Kính thưa quý khách hàng!

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Chúng tôi nhận được yêu cầu của quý khách liên quan đến nội dung cụ thể như sau:

NỘI DUNG YÊU CẦU

Kính gửi: Luật Minh Khuê!

Em kinh doanh bên lĩnh vực hoa lan, khoảng tháng 8/2020 mua 1 cây hoa lan giá trị 82tr. Năm 2021 khi cây nở hoa thì sai cây không như cây mua ban đầu, em có chuộc lại cây giá trị 600 triệu và liên hệ người bán, họ chấp nhận và em lấy 500tr họ lấy cây về làm video xin thu cây về hẹn ngày trả tiền, đến nay quá hạn 2 tháng không trả, em qua nhà lại hẹn 30/6 trả 100tr dần mỗi tháng đến song nợ, nay lai k trả, mọi thủ tục mua bán đều có video quay làm chứng cứ và cây gửi hình ảnh dk chủ cây xác nhận qua tin nhắn,sdt,masenge đầy đủ

Vậy em muốn hỏi bên bán cố ý bán và lừa như vậy có kiện được không và nộp đơn kiện ở công an huyện em hay nơi họ đang sinh sống.

Mong Luật Minh Khuê sớm phản hồi

Cảm ơn Luật sư!

TRẢ LỜI:

CƠ SỞ PHÁP LÝ

- Bộ luật dân sự 2015;

- Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017;

- Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

- Văn bản pháp luật khác;

NỘI DUNG TƯ VẤN

Qua thông tin, video của Qúy khách cung cấp có thể thấy bản chất của giao dịch này ban đầu chỉ là giao dịch mua bán hoa lan. Giao dịch mua bán hoa lan là giao dịch dân sự bình thường, giao dịch dân sự này có hiệu lực khi đáp ứng các điều kiện được quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 117. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.”

Theo quy định này, giao dịch mua bán hoa lan hay thỏa thuận của hai bên là hoàn lại tiền khi lan không đúng chủng loại như đã thỏa thuận ban đầu hoàn toàn phù hợp nếu đáp ứng các điều kiện:

- Các bên tham gia giao dịch có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự.

- Bên mua và bên bán tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

- Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Qua thông tin và video Qúy khách cung cấp, Luật Minh Khuê thấy rằng giao dịch của Qúy khách hoàn toàn đáp ứng các điều kiện trên (Tuy nhiên, Nếu còn thông tin nào Luật Minh Khuê hiểu chưa đúng, hoặc video chưa thể hiện đún/còn thiếu hoặc còn những thông tin khác khiến cho giao dịch này không đáp ứng các điều kiện nêu trên, Qúy khách vui lòng cung cấp thêm cho Luật Minh Khuê được biết).

Sau khi sự việc diễn ra, hiện tại bên bán (gọi tắt là A) vẫn còn nợ tiền Qúy khách. Đối với tình huống này sẽ có hai trường hợp xảy ra.

Trường hợp 1. A hứa về thời gian sẽ hoàn lại tiền cho Qúy khách. Tuy nhiên, hiện tại A không thể chi trả mặc dù A vẫn giữ liên lạc với Qúy khách. Trường hợp này, Qúy khách có thể làm hồ sơ khởi kiện A ra Tòa án nhân dân quận/huyện/thành phố nơi A đang sinh sống để đòi lại số tiền trên.

Hồ sơ khởi kiện gồm:

- Đơn khởi kiện.

- Bản sao Hợp đồng/video thỏa thuận giữa hai bên. (Luật Minh Khuê khuyến khích có văn bản thỏa thuận do hai bên ký.)

- Bản sao chứng thực Giấy tờ tùy thân như Chứng minh nhân dân, hộ chiếu, Căn cước công dân, sổ hộ khẩu… của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan…

- Các tài liệu, chứng cứ khác. (nếu có)

Trường hợp 2. A hứa về thời gian sẽ hoàn lại tiền cho Qúy khách. Tuy nhiên, hiện tại Qúy khách không thể liên hệ được với A. A đi khỏi địa phương hoặc trốn tránh Qúy khách nhằm chiếm đoạt số tiền này, không có ý định trả Qúy khách.

Trường hợp này Qúy khách làm đơn tố cáo ra cơ quan công an quận/huyện/thành phố nơi diễn ra giao dịch mua bán. Lúc này hành vi của A có dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều Điều 175 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Đối với trường hợp này, sự việc không còn dừng lại ở việc giao dịch mua bán dân sự nữa, lúc này hành vi trốn chạy của A có dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.

Trường hợp này Qúy khách soạn đơn tố cáo có đầy đủ nội dung theo quy định để tố cáo hành vi của A.

Mẫu đơn tố cáo:

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
--------------

.............., ngày ....... tháng ...... năm .......

ĐƠN TỐ CÁO

Kính gửi: - Công an Huyện …………….

- Viện kiểm sát nhân dân huyện

Tên tôi là: .................................................... Sinh ngày: ……………….

Địa chỉ:.......................................................................................................

CMND số: ……………………………… ngày cấp …….. Nơi cấp: …………

Số điện thoại............................................................................................................

Tôi làm đơn này tố cáo hành vi vi phạm pháp luật và đề nghị cơ quan tiến hành điều tra, khởi tố hình sự đối với hành vi của anh:

Họ và tên: ………………………………… Sinh năm: ………………………………

Địa chỉ: …………………………………………………….

CMND số: ……………………………… ngày cấp …….. Nơi cấp: …………

Vì đã có dấu hiệu của hành vi …………………………… (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản/ lừa đảo/ trộm cắp/ cố ý gây thương tích …). Nội dung vụ việc tôi xin trình bày như sau:

………………………………………………………………………………………………

Từ nội dung sự việc trên, có thể nhận thấy hành vi của anh có dấu hiệu của tội …. …………………. … theo điều …. Bộ luật hình sự. Để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của Tôi, Tôi kính đề nghị cơ quan có thẩm quyền:

  1. Xác minh, khởi tố hình sự điều tra vụ án theo pháp luật.
  2. Buộc anh trả lại ….. cho Tôi.

Tôi xin cam đoan những nội dung tố cáo trên là đúng sự thật và chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu cố tình tố cáo sai.

Người làm đơn Tố cáo

Bộ luật tố tụng hình sự quy định chặt chẽ về thời hạn tố tụng, trong đó có thời gian giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và được hướng dẫn chi tiết tại Điều 11 Thông tư liên tịch 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC. Theo đó, thời hạn giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm là 20 ngày, kể từ ngày Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiếp nhận tin báo, tố giác. Trường hợp vụ việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng. Trường hợp chưa thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh trong thời hạn quy định thì Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền có thể gia hạn một lần nhưng không quá 02 tháng.

Trước khi hết thời hạn nêu trên, Cơ quan điều tra phải ban hành một trong các quyết định:

Quyết định khởi tố vụ án hình sự;

Quyết định không khởi tố vụ án hình sự;

Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Như vậy, theo quy định pháp luật, thời hạn giải quyết tin báo, tố giác là 20 ngày và có thể gia hạn tối đa 02 lần, mỗi lần không quá 02 tháng. Tổng thời gian giải quyết tối đa là 04 tháng 20 ngày. Trường hợp cơ quan điều tra vi phạm thời hạn tố tụng, Quý khách có thể làm đơn đề nghị hoặc khiếu nại đến thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra để được giải quyết.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi vềTư vấn về giao dịch dân sự”. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và hồ sơ do quý khách cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để quý khách tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng cảm ơn!

Bộ phận tư vấn Pháp luật

Công ty Luật TNHH Minh Khuê