để bảo vệ quyền là lợi ích chính đáng của mình cũng như ngăn chặn tội phạm thì bạn phải đến cơ quan công an để tố giác về hành vi phạm tội đó. Tố giác tội phạm là quyền và nghĩa vụ của công dân.

Điều 101 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009:

"Điều 101.Tố giác và tin báo về tội phạm

Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản."

Bạn cần cung cấp đầy đủ các thông tin cho bên cơ quan tiếp nhận tin báo như: thông tin về người bán hàng, bằng chứng tiến hành giao dịch...Cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành xác minh để làm rõ có hay không dấu hiệu của hành vi phạm tội trong trường hợp này. Nếu có dấu hiệu phạm tội họ sẽ tiến hành khởi tố vụ án hình sự và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp cho bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo

4. Giải quyết trường hợp bị lừa đảo khi mua hàng qua mạng ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Tôi có đặt hàng qua mạng và chuyển cho chủ tài khoản tổng cộng 4 triệu Việt Nam đồng. Nhưng khi tôi chuyển tiền xong thì ảnh nói ảnh không có hàng chuyển cho tôi nên ảnh sẽ chuyển khoản lại cho tôi.
Nhưng đến nay đã hơn 1 tuần rồi vẫn không thấy chuyển lại, gọi điện thoại thì không lin lạc được. Khi thăm dò bạn bè của người này trên face thì thấy có dấu hiệu lừa đảo. Vậy bây giờ tôi phải làm thế nào?
Trân trọng cảm ơn.
Người gửi: P.L

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi số: 1900.0159

Trả lời:

Theo quy định tại điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi bố sung năm 2009):

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Căn cứ Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009):

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

Như vậy trong trường hợp này mặc dù người kia có hành vi nhận tiền của bạn tuy nhiên cần xem xét thủ đoạn gian dối được hình thành trước hay sau khi chiếm đoạt số tài sản trên để truy cứu trách nhiệm hình sự về Điều 139 hay Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Căn cứ khoản 1 Điều 100 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003:

"Điều 100. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự

Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây:

1. Tố giác của công dân;"

Căn cứ Điều 101 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2003:

" Điều 101. Tố giác và tin báo về tội phạm

Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản."

Như vậy căn cứ vào quy định trên, thì bạn làm đơn tố giác tới cơ quan điều tra để tố giác hành vi trên.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Có lấy lại được tiền khi đã bị lừa chuyển khoản mà không nhận được hàng đã đặt qua mạng ?

5. Lừa tiền qua mạng khi mua hàng online làm sao để lấy lại ?

Luật Minh Khuê giải đáp các thắc mắc về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và các vấn đề liên quan.

Trả lời:

Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

"Điều 280. Thực hiện nghĩa vụ trả tiền

1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận.

2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."

Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 của Quốc Hội (Bộ luật hình sự số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quốc hội) quy định:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Thưa luật sư, nếu trường hợp bị lừa trúng thưởng trên mạng và bị lừa với số tiền trên 10 triệu thì phải làm sao để cảnh sát vào cuộc ạ. Em đã bị lừa ba triệu, vậy bây giờ e phải làm như thế nào ạ?

=> Lúc này bạn phải làm đơn tố cáo gửi lên cơ quan công an kèm theo bằng chứng để họ tiến hành điều tra và giải quyết.

Để thực hiện việc tố cáo, cần có trình tự tố cáo được quy định theo Luật tố cáo như sau:

Khi làm đơn, người tố cáo phải làm đơn gửi đến cơ quan có thẩm quyền qua đường bưu điện hoặc đến trực tiếp cơ quan.

Trong đơn tố cáo cần có nội dung chính gồm:

+ Tên cơ quan nhận đơn;

+ Họ, tên, địa chỉ của người tố cáo;

+ Họ, tên, địa chỉ của người có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại (nếu có);

+ Họ, tên, địa chỉ của người bị tố cáo;

+ Họ, tên, địa chỉ của người có quyền và nghĩa vụ liên quan;

+ Nêu rõ hành vi vi phạm pháp luật của người bị tố cáo; những vấn đề cụ thể yêu cầu cơ quan tiếp nhận Đơn tố cáo giải quyết và các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc tố cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Em có mua hàng trên mạng trị giá 2.400.000. Em chuyển khoản vào tài khoản của bạn người bán ( vì cùng ngân hàng nên sẽ nhận được tiền sớm hơn) nhưng người bán báo với em là bạn họ nhận được tiền nhưng nói là thẻ đang có vấn đề và có ý không đưa tiền em đã chuyển. Em có số tài khoản của họ ra ngân hàng xác nhận họ đã nhận được tiền. Giờ e chỉ biết số tài khoản có đòi lại được không ạ ?

=> Với thông tin là số tài khoản bạn hoàn toàn có thể đòi lại được số tiền. Lúc này bạn làm đơn trình báo gửi lên cơ quan công an để cơ quan công an điều tra và giải quyết vụ việc của bạn.

Ngày 8/10/2016, cháu bị bạn lừa vào kí kết hợp đồng với công ty đa cấp TNMU. Về nhà lên mạng tìm hiểu thì mới biết. Bên công ty bắt cháu phải mua sản phẩm trị giá 13 700 000. Công ty đã đưa cháu đến 1 chỗ vay vốn . lấy số tiền từ bên vay vốn bỏ vào công ty. Nhưng hiện tại vẫn chưa được cầm sản phẩm. Bây giờ biết được , cháu muốn hủy hợp đồng bên công ty và lấy lại số tiền 13 700 000 để trả cho bên vay vốn,liệu có được không ạ.

=> Trường hợp này phụ thuộc vào hợp đồng bạn bạn kí với công ty TNMU. Nếu trong hợp đồng có điều khoản về rủi ro khi đã chuyển tiền mà không nhận được hàng thì bạn mói có thể xin hủy hợp đồng được. Khi bạn có thể hủy hợp đồng thì bạn tiến hành trả tiền cho bên vay vốn hoàn toàn được.

Em vừa mua một chiếc xe attila elizabeth đời 2012 từ một chị trên web chotot.vn. Trong quá trình mua xe do chưa hiểu luật nên em bị lừa mua phải xe có giấy tờ giả. Chị đó có bán cho em với giá là 14.800.000. Em đã giao trước 14.500.000 để nhận xe và cà vẹt, trong lúc mua bán chỉ làm giấy bán xe và hẹn 2 ngày sau gặp chủ trước của xe để làm giấy tờ sang tên xe. Người bán cho em không phải là chính chủ xe, chỉ đứng ra viết giấy và để lại cmnd cùng địa chỉ. Vậy cho em hỏi giờ em muốn lấy lại số tiền đã mua xe thì em nên làm thế nào ?

=> Trường hợp này bạn cần xác nhận về việc người chủ ban đầu có ủy quyền cho người kia thực hiện giao dịch mua bán với bạn hay không. Nếu người chủ xe ban đầu có biết về việc mua bán và đồng ý thực hiện xác lập hợp đồng với bạn thì không bị coi là lừa đảo.

Nếu bạn muốn lấy lại số tiền trên thì bạn có thể khởi kiện người trực tiếp bán xe cho bạn yêu cầu thực hiện nghĩ vụ trả tiền vì theo giấy tờ pháp lý người đó không phải là chủ xe nên giao dịch này bị coi là vô hiệu.

Hồ sơ khởi kiện gồm:

- Đơn khởi kiện (Mẫu đơn)

- Các giấy tờ liên quan đến vụ kiện ( giấy tờ sở hữu nhà, đất, hợp đồng liên quan…)

- Đối với cá nhân: Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu (bản sao có công chứng).

- Đối với pháp nhân: Giấy tờ về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác như: giấy phép, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc ủy quyền đại diện doanh nghiệp (bản sao có công chứng).

- Bản kê các giấy tờ nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Lưu ý: Các giấy tờ nêu trên là văn bản, giấy tờ tiếng nước ngoài đều phải được dịch sang tiếng Việt Nam. Do cơ quan, tổ chức có chức năng dịch thuật, kèm theo bản gốc.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua mạng xã hội thì phải làm gì để lấy lại ? Cách làm đơn tố giác lừa đảo