1. Thế nào là cấp tín dụng? Công ty chứng khoán được hiểu như nào?

Cấp tín dụng là một trong những hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng, là quá trình mà ngân hàng, tổ chức tín dụng cấp tiền cho khách hàng hoặc doanh nghiệp để sử dụng trong mục đích kinh doanh, đầu tư hoặc tiêu dùng. Trong quá trình cấp tín dụng, các tổ chức tín dụng sẽ xem xét và đánh giá khả năng tài chính, khả năng trả nợ và sự đáng tin cậy của khách hàng có nhu cầu cấp tín dụng. Dựa trên những thông tin đó, tổ chức tín dụng sẽ quyết định việc cấp tín dụng và xác định các điều khoản vay bao gồm lãi suất, thời hạn cho vay và phương thức trả nợ.

Cấp tín dụng có thể được thực hiện qua các hình thức như thẻ tín dụng, vay vốn cá nhân, vay vốn doanh nghiệp, hỗ trợ tài chính cho mua xe, mua nhà hoặc các dự án đầu tư khác.

Còn Công ty chứng khoán được hiểu là một loại công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính, cung cấp các dịch vụ liên quan đến giao dịch chứng khoán và các sản phẩm tài chính khác. Công ty chứng khoán thường cung cấp các dịch vụ như môi giới mua bán chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư, tư vấn đầu tư và nghiên cứu thị trường. Các công ty chứng khoán thường được cấp phép và quản lý bởi các cơ quan tài chính trong mỗi quốc gia.

2. Tổ chức tín dụng có được cấp tín dụng cho công ty chứng khoán không?

Để trả lời cho câu hỏi này thì chúng ta cần phải xem xét đến những trường hợp nào tổ chức tín dụng không được phép cấp tín dụng. Theo đó tại Điều 126 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017 có quy định rõ 6 trường hợp sau đây các tổ chức tín dụng không được cấp tín dụng, cụ thể:

- Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) và các chức danh tương đương của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, pháp nhân là cổ đông có người đại diện phần vốn góp là thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát của tổ chức tín dụng là công ty cổ phần, pháp nhân là thành viên góp vốn, chủ sở hữu của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn

- Cha, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) và các chức danh tương đương.

Lưu ý: những trường hợp trên sẽ không áp dụng đối với quỹ tín dụng nhân dân và trường hợp cấp tín dụng dưới hình thức phát hành thẻ tín dụng cho cá nhân.

- Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng cho khách hàng trên cơ sở bảo đảm của đối tượng quy định ở trên. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được bảo đảm dưới bất kỳ hình thức nào để tổ chức tín dụng khác cấp tín dụng cho đối tượng quy định trên đây.

- Tổ chức tín dụng không được cấp tín dụng cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát.

- Tổ chức tín dụng không được cấp tín dụng trên cơ sở nhận bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng.

- Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng để góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng.

Việc cấp tín dụng cho các trường hợp nêu trên bao gồm cả hoạt động mua, đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp 

Như vậy từ căn cứ trên có thể kết luận rằng, các tổ chức tín dụng không được phép cấp tín dụng cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán hay còn gọi là công ty chứng khoán mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát. Do vậy trong trường hợp công ty chứng khoán hoặc công ty khác mà đang kinh doanh, hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán nhưng không do tổ chức tín dụng mà công ty đó cấp tín dụng nắm quyền kiểm soát thì việc cấp tín dụng vẫn có thể được thực hiện như bình thường theo quy định.

3. Những trường hợp bị hạn chế cấp tín dụng

Hạn chế cấp tín dụng là một phương pháp hoặc một chính sách được áp dụng để giới hạn hoặc hạn chế việc cấp tín dụng cho một cá nhân hoặc một tổ chức. Điều này có thể được thực hiện bởi một ngân hàng hoặc một tổ chức tín dụng để đảm bảo rằng người vay phải có khả năng trả nợ và không gây rủi ro cho nhà cung cấp tín dụng. Hạn chế cấp tín dụng có thể dựa trên nhiều yếu tố như thu nhập, hồ sơ tín dụng, tỷ lệ nợ trên thu nhập và các yếu tố khác.

Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Các tổ chức tín dụng năm 2017 có quy định một số trường hợp cụ thể, tổ chức tín dụng phải hạn chế, không được cấp tín dụng không có bảo đảm, cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi cho những đối tượng sau đây:

- Tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên đang kiểm toán tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; thanh tra viên đang thanh tra tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

- Kế toán trưởng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Chủ tịch và thành viên khác của Hội đồng quản trị, Trưởng ban và thành viên khác của Ban kiểm soát, Giám đốc, Phó giám đốc và các chức danh tương đương của quỹ tín dụng nhân dân

- Cổ đông lớn, cổ đông sáng lập

- Doanh nghiệp có một trong những đối tượng sau đây có sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó:

+ Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) và các chức danh tương đương của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, pháp nhân là cổ đông có người đại diện phần vốn góp là thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát của tổ chức tín dụng là công ty cổ phần, pháp nhân là thành viên góp vốn, chủ sở hữu của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn

+ Cha, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) và các chức danh tương đương.

- Người thẩm định, xét duyệt cấp tín dụng

- Các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát.

Đối với những trường hợp cấp tín dụng cho tất cả các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát có tổng mức dư nợ cấp tín dụng không được vượt quá 20% vốn tự có của tổ chức tín dụng. Còn đối với một trong những đối tượng trên thì không được vượt quá 10% vốn tự có của tổ chức tín dụng. Tổng mức dư nợ cấp tín dụng sẽ bao gồm cả tổng mức mua, đầu tư vào trái phiếu do các đối tượng trên phát hành. 

Đối với những trường hợp ncòn lại thì tổng mức dư nợ cấp tín dụng không được vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng. Tổng mức dư nợ cấp tín dụng này bao gồm cả tổng mức mua, đầu tư trái phiếu do các đối tượng quy định tại điểm a, c, d khoản 1 Điều 127 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Việc cấp tín dụng cho các đối tượng này phải được Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của tổ chức tín dụng thông qua và công khai trong tổ chức tín dụng. 

Quý khách có thể tham khảo thêm bài viết: Quy định về giới hạn cấp tính dụng? Điều kiện cấp tín dụng vượt giới hạn là gì?

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Tổ chức tín dụng có được cấp tín dụng cho công ty chứng khoán không? do Công ty Luật Minh Khuê biên soạn và muốn gửi đến quý khách mang tính chất tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc!

Nếu quý khách có nhu cầu muốn báo phí dịch vụ, quý khách hãy vui lòng gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất. Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!