Mục lục bài viết
>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162
1. Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ được quy định như thế nào?
Điều 124. Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ1. Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con do mình đẻ ra trong 07 ngày tuổi, thì bị phạt tù từ 06 thảng đến 03 năm.2. Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà vứt bỏ con do mình đẻ ra trong 07 ngày tuổi dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết, thỉ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 nằm.
2. Bình luân
Điều luật gồm 02 khoản. Trong đó, khoản 1 quy định trường hợp giết con mới đẻ và khoản 2 quy định trường hợp vứt bỏ con mới đẻ. Hai trường hợp phạm tội này đã được quy định trong BLHS năm 1999 nhưng dưới tội danh “giết con mới đẻ” (Điều 93) và tội danh này không bao quát được cả hai trường hợp phạm tội. Do vậy, BLHS năm 2015 đã sửa đổi thành tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ. Sự sửa đổi này đã khắc phục phần nào hạn chế của Điều 93 BLHS năm 1999 về kỹ thuật đặt tên tội. Tuy nhiên sự sửa đổi này vẫn chưa khắc phục triệt đế các hạn chế.
2.1 Dấu hiệu chủ thế của tội phạm
Chủ thể của tội giết con mới đẻ là người mẹ trong mối quan hệ với nạn nhân và đang còn trong trạng thái mới sinh con, nghĩa là còn đang trong trạng thái tâm, sinh lý chưa bình thường do ảnh hưởng của việc sinh con. Xác định trạng thái này ở từng trường hợp cụ thể không đơn giản. Do vậy, các hướng dẫn, giải thích trước đây về dấu hiệu này đều quy định khoảng thời gian 07 ngày sau khi sinh là khoảng thời gian mà người mẹ được coi còn trong trạng thái mới sinh con. BLHS năm 2015 đã xác định nội dung hướng dẫn này là dấu hiệu định tội của tội danh. Cụ thể: Điều luật xác định, nạn nhân của tội giết con mới đẻ phải là trẻ sơ sinh do người phạm tội sinh ra và còn trong vòng 07 ngày tuổi.
Theo Điều 12 BLHS, chủ thể của tội giết con mới đẻ là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS
2.2 Dấu hiệu hậu quả của tội phạm
Hậu quả của tội phạm được quy định ở tội giết con mới đẻ là hậu quả chết người như ở tội giết người. Để truy cứu trách nhiệm hình sự người mẹ về hậu quả này, đòi hỏi phải có QHNQ giữa hành vi khách quan của người mẹ và hậu quả đứa trẻ chết.
2.3 Dấu hiệu lỗi của chủ thể
Hành vi “giết con mới đẻ” thể hiện lỗi của chủ thể là lỗi cố ý như ở tội giết người.
Dấu hiệu động cơ phạm tội
Theo quy định của điều luật, việc giết con là do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc do hoàn cảnh khách quan đặc biệt khác. Neu người mẹ thực hiện việc giết con không phải vì động cơ này như giết con trai mới sinh để trả thù nhà chồng V.V.. thì hành vi phạm tội không thuộc tội danh giết con mới đẻ.
Theo khoản 1, khung hình phạt được quy định cho tội giết con mới đẻ là phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Khung hình phạt này nhẹ hơn so với các khung hình phạt của tội giết người (Điều 123 BLHS) vì đây là trường hợp giảm nhẹ đặc biệt do sự hạn chế của mức độ lỗi. Trước hết, chủ thể của tội phạm là người đang trong tình trạng năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi theo đòi hỏi của xã hội đều bị hạn chế do khách quan (do sinh con) mà hoàn toàn không có lỗi của họ. Hơn nữa, việc họ phạm tội không xuất phát từ động cơ “xấu” bên trong mà do “áp lực” bên ngoài.
Dấu hiệu chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội vứt bỏ con mới đẻ có đặc điểm giống như chủ thể của tội giết con mới đẻ. Theo đó, nạn nhân của tội phạm này cũng giống như nạn nhân của tội giết con mới đẻ.
2.4 Khách thể của tội phạm
Giết con mới đẻ là hành vi của người mẹ mới đẻ con ra trong 7 ngày tuổi vì lý do nào đó đã làm con mình bị chết. Vứt bỏ con mới đẻ là hành vi của người mẹ mới đẻ con trong 7 ngày tuổi vì lý do nào đó đã bỏ con ở một nơi nào đó, không chăm sóc đứa trẻ dẫn đến đứa trẻ chết.
Tôi phạm trực tiếp xâm phạm quyền sống của con người. Ngoài ra, tội phạm còn xâm phạm nghiêm trọng đạo đức xã hội, đó là tình mẫu tử, xâm phạm Công ước quốc tế về quyền trẻ em mà Việt Nam đã phê chuẩn tham gia.
2.5 Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm
Hành vi khách quan của tội vứt bỏ con mới đẻ là hành vi vứt bỏ con mới đẻ. Hành vi này được hiểu là hành vi của người mẹ để đứa trẻ ở nơi xa rời sự chăm sóc của mình.
Hành vi khách quan của tội giết con mới đẻ có nội dung tương tự như hành vi khách quan của tội giết người. Đó là hành động hoặc không hành động của người mẹ có khả năng chấm dứt sự sống của đứa con (còn trong vòng 07 ngày tuổi) như hành động làm ngạt thở hay không hành động không cho bú V.V..
Tội giết con mới đẻ thực hiện bằng hành động như: bóp cổ, thắt cổ, đâm, chém, chôn đứa trẻ… Hành vi nói trên cũng có thể được thực hiện bằng hành động như người mẹ của đứa trẻ không cho con mình bú sữa vì một nguyên nhân nào đó; không cho con đang ốm uống thuốc dẫn đến đứa trẻ chết.
Hành vi vứt bỏ con mới đẻ thể hiện sau khi đẻ ra người mẹ đã bỏ con mình ở một nơi nào đó như ngoài chợ, bệnh viện, chùa… Đây là trường hợp người mẹ có thái độ tuy không mong muốn đứa trẻ chết nhưng để mặc cho hậu quả xảy ra.
Con mới đẻ là trường hợp đứa trẻ phải chính do người phụ nữ đó đẻ ra chứu không phải con nuôi và mới sinh ra trong vòng 7 ngày tuổi trở lại, nếu ngoài 7 ngày tuổi thì không bị coi là phạm tội này.
Người phụ nữa giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ con mới đẻ do ảnh hưởng từ tư tưởng lạc haaij như tin vào bói toán, thần thánh cho là phải giết con thì mới không bị con ma quấy phá, sợ dư luận xã hội ở địa phương… Hoàn cảnh khách quan đặc biệt như người phụ nữ đẻ con ra bị dị tật quá nặng hoặc do tình trạng một thân một mình, quá nghèo đói không đủ để nuôi sống chính mình, đang bị bênh tật…
Hậu quả xảy ra đứa trẻ chết là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này cần xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của người mẹ và hậu quả đứa trẻ chết. Nếu người mẹ vứt bỏ đứa trẻ nhưng dược người khác phát hiện kịp thời nên đứa trẻ không chết thì người mẹ không phạm tội này.
- Dấu hiệu hậu quả của tội phạm
Điều luật quy định, hành vi vứt bỏ “dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết”. Đứa trẻ chết là do bị mẹ “vứt bỏ” (để ở nơi xa rời sự chăm sóc của người mẹ). Như vậy, hậu quả chết người cũng như QHNQ giữa hậu quả này với hành vi vứt bỏ là các dấu hiệu của tội vứt bỏ con mới đẻ.
- Dấu hiệu lỗi của chủ thể
Theo quy định của điều luật, lỗi của chủ thể đối với hành vi vứt bỏ là lỗi cố ý. Hành vi phạm tội này được quy định cùng với hành vi giết con mới đẻ trong cùng điều luật nên lỗi của chủ thể không thể là lỗi vô ý khi lỗi của chủ thể ở hành vi giết con mới đẻ đã được xác định là lỗi cố ý. Vấn đề đặt ra ở đây là cần trả lời câu hỏi: Lỗi cố ý ở giết con mới đẻ và lỗi cố ý ở vứt bỏ con mới đẻ có sự khác nhau không? Hiện có hai quan điểm không thống nhất với nhau. Trong Giáo trình Luật hình sự của Trung tâm đào tạo từ xa của Đại học Huế (nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2001) và Giáo trình Luật hình sự của trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (nhà xuất bản. Đại học quốc gia Hà Nội năm 2016), các tác giả cho rằng, lỗi của chủ thể đối với giết con mới đẻ cũng như đối với vứt bỏ con mới đẻ đều có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Trong khi đó, Giáo trình Luật hình sự của Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội và Giáo trình Luật hình sự của trường Đại học Luật Hà Nội đều khẳng định, lỗi của chủ thể đối với vứt bỏ con mới đẻ chỉ có thể là cố ý gián tiếp; nếu vứt bỏ con mới đẻ mà lại mong muốn đứa trẻ chết (cố ý trực tiếp) thì hành vi phạm tội phải bị xem là giết con mới đẻ. Tác giả cho rằng, hành vi không cho bú với mong muốn đứa trẻ chết và hành vi bỏ dựa trẻ ngoài đường với mong muốn đứa trẻ chết không có gì khác nhau về tính chất và mức độ nguy hiểm nên không thể coi trường hợp “không cho bú” là giết con mới đẻ có khung hình phạt là phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm và “bỏ đứa trẻ ngoài đường” là vứt bỏ con mới đẻ có khung hình phạt nhẹ hơn là phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Điều này cho phép giải thích lỗi của chủ thể trong trường hợp phạm tội vứt bỏ con mới đẻ là lỗi cố ý gián tiếp. Tất cả các trường họp mong muốn đứa trẻ chết đều bị coi là giết con mới đẻ. Chỉ được coi là “vứt bỏ” khi chủ thể không mong muốn mà chỉ chấp nhận hậu quả đứa trẻ chết.
Với cách hiểu như vậy, ở tội vứt bỏ con mới đẻ không có phạm tội chưa đạt (không có phạm tội chưa đạt ở trường hợp có lỗi cố ý gián tíếp).
Theo khoản 2, khung hình phạt được quy định cho tội vứt bỏ con mới đẻ là phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Khung hình phạt này nhẹ hơn so với các khung hình phạt của tội giết người (Điều 123) cũng như nhẹ hơn so với khung hình phạt của giết con mới đẻ (khoản 1 Điều 124). Ngoài các lý do giảm nhẹ như đã được trình bày ở trường họp giết con mới đẻ, ở trường hợp này còn có lý do là chủ thể có phần hy vọng đứa trẻ được nuôi dưỡng mặc dù vẫn chấp nhận hậu quả đứa trẻ chết.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê
(3).jpg)