Tội vi phạm quy định về quản lý chất cháy, chất độc được quy định tại Điều 312 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), là một trong những tội danh quan trọng nhằm xử lý các hành vi thiếu trách nhiệm, cẩu thả trong quản lý các chất nguy hiểm này. Bài viết này sẽ đi sâu phân tích một cách toàn diện, có hệ thống về tội danh, từ cơ sở lý luận, cấu thành pháp lý, đến những vấn đề còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, nhằm cung cấp một tài liệu tham khảo chuyên sâu và học thuật.

Tội vi phạm quy định về quản lý chất cháy, chất độc được định nghĩa tại Khoản 1, Điều 312 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) như sau: "Người nào vi phạm quy định về quản lý việc sản xuất, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển, mua bán hoặc xử lý chất cháy, chất độc gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp... thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự".

Về bản chất pháp lý, đây là một tội phạm thuộc nhóm các tội xâm phạm trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực sản xuất, lưu thông các chất nguy hiểm. Khách thể trực tiếp của tội phạm là các quy định của Nhà nước về quản lý chất cháy, chất độc, được ban hành nhằm đảm bảo an toàn, bảo vệ tính mạng, sức khỏe con người và tài sản của Nhà nước, tổ chức, cá nhân.

Một trong những đặc điểm nổi bật nhất của tội danh này là cấu thành tội phạm vật chất. Điều này có nghĩa là tội phạm chỉ được coi là hoàn thành khi hậu quả nghiêm trọng đã thực sự xảy ra, bao gồm hậu quả về tính mạng, sức khỏe con người hoặc thiệt hại về tài sản. Nếu hành vi vi phạm chưa dẫn đến hậu quả, người thực hiện sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự mà có thể bị xử phạt vi phạm hành chính.

Hậu quả nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm vật chất của Điều 312. Hậu quả này có thể là về tính mạng, sức khỏe của con người (chết, thương tích) hoặc thiệt hại nghiêm trọng về tài sản. Nếu hành vi vi phạm quy định nhưng không gây ra hậu quả, người thực hiện sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả là một trong những thách thức lớn nhất trong thực tiễn điều tra và xét xử tội danh này. Mối quan hệ nhân quả trong luật hình sự được hiểu là mối liên hệ tất yếu, trực tiếp, trong đó hành vi nguy hiểm (vi phạm quy định) đóng vai trò là nguyên nhân và hậu quả nguy hại (chết người, thương tích, thiệt hại tài sản) đóng vai trò là kết quả. Việc đánh giá này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan điều tra, giám định kỹ thuật và cơ quan xét xử. Ví dụ, trong một vụ nổ kho hóa chất, phải chứng minh được nguyên nhân trực tiếp gây ra vụ nổ là do lỗi trong quá trình bảo quản, lưu trữ (vi phạm quy định), chứ không phải do một yếu tố khách quan khác như thiên tai, sự cố kỹ thuật bất khả kháng. Tương tự, đối với các chất độc, việc chứng minh mối quan hệ này còn phức tạp hơn, vì hậu quả có thể không xuất hiện ngay lập tức mà sau một thời gian dài phơi nhiễm.

 

1. Cấu thành tội vi phạm quy định về quản lý chất cháy, chất độc

Tội vi phạm quy định về quản lý chất cháy, chất độc cũng như mọi tội phạm khác đều có bốn yếu tố cấu thành:

Chủ thể của tội phạm 

Là cá nhân có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tức là từ đủ 16 tuổi trở lên và không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi. Trong thực tiễn, chủ thể của tội danh này thường là những người có trách nhiệm quản lý, điều hành các hoạt động liên quan đến chất cháy, chất độc, như quản lý kho bãi, cơ sở sản xuất, vận chuyển.

Khách thể của tội phạm

Là những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Đối với tội danh này, khách thể là sự an toàn công cộng và trật tự quản lý của Nhà nước đối với việc sản xuất, kinh doanh, sử dụng các chất nguy hiểm. Các hành vi phạm tội đã xâm hại đến các quy định quản lý này và gây ra hậu quả nghiêm trọng.

Mặt khách quan của tội phạm

Bao gồm hành vi và hậu quả.

  • Hành vi: Là các hành vi vi phạm quy định quản lý trong một hoặc nhiều lĩnh vực như sản xuất, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển, mua bán hoặc xử lý chất cháy, chất độc.
  • Hậu quả: Hậu quả nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc. Bộ luật Hình sự quy định các mức hậu quả cụ thể, bao gồm: làm chết người, gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể nhất định, hoặc gây thiệt hại về tài sản.

Mặt chủ quan của tội phạm

Đây là yếu tố quan trọng và có sự không thống nhất trong các quan điểm pháp lý. Một số quan điểm cho rằng lỗi của tội danh này là cố ý. Tuy nhiên, một phân tích chuyên sâu hơn cho thấy lỗi của tội phạm này phải là vô ý.

Sự thiếu thống nhất này có thể được giải thích như sau: Nếu người phạm tội có lỗi cố ý (cố ý trực tiếp hoặc gián tiếp) trong việc gây ra hậu quả chết người hoặc thiệt hại tài sản, hành vi của họ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội danh nghiêm trọng hơn, chẳng hạn như Tội giết người (Điều 123), Tội cố ý gây thương tích (Điều 134) hoặc Tội hủy hoại tài sản (Điều 178). Ví dụ, một người cố ý phóng hỏa kho hóa chất để gây cháy nổ, làm chết người, sẽ bị truy tố về Tội giết người và Tội hủy hoại tài sản, chứ không phải Tội vi phạm quy định về quản lý chất cháy.

Do đó, bản chất lỗi của tội danh tại Điều 312 phải là vô ý, có thể dưới hình thức vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả. Tức là, người phạm tội đã vi phạm các quy định quản lý, nhưng họ không mong muốn hậu quả xảy ra, thậm chí tin tưởng rằng hậu quả sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được, mặc dù họ phải thấy trước và có khả năng thấy trước hậu quả đó. Việc làm rõ yếu tố lỗi vô ý là điểm mấu chốt để phân biệt tội danh này với các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản có lỗi cố ý.

 

2. Khung hình phạt tội vi phạm quy định về quản lý chất cháy, chất độc

Điều 312 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội danh này như sau:

Điều 312. Tội vi phạm quy định về quản lý chất cháy, chất độc

1. Người nào vi phạm quy định về quản lý việc sản xuất, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển hoặc mua bán chất cháy, chất độc thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Làm chết 02 người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người vi phạm quy định về quản lý việc sản xuất, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển hoặc mua bán chất cháy, chất độc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Tại Điểm 114 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã sửa đổi Điều 312 như sau:

114. Sửa đổi, bổ sung Điều 312 như sau:

“Điều 312. Tội vi phạm quy định về quản lý chất cháy, chất độc

1. Người nào vi phạm quy định về quản lý việc sản xuất, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển, mua bán hoặc xử lý chất cháy, chất độc gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Làm chết 02 người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”.

Điều 312 Bộ luật Hình sự quy định ba khung hình phạt chính dựa trên mức độ nghiêm trọng của hậu quả:

- Khung 1: Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Áp dụng khi tội phạm gây ra một trong các hậu quả sau:

  • Làm chết 01 người.
  • Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên.
  • Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% đến 121%.
  • Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

- Khung 2: Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm. Áp dụng khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp:

  • Làm chết 02 người.
  • Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 122% đến 200%.
  • Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

- Khung 3: Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Áp dụng khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp:

  • Làm chết 03 người trở lên.
  • Gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho 03 người trở lên với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 201% trở lên.
  • Gây thiệt hại về tài sản từ 1.500.000.000 đồng trở lên.

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cũng được áp dụng theo quy định chung tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, theo nguyên tắc pháp lý, các tình tiết đã được sử dụng để định tội hoặc định khung hình phạt (ví dụ: làm chết 02 người, gây thiệt hại tài sản trên 1.500.000.000 đồng) thì không được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt.

 

3. Phân biệt với những tội danh khác liên quan

Để hiểu rõ hơn về Tội vi phạm quy định về quản lý chất cháy, chất độc, việc so sánh nó với các tội danh liên quan là rất cần thiết, giúp tránh sai lầm trong việc định tội danh.

3.1. So sánh với Tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy (Điều 313 BLHS)

Mặc dù có vẻ tương đồng, hai tội danh này có đối tượng quản lý và phạm vi hành vi khác biệt rõ rệt.

Tiêu chí Tội vi phạm quy định về quản lý chất cháy, chất độc (Điều 312) Tội vi phạm quy định về PCCC (Điều 313)
Căn cứ pháp lý Điều 312 BLHS Điều 313 BLHS
Khách thể

An toàn công cộng, đặc biệt là các quy định về quản lý các chất nguy hiểm (chất cháy, chất độc)

An toàn công cộng, trật tự quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy nói chung

Đối tượng tác động

Tập trung vào bản thân các "chất cháy, chất độc" và các hoạt động quản lý chúng (sản xuất, tàng trữ, vận chuyển...)

Phạm vi rộng hơn, bao trùm các quy định về PCCC, có thể liên quan đến hệ thống điện, công trình, thiết bị báo cháy, không gian, v.v.

Hành vi

Vi phạm các quy định quản lý đối với các chất cụ thể

Vi phạm các quy định về phòng cháy, chữa cháy nói chung, như không trang bị phương tiện, không đảm bảo lối thoát nạn, không thẩm duyệt thiết kế PCCC

Mức hình phạt tối đa

15 năm tù

12 năm tù

Phân tích từ bảng so sánh cho thấy, Điều 312 tập trung vào việc xử lý các hành vi thiếu trách nhiệm trong quá trình quản lý vật chất nguy hiểm cụ thể. Ngược lại, Điều 313 có phạm vi bao quát rộng hơn, xử lý các hành vi vi phạm các quy định PCCC nói chung, không nhất thiết phải liên quan đến một loại chất cháy cụ thể.

3.2. Phân biệt với các tội danh liên quan khác

Tiêu chí Tội vi phạm quy định về quản lý chất cháy, chất độc (Điều 312) Tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235) Tội vi phạm quy định về an toàn lao động (Điều 295)
Khách thể

An toàn công cộng, trật tự quản lý nhà nước về các chất nguy hiểm

Sự sạch đẹp của môi trường, chất lượng cuộc sống của nhân dân

An toàn và sức khỏe của người lao động

Hành vi

Vi phạm quy định về quản lý (sản xuất, lưu giữ...) chất nguy hiểm

Xả thải, chôn lấp, đổ chất gây ô nhiễm ra môi trường trái phép

Không tuân thủ quy trình, không trang bị bảo hộ, thiếu an toàn trong môi trường lao động

Phạm vi Rộng, có thể xảy ra ở bất kỳ đâu có hoạt động liên quan đến chất cháy, độc

Tập trung vào hành vi làm ô nhiễm các thành phần môi trường (đất, nước, không khí)

Giới hạn trong môi trường lao động, sản xuất

Việc phân biệt rõ các tội danh này rất quan trọng để tránh sai lầm trong việc định tội. Tội vi phạm quy định về an toàn lao động (Điều 295) chủ yếu xảy ra trong môi trường làm việc và khách thể được bảo vệ là sự an toàn của người lao động. Trong khi đó, Tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235) nhắm đến các hành vi làm thay đổi các thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. Tội danh tại Điều 312 có phạm vi rộng hơn, không giới hạn trong môi trường lao động hay phạm vi môi trường, mà áp dụng cho bất kỳ hành vi vi phạm quy định quản lý chất cháy, độc nào gây hậu quả nghiêm trọng.

 

4. Thực tiễn và thách thức

4.1. Thực tiễn về án lệ

Một trong những thách thức lớn nhất trong việc nghiên cứu và áp dụng Tội vi phạm quy định về quản lý chất cháy, chất độc là việc tìm kiếm các án lệ hoặc bản án công bố về tội danh này gặp nhiều khó khăn. Các cơ sở dữ liệu án lệ của Tòa án nhân dân tối cao và các bản án công khai dường như không có nhiều phán quyết điển hình về tội danh này.

Tình trạng thiếu án lệ công bố có thể cho thấy một số vấn đề trong thực tiễn:

  • Thứ nhất, số lượng vụ án được khởi tố và xét xử dưới tội danh này có thể không nhiều, bởi các vụ việc gây hậu quả nghiêm trọng hơn thường được xử lý bằng các tội danh có tính chất nghiêm trọng hơn, chẳng hạn như Tội giết người, Tội cố ý gây thương tích nếu có thể chứng minh được yếu tố lỗi cố ý.
  • Thứ hai, việc thiếu các phán quyết điển hình gây khó khăn cho các Tòa án cấp dưới trong việc định tội và áp dụng pháp luật một cách thống nhất, đặc biệt là khi các tình tiết của vụ án có sự chồng lấn với các tội danh khác.
  • Thứ ba, việc thiếu các án lệ cũng làm cho việc nghiên cứu và học tập về tội danh này trở nên khó khăn hơn, khi không có các ví dụ thực tế để minh họa cách luật được áp dụng.

4.2. Thách thức trong công tác phòng chống

Công tác điều tra, xử lý Tội vi phạm quy định về quản lý chất cháy, chất độc còn phải đối mặt với nhiều thách thức khác:

Xác định hậu quả và mối quan hệ nhân quả: Việc chứng minh một cách khoa học rằng hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp, tất yếu dẫn đến hậu quả là vô cùng phức tạp. Điều này đặc biệt đúng với các chất độc, khi hậu quả về sức khỏe có thể chỉ xuất hiện sau một thời gian dài phơi nhiễm. Sự phức tạp này đòi hỏi năng lực chuyên môn cao của các cơ quan giám định và điều tra, đồng thời cần có các quy trình giám định tiêu chuẩn để đảm bảo tính chính xác và khách quan. Việc thiếu các quy trình này có thể dẫn đến sự thiếu sót trong quá trình tố tụng.

Phân biệt ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự: Các văn bản pháp luật hiện hành quy định cả xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định quản lý chất cháy, độc. Ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm hình sự là "hậu quả nghiêm trọng," nhưng việc đánh giá hậu quả đôi khi chưa có hướng dẫn rõ ràng. Rủi ro pháp lý nằm ở chỗ việc xác định chính xác thiệt hại tài sản và tỷ lệ thương tật có thể chưa được chuẩn hóa, dẫn đến việc xử lý hình sự chưa tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi. Việc này cũng làm gia tăng sự không chắc chắn pháp lý cho các cá nhân và tổ chức hoạt động trong các lĩnh vực này.

5. Kết luận và kiến nghị hoàn thiện

Tội vi phạm quy định về quản lý chất cháy, chất độc theo Điều 312 Bộ luật Hình sự là một tội danh có cấu thành vật chất, chỉ hoàn thành khi gây ra hậu quả nghiêm trọng. Bản chất pháp lý của tội danh này là bảo vệ an toàn công cộng và trật tự quản lý của Nhà nước đối với các chất nguy hiểm. Yếu tố lỗi của tội phạm này về bản chất là vô ý (vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả), là điểm khác biệt quan trọng để phân biệt với các tội danh cố ý khác có cùng hậu quả. Mặc dù Bộ luật Hình sự đã có quy định rõ ràng, việc áp dụng trên thực tiễn còn gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc xác định mối quan hệ nhân quả và thiếu các án lệ điển hình để tạo sự thống nhất.

Để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

  • Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật: Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan hữu quan cần sớm ban hành các Nghị quyết, Thông tư liên tịch hướng dẫn chi tiết hơn về việc xác định "hậu quả nghiêm trọng," đặc biệt là trong các vụ án liên quan đến chất độc, cần có hướng dẫn rõ ràng hơn về việc xác định hậu quả lâu dài đối với sức khỏe con người.
  • Nâng cao năng lực chuyên môn: Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức kỹ thuật và chuyên ngành về hóa chất, PCCC cho đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán. Đồng thời, cần xây dựng các quy trình giám định tiêu chuẩn, đảm bảo tính khách quan và chính xác của kết luận giám định.
  • Tăng cường công tác phòng ngừa: Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục pháp luật về quản lý chất cháy, chất độc. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra định kỳ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, lưu trữ các chất này để kịp thời phát hiện và xử lý các vi phạm hành chính, ngăn chặn từ sớm các nguy cơ dẫn đến hậu quả hình sự.
  • Phát triển và công bố án lệ: Tòa án nhân dân tối cao cần chú trọng hơn nữa việc phát triển và công bố các án lệ về tội danh này. Các án lệ sẽ đóng vai trò là kim chỉ nam, tạo cơ sở pháp lý vững chắc và thống nhất cho các Tòa án cấp dưới trong việc xét xử.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.