1. Tại sao cần có quy định nhân đạo với người phạm tội là phụ nữ có thai?

Người phạm tội được hiểu là người phải thực hiện nghĩa vụ chịu sự tác động của quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự, các biện pháp cưỡng chế của nhà nước và cũng có quyền yêu cầu Nhà nước đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Trách nhiệm hình sự bao gồm những biện pháp như: cảnh cáo, xử phạt tiền, chương trình cải tạo, miễn giam giữ, án tù có thời hạn, án tù chung thân và án tử hình.

Phạm nhân nữ mang thai và đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, đồng với việc giữ chăm sóc cho con của họ trong các cơ sở giam giữ, đều thuộc vào hàng loạt đối tượng yếu thế và cần sự chú trọng đặc biệt để bảo vệ và chăm sóc thích hợp. Khung pháp luật tại Việt Nam tuân theo chủ nguyên nhân đạo và tôn trọng giá trị xã hội, và điều này áp dụng đối với phạm nhân nữ nói chung, đặc biệt là phạm nhân nữ mang thai và đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, cũng như những đứa trẻ dưới 36 tháng tuổi mà họ đem theo vào cơ sở giam giữ. Mục tiêu của các quy định này là bảo vệ và đảm bảo tốt nhất cho những đối tượng này trong môi trường giam giữ.

Trong các chính sách và quy định của Nhà nước, luôn có sự ưu tiên dành cho phụ nữ và trẻ em. Để thể hiện tinh thần này, chúng ta đã thiết lập các chế độ và chính sách riêng cho những đối tượng này. Đặc biệt, phụ nữ mang thai là một trong những nhóm đòi hỏi sự bảo vệ đặc biệt, ngay cả khi họ vi phạm luật. Hệ thống pháp luật đã xây dựng các biện pháp đặc thù để đảm bảo quyền lợi của họ. Chính vì vậy, theo quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành và các văn bản liên quan, nguyên tắc nhân đạo được áp dụng đối với phụ nữ mang thai trong tình trạng phạm tội.

2. Tổng hợp các quy định nhân đạo liên quan đến phụ nữ mang thai trong tình trạng phạm tội

(1) Loại trừ thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai

Một quy định đặc biệt nằm trong Điều 40 của Bộ luật Hình sự 2015 quy định rằng, đối với phụ nữ mang thai, án tử hình sẽ không được thi hành. Thay vào đó, án tử hình sẽ được chuyển đổi thành án tù chung thân.

(2) Phụ nữ mang thai là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Điểm n của Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho biết rằng, việc phụ nữ mang thai phạm tội là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, điều này cũng phải cân nhắc đối với quy định tại điểm i của Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015, khi mà việc phạm tội với phụ nữ mang thai có thể dẫn đến tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

(3) Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với phụ nữ mang thai trong tình trạng cải tạo

Theo Khoản 4 Điều 36 của Bộ luật Hình sự 2015, người bị phạt cải tạo không giam giữ nếu không có việc làm hoặc mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này, phải tham gia vào các công việc lao động phục vụ cộng đồng. Tuy nhiên, quy định này không áp dụng đối với phụ nữ mang thai.

(4) Không tạm giam bị can, bị cáo là phụ nữ mang thai

Theo quy định của Khoản 4 Điều 119 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, nếu bị can hoặc bị cáo là phụ nữ mang thai và có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng, họ sẽ không bị tạm giam mà thay vào đó sẽ áp dụng một biện pháp ngăn chặn khác.

Tuy nhiên, trong các tình huống sau đây, phụ nữ mang thai vẫn có thể bị tạm giam:

- Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã;

- Tiếp tục vi phạm pháp luật;

- Tham gia vào hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo sai sự thật, cung cấp thông tin sai lệch; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, vật chứng liên quan đến vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, kiểm soát, trả thù những người làm chứng, người bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân của họ;

- Bị can hoặc bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có căn cứ xác định rằng nếu không tạm giam thì sẽ gây hại đến an ninh quốc gia.

(5) Hoãn chấp hành hình phạt tù đối với phụ nữ mang thai

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 67 Bộ luật Hình sự, phụ nữ mang thai sẽ được hoãn chấp hành hình phạt tù cho đến khi con của họ đủ 36 tháng tuổi.

(6) Định lượng ăn cho phụ nữ mang thai trong trại giam và cơ sở giam giữ được gấp đôi so với tiêu chuẩn bình thường

- Trong thời gian phụ nữ mang thai đang lưu trú tại trại giam hoặc cơ sở giam giữ, tổng lượng thức ăn được cung cấp sẽ gấp đôi so với tiêu chuẩn thức ăn ngày thường, và sẽ tuân theo chỉ dẫn từ các y sĩ hoặc bác sĩ.

Tiêu chuẩn ăn ngày thường gồm:

+ 17 kg gạo thường;

+ 15 kg rau xanh;

+ 01 kg thịt lợn;

+ 01 kg cá;

+ 0,5 kg đường;

+ 0,75 lít nước mắm;

+ 0,2 lít dầu ăn;

+ 0,1 kg bột ngọt;

+ 0,5 kg muối;

+ Gia vị khác: tương đương 0,5 kg gạo thường;

+ Chất đốt: tương đương 17 kg củi hoặc 15 kg than.

Ngoài ra, trong trường hợp phụ nữ mang thai không được áp dụng hoãn chấp hành án phạt tù, cô sẽ được sắp xếp vào chỗ nằm với diện tích tối thiểu 03 m2/phạm nhân, được giảm thời gian làm việc và hưởng chế độ chăm sóc y tế theo quy định tại Khoản 1 Điều 51 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

(Căn cứ theo quy định tại Khoản 1, 3 Điều 4 Nghị định 120/2017/NĐ-CP; khoản 1, 2 Điều 1 Nghị định 113/2021/NĐ-CP; khoản 1 Điều 10 Nghị định 133/2020/NĐ-CP)

3. Điểm bất cập trong quy định về chính sách nhân đạo với phạm nhân có thai và nuôi con nhỏ

Cả Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và Nghị định 133/2020/NĐ-CP ngày 9-11-2020 đã thể hiện một cách rõ ràng tinh thần nhân đạo mà Đảng và Nhà nước ta dành cho người phạm tội, gia đình họ nói chung và đặc biệt là phụ nữ phạm nhân mang thai, nuôi con dưới 36 tháng tuổi và con của họ trong các cơ sở giam giữ.

Tuy nhiên, điều cần lưu ý là việc nuôi con dưới 36 tháng tuổi không chỉ phụ thuộc vào người mẹ mà còn có thể là người cha đang nuôi dưỡng. Trong thực tế, có những trường hợp khi trẻ mới chào đời, người mẹ đã qua đời, và người cha là người đảm nhận việc nuôi dưỡng. Trong trường hợp như vậy, để đảm bảo quyền lợi của đứa trẻ, việc người cha trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con là điều cần thiết. Tuy nhiên, các quy định hiện hành chưa cung cấp chế định tương tự cho người cha trong trường hợp vi phạm.

Trước đó, Nghị định số 117/2011/NĐ-CP ngày 15-12-2011 đã điều chỉnh trường hợp trẻ dưới 36 tháng tuổi ở cùng cha trong trại giam và đã thực hiện thành công. Tuy nhiên, Nghị định 133/2020/NĐ-CP ngày 9-11-2020 đã bỏ đi chế định này, tạo ra sự không cân đối và bất bình đẳng giữa phạm nhân nam và phạm nhân nữ mang con dưới 36 tháng tuổi, cũng như bỏ sót trường hợp phạm nhân nam với hoàn cảnh khó khăn không có người khác để chăm sóc con và bản thân phạm nhân nam không được hoãn chấp hành hình phạt tù hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù. Do đó, cần cải cách Điều 51 Luật Thi hành án hình sự 2019 và Điều 10 Nghị định 133/2020/NĐ-CP ngày 9-11-2020 bằng cách thêm vào trường hợp con dưới 36 tháng tuổi ở cùng phạm nhân nam.

Tổng hợp lại, tất cả các quy định trong Luật Thi hành án hình sự và Nghị định 133/2020/NĐ-CP đã nhằm mục đích thiết yếu là để tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ có điều kiện để chăm sóc con mình tốt nhất. Thông qua đó, chúng thể hiện một cách rõ ràng chính sách nhân đạo của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em. Tuy nhiên, để đảm bảo sự áp dụng đồng nhất của chế định này đối với người phạm tội, cần có sự quy định chặt chẽ, đảm bảo sự phù hợp, toàn diện và khả thi, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung nhằm mở rộng tác động đối tượng và tăng cường tính hợp lý trong việc áp dụng chế định này.

Bài viết liên quan: Căn cứ quyết định hình phạt đối với người phạm tội là gì? 

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc qua email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!