Trong bài viết này, Luật Minh Khuê phân tích chuyên sâu và toàn diện về Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc được quy định tại Điều 311 của Bộ luật Hình sự (BLHS) Việt Nam năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025). Phạm vi nghiên cứu bao gồm việc tổng hợp và phân tích các văn bản pháp luật có liên quan, so sánh các tiêu chí định lượng, đánh giá thực tiễn xét xử thông qua các bản án. Mục tiêu của bài viết là cung cấp một cái nhìn khách quan, đa chiều về vấn đề này, từ đó đề xuất các hướng nghiên cứu và giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế thực thi.

Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc là hành vi làm ra, cất giữ, di chuyển, dùng hoặc mua bán các chất này mà không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Mặc dù pháp luật chưa có định nghĩa cụ thể về "chất cháy" và "chất độc" trong BLHS, nhưng các văn bản pháp luật khác như Luật Hóa chất đã định nghĩa "hóa chất" là đơn chất, hợp chất, hỗn hợp chất do con người tạo ra hoặc khai thác từ tự nhiên. Theo đó, "hóa chất nguy hiểm" là hóa chất có khả năng gây hại cho con người, tài sản và môi trường.

Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc là một trong những tội phạm quan trọng được quy định trong Bộ luật Hình sự Việt Nam. Tội danh này có vai trò bảo vệ khách thể là trật tự quản lý của Nhà nước đối với các loại chất nguy hiểm này, đồng thời bảo vệ an toàn công cộng.

 

1. Các yếu tố cấu thành tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc

- Khách thể: Là trật tự quản lý của Nhà nước đối với chất cháy, chất độc và trật tự an toàn công cộng.

- Mặt khách quan: Thể hiện qua các hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép các chất này. "Sản xuất trái phép" là hành vi làm ra chất cháy, chất độc bằng thủ công hoặc công nghệ mà không được phép. "Tàng trữ trái phép" là cất giữ các chất này bất kể tại nơi ở, nơi làm việc, hay mang theo người. "Vận chuyển trái phép" là di chuyển các chất này từ nơi này đến nơi khác, từ người này sang người khác. Tội phạm này thuộc loại tội phạm hình thức, được coi là hoàn thành ngay từ thời điểm người thực hiện có một trong các hành vi trên, không phụ thuộc vào việc hậu quả có thực sự xảy ra hay không. Hậu quả chỉ là một tình tiết định khung tăng nặng, không phải là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm.

- Chủ thể: Là bất kỳ cá nhân nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

- Mặt chủ quan: Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý.

 

2. Khung hình phạt tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc

Nội dung Điều 311 Bộ luật hình sự năm 2015 được quy định như sau:

Điều 311. Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc

1. Người nào sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép chất cháy, chất độc, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

c) Hóa chất độc thuộc Bảng 3 Công ước cấm phát triển sản xuất, tàng trữ, sử dụng và phá hủy vũ khí hóa học;

d) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

g) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

h) Tái phạm nguy hiểm.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Hóa chất độc thuộc Bảng 2 Công ước cấm phát triển sản xuất, tàng trữ, sử dụng và phá hủy vũ khí hóa học;

b) Làm chết 02 người;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

đ) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Hóa chất độc thuộc Bảng 1 Công ước cấm phát triển sản xuất, tàng trữ, sử dụng và phá hủy vũ khí hóa học;

b) Làm chết 03 người trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

đ) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

Theo điểm 113 Điều 1 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017 đã sửa đổi Điều 311 như sau:

113. Sửa đổi, bổ sung Điều 311 như sau:

“Điều 311. Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc

1. Người nào sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Vật phạm pháp có số lượng lớn;

c) Làm chết người;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

e) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

g) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Vật phạm pháp có số lượng rất lớn;

b) Làm chết 02 người;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Vật phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn;

b) Làm chết 03 người trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.”.

2.1 Khung hình phạt chính và hình phạt bổ sung

Điều 311 BLHS quy định các khung hình phạt lũy tiến tương ứng với mức độ nghiêm trọng của hành vi, bao gồm cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung:

- Khoản 1: Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm đối với hành vi cơ bản.

- Khoản 2: Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm khi có các tình tiết tăng nặng như:

  • Gây thương tích/tổn hại sức khỏe 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% trở lên.
  • Gây thương tích/tổn hại sức khỏe 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% trở lên.

- Khoản 3: Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm khi có các tình tiết tăng nặng như:

  • Có tổ chức.
  • Vận chuyển, mua bán qua biên giới; tái phạm nguy hiểm.
  • Làm chết 01 người hoặc gây thương tích/tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
  • Gây thương tích/tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%. 
  • Gây thương tích/tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%.
  • Gây thiệt hại tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

- Khoản 4: Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm khi có các tình tiết tăng nặng như:

  • Làm chết 02 người.
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên.
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người  với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 122% đến 200%.
  • Gây thiệt hại tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

- Khoản 5: Phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân khi có các tình tiết tăng nặng:

  • Làm chết 03 người trở lên.
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên.
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể 201% trở lên.
  • Gây thiệt hại tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

- Hình phạt bổ sung (Khoản 6): Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

Bên cạnh các tình tiết định khung tăng nặng, Tòa án cũng có thể xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 BLHS. Trong thực tiễn xét xử, các tình tiết như "có công với cách mạng", "hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn" và "tham gia chiến tranh" có thể được Tòa án chấp nhận để giảm nhẹ hình phạt, như đã thể hiện trong Bản án 158/2021/HS-PT.

2.2 Tham khảo hình phạt qua các bản án thực tiễn 

Phân tích các bản án thực tế cung cấp cái nhìn rõ nét về cách Tòa án áp dụng các quy định của Điều 311 và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.

- Bản án 158/2021/HS-PT về tội Mua bán, vận chuyển trái phép chất độc: Trong bản án này, bị cáo Nguyễn V bị xét xử về tội mua bán, vận chuyển trái phép chất độc Natri Xyanua (NaCN). Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo 18 tháng tù. Tại phiên phúc thẩm, Tòa án đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ mới được đưa ra, bao gồm việc bị cáo có công với cách mạng (tham gia chiến tranh, làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia) và hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn (vợ ốm nặng, nuôi hai cháu khuyết tật). Dựa trên những tình tiết này, Tòa án phúc thẩm đã chấp nhận kháng cáo và giảm án từ 18 tháng xuống còn 12 tháng tù. Quyết định này minh họa cho việc Tòa án Việt Nam có thể xem xét toàn diện nhân thân và hoàn cảnh của bị cáo để đưa ra bản án phù hợp, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự.

- Bản án 08/2022/HS-PT về tội Tàng trữ, vận chuyển trái phép vật liệu nổ: Trong vụ án này, bị cáo Đinh Quang P bị truy tố và xét xử theo Điều 305 BLHS, không phải Điều 311, do vật phẩm phạm pháp là "vật liệu nổ" (thuốc nổ nhũ tương và kíp nổ). Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo 01 năm tù. Tại phiên phúc thẩm, Tòa án đã bác bỏ đề nghị của luật sư về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ "phạm tội nhưng chưa gây hậu quả." Tòa án lập luận rằng hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội danh này mà chỉ là tình tiết định khung tăng nặng, do đó không thể áp dụng là tình tiết giảm nhẹ. Quyết định này một lần nữa khẳng định bản chất hình thức của tội phạm và sự chặt chẽ trong việc phân loại tội danh dựa trên đối tượng tác động.

 

3. Phân biệt với các tội danh liên quan 

Pháp luật hình sự Việt Nam có sự phân định rõ ràng giữa các tội danh liên quan đến vật liệu nguy hiểm. Việc phân biệt chính xác giúp áp dụng đúng quy định pháp luật và tránh bỏ lọt tội phạm. Bảng dưới đây trình bày điểm khác biệt giữa các tội danh này:

Tiêu chí Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc (Điều 311 BLHS) Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ (Điều 305 BLHS) Tội vi phạm quy định về quản lý chất cháy, chất độc (Điều 312 BLHS)
Hành vi

Sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép

Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt

Vi phạm quy định về quản lý việc sản xuất, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển, mua bán hoặc xử lý

Đối tượng tác động

Chất cháy, chất độc, bao gồm các loại hóa chất có khả năng gây hại cho con người, tài sản, môi trường

Vật liệu nổ, bao gồm thuốc nổ và phụ kiện nổ, là những sản phẩm tạo ra phản ứng nổ khi có xung kích thích

Chất cháy, chất độc

Tính chất tội phạm

Tội phạm hình thức: hoàn thành khi có hành vi, không phụ thuộc vào hậu quả

Tội phạm hình thức: hoàn thành khi có hành vi, không phụ thuộc vào hậu quả

Tội phạm vật chất: chỉ cấu thành khi gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho người khác

Khung hình phạt chính Phạt tù từ 01 năm đến tù chung thân Phạt tù từ 01 năm đến tù chung thân

Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm (khung cơ bản)

Hình phạt bổ sung Phạt tiền từ 5-50 triệu đồng; phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 1-5 năm Phạt tiền từ 10-50 triệu đồng; phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 1-5 năm Phạt tiền từ 10-50 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1-5 năm

 

4. So sánh với pháp luật quốc tế 

Pháp luật Việt Nam về tội phạm chất cháy, chất độc có những điểm tương đồng và khác biệt đáng chú ý so với pháp luật của một số quốc gia khác. Bảng dưới đây so sánh một số tiêu chí chính của hệ thống pháp luật của Việt Nam, Đức và Singapore.

Tiêu chí Việt Nam Cộng hòa Liên bang Đức Cộng hòa Singapore
Pháp luật liên quan Bộ luật Hình sự (Điều 311)

Luật về Chất nổ (Sprengstoffgesetz - SprengG) và Bộ luật Hình sự (

Strafgesetzbuch - StGB)

Đạo luật về Thuốc độc (Poisons Act 1938) và Đạo luật Lạm dụng Thuốc (

Misuse of Drugs Act 1973)

Cách tiếp cận

Xử lý trong nhóm tội phạm xâm phạm trật tự công cộng, phân biệt rõ với tội phạm về ma túy

Tiếp cận đa tầng, kết hợp quản lý hành chính chặt chẽ các "tiền chất nổ" (explosives precursors) với chế tài hình sự nghiêm khắc

Đề cao sự trấn áp, coi một số hành vi phạm tội liên quan đến chất độc là vấn đề nghiêm trọng tương tự ma túy

Chế tài/Hình phạt

Phạt tù từ 01 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân, có hình phạt bổ sung

Phạt tù không dưới 01 năm hoặc phạt tiền, tùy thuộc vào mức độ nguy hiểm

Phạt tiền lên đến 1 triệu SGD và phạt tù dài hạn đối với cả cá nhân và tổ chức 

 

5. Thực trạng tội phạm ở Việt Nam và kiến nghị giải pháp 

5.1. Thực trạng tội phạm ở Việt Nam

Tội phạm liên quan đến chất cháy, chất độc gây ra những hậu quả nghiêm trọng, đa chiều đối với môi trường, sức khỏe con người và an ninh xã hội. Mặc dù không có số liệu thống kê riêng biệt, các vụ án đã cho thấy tính chất nguy hiểm của tội phạm này. Cụ thể, các hành vi thải bỏ hóa chất độc hại một cách trái phép là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí. Hóa chất có thể ngấm sâu vào đất, gây hại cho cây trồng và toàn bộ hệ sinh thái, hoặc tồn tại trong trầm tích sông, hồ hàng chục năm. Chi phí khắc phục các sự cố này là rất lớn, bao gồm chi phí xử lý nước thải, khí thải, và tẩy độc đất.

Về sức khỏe, các chất độc có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, tiếp xúc da, hoặc đường miệng, gây ra các tác động từ tức thời như nôn mửa, chóng mặt, co giật đến những tổn thương nghiêm trọng và kéo dài cho tim, não, và hệ thần kinh. Các vụ nổ hóa chất lớn trên thế giới, như vụ nổ tại cảng Beirut (Liban) hay kho hóa chất Thiên Tân (Trung Quốc), đã gây ra thảm họa về người và của, làm hàng chục nghìn người mất nhà cửa và gây thiệt hại kinh tế lên tới hàng tỷ USD. Những vụ việc này cho thấy hành vi phạm tội không chỉ đơn thuần là vi phạm pháp luật mà còn là thách thức lớn đối với an ninh quốc gia, gây hoang mang trong dân cư.

5.2. Kiến nghị giải pháp 

Để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm liên quan đến chất cháy, chất độc, cần có các giải pháp đồng bộ từ việc hoàn thiện hệ thống pháp luật đến tăng cường cơ chế thực thi.

  • Hoàn thiện pháp luật: Cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết để làm rõ các tiêu chí định lượng "số lượng lớn" và "số lượng rất lớn" cho chất cháy, chất độc, nhằm đảm bảo tính thống nhất và công bằng trong quá trình xét xử.
  • Kiểm soát tiền chất: Học hỏi mô hình của Đức, xây dựng một cơ chế quản lý chặt chẽ hơn đối với các loại hóa chất tiền chất có thể được sử dụng để sản xuất chất cháy, chất độc trái phép.
  • Tăng cường quản lý: Xây dựng một cơ chế quản lý chặt chẽ các hóa chất nguy hiểm và tiền chất.
  • Nâng cao năng lực thực thi: Cần tăng cường năng lực cho các lực lượng thực thi pháp luật, đặc biệt là trong việc phát hiện, điều tra và xử lý các vụ án liên quan đến hóa chất, chất cháy, chất độc. Điều này bao gồm việc đầu tư vào công nghệ giám định, trang thiết bị chuyên dụng và đào tạo chuyên sâu cho cán bộ.
  • Xử lý tương tự tội phạm ma túy: Cân nhắc việc xử lý một số loại hóa chất độc hại đặc biệt nghiêm trọng tương tự như tội phạm ma túy, áp dụng các chế tài nghiêm khắc hơn để tăng tính răn đe, theo mô hình của Singapore.

Kết luận

Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc là một loại tội phạm phức tạp, có tính liên ngành cao, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của nhiều lĩnh vực. Pháp luật Việt Nam đã có những quy định tương đối cụ thể tại Điều 311 BLHS và các văn bản liên quan, thể hiện sự coi trọng công tác quản lý các chất nguy hiểm và bảo đảm trật tự an toàn công cộng.

Tuy nhiên, bài viết này đã chỉ ra một số điểm còn thiếu hoặc chưa rõ ràng, đặc biệt là sự thiếu hụt các văn bản hướng dẫn chi tiết về tiêu chí định lượng cho các mức độ "số lượng lớn" và "số lượng rất lớn," có thể gây khó khăn trong thực tiễn áp dụng. Việc phân tích án lệ cũng làm nổi bật tầm quan trọng của việc phân biệt chính xác đối tượng tác động của tội phạm, cũng như việc Tòa án xem xét toàn diện các tình tiết giảm nhẹ để đưa ra phán quyết công bằng.

Phân tích pháp luật so sánh với Đức và Singapore cho thấy các cách tiếp cận khác nhau trong việc quản lý và xử lý các hành vi này, từ đó mở ra những gợi ý quý báu cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. Cuối cùng, việc nhận thức đầy đủ về hậu quả đa chiều của tội phạm - không chỉ về mặt pháp lý mà còn đối với môi trường, sức khỏe và an ninh xã hội - là yếu tố then chốt để xây dựng một chiến lược phòng ngừa và xử lý toàn diện, hiệu quả hơn trong tương lai.

Mọi vướng mắc pháp lý vui lòng liên hệ với Công ty Luật  Minh Khuê qua số Luật sư tư vấn pháp luật hình sự hotline: 1900.6162 để hỗ trợ khách hàng khi có yêu cầu. Trân trọng !