1. Khái niệm trách nhiệm vật chất?

Trong khoa học pháp lí, trách nhiệm vật chất còn có thể hiểu theo nghĩa rộng hơn, là loại trách nhiệm phải thực hiện bằng tài sản của người vi phạm. Theo nghĩa này, trách nhiệm dân sự và một phần nội dung của trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính cũng được hiểu là trách nhiệm vật chất.

Trong lĩnh vực luật lao động, khi còn duy trì nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, trách nhiệm vật chất được quy định chung cho công nhân, viên chức trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước. Hiện nay, trách nhiệm vất chất được quy định khác nhau đối với cán bộ, công chức nhà nước và người lao động làm công. Nếu người lao động làm công gây thiệt hại tài sản cho người sử dụng lao động, có lỗi thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, theo hợp đồng trách nhiệm (nếu có) hoặc theo thoả thuận giữa các bên khi thiệt hại xảy ra. Riêng trường hợp thiệt hại không nghiêm trọng, do lỗi vô ý thì pháp luật khống chế mức bồi thường tối đa là ba tháng lương của người lao động (nhưng không vượt ... quá mức thiệt hại thực tế); cách thực hiện bổi thường Ì theo hình thức trừ dần tiền lương hàng tháng, mỗi tháng không quá 30% lương, trừ trường hợp người lao đông thoả thuận bồi thường nhiều hơn.

Trách nhiệm vật chất của cán bộ, công chức nhà nước được thực hiện theo pháp luật về cán bộ, công chức.

Trường hợp hành vi vi phạm kỉ luật của người lao động gây thiệt hại vê tài sản cho người sử dụng lao động thì ngoài việc bị áp dụng trách nhiệm kỉ luật, người lao động còn phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản cho người sử dụng lao động. Việc bồi thường những thiệt hại về tài sản cho người sử dụng lao động do hành vi vi phạm kỉ luật lao động của người lao động gây ra được gọi là trách nhiệm vật chất trong luật lao động.

Như vậy, trách nhiệm vật chất trong luật lao động được hiếu là trách nhiệm pháp lí do người sử dụng lao động áp dụng Đối với người lao động bằng cách bắt họ phải bồi thường những thiệt hại về tài sản do hành vi vỉ phạm kỉ luật lao động gây ra.

Việc buộc người lao động phải bồi thường những thiệt hại về tài sản do hành vi vi phạm kỉ luật không chỉ nhằm đảm bảo quyền sở hữu của người sử dụng lao động mà còn góp phần vào việc đảm bảo và tăng cường kỉ luật trong các đơn vị sử dụng lao động. Đồng thời, nó còn nâng cao ý thức của người lao động trong việc chấp hành kỉ luật, buộc người lao động phải tuân thủ các quy định về kỉ luật lao động mà chủ sử dụng lao động đã đề ra.

Tuy nhiên, trên thực tế không phải pháp luật lao động của nước nào cũng quy định về bồi thường thiệt hại theo trách nhiệm vật chất trong luật lao động. Rất nhiều nước, đặc biệt là những nước có nền kinh tế thị trường phát triển không quy định về loại trách nhiệm này trong luật lao động. Bởi họ cho rằng bồi thường thiệt hại theo trách nhiệm vật chất trong luật lao động cũng chính là bồi thường thiệt hại về tài sản. người lao động nếu đã gây thiệt hại về tài sản cho người sử dụng lao động (dù đó là hành vi vi phạm kỉ luật hay không phải là hành vi vi phạm kỉ luật) thì cũng đều có trách nhiệm phải bồi thường theo trách nhiệm bồi thường dân sự. Một số nước vẫn cho rằng cần phải có những quy định riêng về bồi thường thiệt hại tài sản trong luật lao động. Bởi, khi tham gia quan hệ lao động, người lao động bao giờ cũng được chủ sử dụng giao cho quản lí, sử dụng những tài sản nhất định. Do đó, trong quá trình thực hiện các quyền và nghĩa vụ lao động không thể tránh khỏi việc người lao động gây thiệt hại về tài sản cho người sử dụng lao động. Hơn nữa, người lao động gây thiệt hại về tài sản xét trên phương diện nào đó một phần cũng là lỗi của người sử dụng lao động. Bởi người sử dụng lao động là người quản lí lao động, phân công công việc cũng như giao tài sản cho người lao động sử dụng, vì vậy, nếu người sử dụng lao động đánh giá không đúng năng lực của người lao động, phân công lao động không họp lí cũng sẽ dẫn đến việc người lao động gây thiệt hại về tài sản. Do vậy, cần phải có những quy định riêng về vấn đề bồi thường nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động.

 

2. Căn cứ áp dụng trách nhiệm vật chất

Để áp dụng trách nhiệm vật chất đối với người lao động, người sử dụng lao động phải có những căn cứ nhất định. Đó là những điều kiện cần và đủ để người sử dụng lao động có thể áp dụng trách nhiệm vật chất đối với người lao động. Cũng như các loại trách nhiệm bồi thường khác, việc áp dụng trách nhiệm vật chất đối với người lao động cũng cần phải có 4 căn cứ:

- Có hành vi vi phạm kỉ luật.

- Có thiệt hại về tài sản cho người sử dụng lao động.

- Có quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra.

- Có lỗi của người vi phạm.

Căn cứ đầu tiên để áp dụng trách nhiệm vật chất đối với người lao động là họ phải có hành vi vi phạm kỉ luật lao động. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi vi phạm kỉ luật đều có thể bị áp dụng trách nhiệm vật chất. Người lao động chỉ phải chịu trách nhiệm vật chất nếu hành vi vi phạm kỉ luật đó gây ra thiệt hại về tài sản cho người sử dụng lao động. Cũng cần phải lưu ý rằng, thiệt hại để áp dụng trách nhiệm vật chất trong luật lao động phải là những thiệt hại trực tiếp, tức là những thiệt hại thực tế xảy ra. Nó thể hiện ở sự giảm bớt về số lượng hoặc giá trị của tài sản. Những lợi nhuận bị bỏ lỡ hoặc đáng lẽ có thể có được sẽ không được coi là thiệt hại theo căn cứ này để áp dụng trách nhiệm vật chất đối với người lao động. Đây cũng là điều dễ lí giải bởi ở đây người lao động bồi thường thiệt hại về tài sản cho người sử dụng lao động nên phải căn cứ vào mức thiệt hại thực tế của tài sản. Hơn nữa, các công việc, nghĩa vụ mà người lao động thực hiện thường gắn liền với tài sản của người sử dụng lao động nên việc gây thiệt hại về tài sản trong quá trình lao động là điều khó tránh khỏi. Bởi vậy, chỉ có thể buộc người lao động bồi thường những thiệt hại trực tiếp về tài sản, không thể buộc họ phải bồi thường cả những thiệt hại gián tiếp.

Trên thực tế, về mặt hình thức, tài sản bị thiệt hại có thể dưới dạng tài sản bị hư hỏng, bị mất mát hoặc tiêu hao vật tư vượt quá định mức cho phép. Vì vậy, khi xác định căn cứ này, người sử dụng lao động cần phải xác định một cách cụ thể tài sản bị thiệt hại là tài sản gì, hình thức thiệt hại ra sao, giá trị thiệt hại là bao nhiêu để làm căn cứ áp dụng trách nhiệm đối với người lao động.

Mặt khác, để áp dụng trách nhiệm vật chất đối với người lao động, người sử dụng lao động cũng phải chứng minh được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra. Hành vi vi phạm kỉ luật lao động là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại xảy ra và thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu của hành vi vi phạm kỉ luật. Nếu không có mối quan hệ nhân quả này thì dù có đủ hai căn cứ là hành vi vi phạm kỉ luật và thiệt hại xảy ra, người lao động cũng sẽ không phải chịu trách nhiệm vật chất.

Lỗi cũng là một trong các căn cứ để áp dụng trách nhiệm vật chất đối với người lao động. Lỗi trong trách nhiệm vật chất được hiểu là thái độ tâm lí của người có hành vi vi phạm kỉ luật gây thiệt hại về tài sản cho người sử dụng lao động. Người lao động chỉ phải bồi thường frong trường họp họ có lỗi trong việc gây thiệt hại về tài sản cho người sử dụng lao động. Trường hợp người lao động không có lỗi thì dù có đủ ba căn cứ trên, người lao động cũng không phải bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động như trường hợp bất khả kháng, sự cố khách quan, bão lụt... Bốn căn cứ nêu trên là những điều kiện bắt buộc phải chứng minh khi người sử dụng lao động áp dụng trách nhiệm vật chất đối với người lao động. Ngoài ra trên thực tế, người sử dụng lao động cũng cần phải xem xét đến các yếu tố khác như khả năng, kinh nghiệm làm việc, hoàn cảnh gia đình, tài sản, ý thức thái độ của người lao động trước, trong và sau khi vi phạm cũng như quá trình làm việc của họ.

 

3. Mức bồi thường, cách thức bồi thường và thủ tục xử lý

Sự khác nhau cơ bản giữa trách nhiệm vật chất trong luật lao động và trách nhiệm bồi thường dân sự chính là ở mức bồi thường, cách thức bồi thường và thủ tục xử lí. Mức bồi thường trách nhiệm vật chất trong luật lao động thường “nhẹ” hơn so với trách nhiệm bồi thường dân sự. Nếu bồi thường theo ữách nhiệm dân sự, người bồi thường sẽ phải bồi thường cả thiệt hại trực tiếp và cả thiệt hại gián tiếp thì ở trách nhiệm vật chất trong luật lao động, người lao động chỉ phải bồi thường thiệt hại trực tiếp và trong một số trường hợp người lao động chỉ phải bồi thường ở mức độ nhất định. Vì vậy, người ta còn gọi đây là trách nhiệm bồi thường “hạn chế”. Mức bồi thường cụ thể được xác định theo hình thức của sự thiệt hại.

Theo Điều 139 Bộ luật lao động năm 2019, việc bồi thường những thiệt hại về tài sản của người lao động và người sử dụng lao động được quy định như sau:

- Người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại cho tài sản của doanh nghiệp thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật hoặc nội quy lao động của người sử dụng lao động. Trường hợp người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vủng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc thì phải bồi thường nhiều nhất 3 tháng lương và bị khấu trừ hàng tháng vào lương, mỗi tháng không quá 30% lương hàng tháng (Khoản 3 Điều 102 Bộ luật lao động năm 2019).

- Người lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, làm mất các tài sản khác do doanh nghiệp giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường một phần hay toàn bộ theo thời giá thị trường hoặc nội quy lao động; trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm; trường hợp bất khả kháng (như thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, thảm họa...) mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường.

Việc xem xét, quyết định mức bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào lỗi, mức thiệt hại thực tế và hoàn cảnh thực tế gia đình, nhân thân và tài sản của người sử dụng lao động.

4. Nguyên nhân dẫn đến trách nhiệm vật chất

Người lao động mắc những lỗi sau:

– Làm mất dụng cụ, thiết bị, làm mất các tài sản khác do doanh nghiệp giao; hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép.

– Làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại cho tài sản của doanh nghiệp.

5. Căn cứ áp dụng bồi thường vật chất

– Có hành vi vi phạm kỷ luật lao động

Hành vi vi phạm kỷ luật lao động là hành vi không hoàn thành nghĩa vụ được giao hoặc thực hiện sai các nghĩa vụ đó và như vậy là vi phạm các quy định của pháp luật và nội quy lao động.Hành vi vi phạm kỷ luật lao động còn được hiểu ở góc độ là người lao động không có trách nhiệm đầy đủ trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động của mình dẫn đến thiệt hại về tài sản của người sử dụng lao động.

– Có thiệt hại về tài sản cho người sử dụng lao động

Thiệt hại là sự giảm bớt số lượng hoặc giá trị của tài sản của người sử dụng lao động. Xác định căn cứ này là việc tìm ra tài sản bị thiệt hại là tài sản gì, tài sản đó bị hư hỏng hay bị mất, số lượng và giá trị của sự thiệt hại là bao nhiêu.

– Có lỗi

Trong trách nhiệm vật chất, lỗi là thái độ tâm lý của người có hành vi vi phạm kỷ luật lao động gây thiệt hại đến tài sản của người sử dụng lao động.Nếu có lỗi, người gây thiệt hại mới phải bồi thường; không có lỗi mặc dù có đầy đủ 3 căn cứ trên thì cũng vẫn không đủ điều kiện để áp dụng chế độ trách nhiệm vật chất. Trong trường hợp có nhiều người có lỗi cùng gây ra một thiệt hại thì phải căn cứ vào nghĩa vụ lao động cụ thể của từng người và các điều kiện cụ thể của họ để xác định mức độ lỗi của cá nhân mỗi người một cách chính xác.Lỗi có 2 loại, lỗi cố ý và vô ý. Nhưng trách nhiệm vật chất chỉ áp dụng với lỗi vô ý, không áp dụng với lỗi cố ý. Nếu người lao động có lỗi cố ý sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định.

– Có quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại tài sản

Do hành vi vi phạm kỷ luật lao động của người lao động gây ra dẫn đến sự thiệt hại cho người sử dụng lao động.

Nếu giữa hành vi vi phạm kỷ luật lao động và thiệt hại tài sản xảy ra không có mối quan hệ nhân quả này thì người vi phạm không phải bồi thường.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật lao động trách nhiệm vật chất khi kỷ luật lao động. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến. Trân trọng./.