1. Trách nhiệm vật chất

Trách nhiệm vật chất không phải là một dạng trách nhiệm đặc thù của luật hành chính mà nếu xét trên phạm vi rộng, nó là dạng đặc thù của trách nhiệm theo pháp luật dân sự. Trong pháp luật hành chính quy định về trách nhiệm vật chất bao gồm trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính và trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại.

Trách nhiệm vật chất là Trong khoa học pháp lí, trách nhiệm vật chất có thể hiểu theo nghĩa rộng lớn, là loại trách nhiệm phải thực hiện bằng tài sản của người vi phạm.

Theo nghĩa này, trách nhiệm dân sự và một phần nội dung của trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính cũng được hiểu là trách nhiệm vật chất.

2. Trách nhiệm bồi thường nhà nước

Thứ nhất, về TNBTCNN đối với cá nhân, tổ chức, theo quy định tại Điều 1 Luật TNBTCNN, TNBTCNN đối với tổ chức cá nhân có thể chia làm ba loại: trách nhiệm bồi thường đối với những thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý nhà nước, TNBTCNN trong hoạt động tố tụng và TNBTCNN trong hoạt động thi hành án. Trong ba loại trách nhiệm trên chỉ có TNBTCNN trong hoạt động hành chính nhà nước (quản lý nhà nước) là thuộc nội hàm của hình thức pháp lý hành chính. Còn hai loại trách nhiệm bồi thường còn lại tuy cũng được quy định trong Luật TNBTCNN, nhưng lại không phát sinh từ hoạt động quản lý nhà nước nên không nằm trong phạm vi xem xét của các hình thức pháp lý hành chính.

Hiện nay, TNBTCNN trong hoạt động hành chính được áp dụng theo các quy định của Luật TNBTCNN 2017. Luật TNBTCNN ra đời đã tạo cơ chế pháp lý mới, đồng bộ, hiệu quả đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra. Thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo quyền con người, quyền công dân góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Mặc dù với tinh thần tiến bộ như vậy, thế nhưng hiệu quả đảm bảo của nó khó có thể trở thành hiện thực bởi hệ quả nhãn tiền của việc quy định phạm vi trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quả lý hành chính tại Điều 17 của Luật này. Những quy định có tính chất liệt kê như tại Điều 17 nói trên không thể nào bao quát hết được các trường hợp cán bộ, công chức vi phạm trong quá trình quản lý nhà nước gây thiệt hại cho công dân.

3. Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính

Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:

- Ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trái pháp luật;

- Áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính trái pháp luật;

- Áp dụng một trong các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính sau đây trái pháp luật:

  • Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép;
  • Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm;
  • Buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng;

- Áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trái pháp luật;

- Áp dụng một trong các biện pháp xử lý hành chính sau đây trái pháp luật:

  • Giáo dục tại xã, phường, thị trấn;
  • Đưa vào trường giáo dưỡng;
  • Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc;
  • Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

-Không áp dụng hoặc áp dụng không đúng quy định của Luật Tố cáo các biện pháp sau đây để bảo vệ người tố cáo khi người đó yêu cầu:

  • Đình chỉ, tạm đình chỉ, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định xử lý kỷ luật hoặc quyết định khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người tố cáo; khôi phục vị trí công tác, vị trí việc làm, các khoản thu nhập và lợi ích hợp pháp khác từ việc làm cho người tố cáo tại nơi công tác;
  • Đình chỉ, tạm đình chỉ, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người tố cáo; khôi phục các quyền, lợi ích hợp pháp của người tố cáo đã bị xâm phạm tại nơi cư trú;
  • Áp dụng biện pháp ngăn chặn, xử lý hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người tố cáo theo quy định của pháp luật;

- Thực hiện hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin về cố ý cung cấp thông tin sai lệch mà không đính chính và không cung cấp lại thông tin‎;

- Cấp, thu hồi, không cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp trái pháp luật;

- Áp dụng thuế, phí, lệ phí trái pháp luật; thu thuế, phí, lệ phí trái pháp luật; truy thu thuế, hoàn thuế trái pháp luật; thu tiền sử dụng đất trái pháp luật;

- Áp dụng thủ tục hải quan trái pháp luật;

- Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật; bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư trái pháp luật; cấp hoặc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trái pháp luật;

- Ra quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trái pháp luật;

- Cấp văn bằng bảo hộ khi có căn cứ pháp luật cho rằng người nộp đơn không có quyền nộp đơn hoặc có căn cứ pháp luật cho rằng đối tượng không đáp ứng điều kiện bảo hộ; từ chối cấp văn bằng bảo hộ với lý do đối tượng không đáp ứng điều kiện bảo hộ mà không có căn cứ pháp luật; chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ mà không có căn cứ pháp luật;

- Ra quyết định xử lý kỷ luật buộc thôi việc trái pháp luật đối với công chức từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống.

4. Quyền con người khó được bảo đảm với quy định của pháp luật hiện hành

Với cách thức quy định như trên đã phân tích, không chỉ không bảo đảm được quyền lợi của người dân nói chung đối với những trường hợp lẽ ra phải được bồi thường nhưng bị nhà làm luật bỏ sót mà còn gây ra sự bất bình đẳng giữa các công dân. Một nhà nước dân chủ không thể để xảy ra tình trạng công lý nửa vời theo nghĩa công lý chỉ có thể đảm bảo cho một số người và một số còn lại thì không có công lý. Điều này đồng nghĩa với việc công lý không tồn tại ở nhà nước đó. Không thể có công lý số đông hay công lý thiểu số mà công lý thuộc về mọi người. Lẽ phải ở đâu? quyền con người ở đâu? Trong những trường hợp quyền lợi hợp pháp của người dân bị bỏ ngỏ. Chúng ta cần nhận thức rằng ở bất cứ nơi đâu trong hoạt động quản lý nhà nước, hễ có vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức gây thiệt hại đối với người dân thì ở đó họ đương nhiên phải được bồi thường. Tức là TNBTCNN phải được vận hành một cách tự động nếu hội đủ điều kiện quy định tại khoản 1, Điều 7 Luật TNBTCNN 2017.

5. Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường nhà nước

Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước về bản chất là trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Theo những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự thì trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có các điều kiện: có thiệt hại xảy ra; có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại; (iv) có lỗi của người gây thiệt hại. Đây là những điều kiện chung nhất để xác định trách nhiệm của một người phải bồi thường những thiệt hại do mình gây ra. Vậy đối với trách nhiệm bồi thường của Nhà nước phát sinh khi nào? Trong khuôn khổ bài viết, tác giả sẽ làm rõ thời điểm phát sinh và căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Điều 7 Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017 (Luật TNBTCNN năm 2017) đã quy định cụ thể căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, theo đó Nhà nước có trách nhiệm bồi thường khi đủ các căn cứ sau:

- Thứ nhất, có một trong các căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại và yêu cầu bồi thường tương ứng.

- Thứ hai, có thiệt hại thực tế của người bị thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Thiệt hại được hiểu là sự giảm sút các lợi ích về tài sản hoặc lợi ích về nhân thân so với tình trạng hiện hữu hoặc sự giảm sút các lợi ích mà chủ thể bị thiệt hại sẽ và chắc chắn có được trong tương lai trong một điều kiện bình thường nếu không có việc gây thiệt hại xảy ra.

- Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại. Mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại ở đây được hiểu là thiệt hại thực tế mà người bị thiệt hại gánh chịu phải bắt nguồn từ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Nếu trường hợp một vụ việc có hành vi trái pháp luật, có thiệt hại thực tế phát sinh nhưng thiệt hại đó không bắt nguồn từ hành vi trái pháp luât, thì cũng không phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

6. Trách nhiệm hoàn trả

Theo quy định tại khoản 8 Điều 3 Luật TNBTCNN 2017: “Hoàn trả là trách nhiệm của người thi hành công vụ gây thiệt hại phải trả lại một khoản tiền cho ngân sách nhà nước theo quy định của Luật này”.

Trách nhiệm hoàn trả (TNHT) của người thi hành công vụ (THCV) có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất, chủ thể thực hiện TNHT là người THCV. Hoạt động của người THCV là hoạt động công vụ theo quy định chế độ công vụ của Nhà nước. Vì thế, khi người THCV có những hành vi sai gây thiệt hại cho bên bị hại do vi phạm chế độ công vụ nhà nước thì người THCV hoàn trả cho Nhà nước.

Thứ hai, căn cứ phát sinh TNHT là việc thực hiện hành vi trái pháp luật và có lỗi của người THCV. Hành vi của người THCV phù hợp với quy định của pháp luật là hành vi của Nhà nước nhưng hành vi này không làm phát sinh TNBT của Nhà nước. Theo quy định hiện hành, TNBT của Nhà nước phát sinh từ hành vi trái pháp luật (không hợp pháp) của người THCV. Tuy nhiên, việc hoàn trả chỉ thực hiện đối với những hành vi sai trong trường hợp có lỗi.

Thứ ba, TNHT của người THCV có mối quan hệ chặt chẽ với TNBT của Nhà nước. Theo đó, TNBT của Nhà nước xuất phát từ hành vi thực thi công vụ của người THCV, TNHT xuất hiện sau TNBT của Nhà nước khi người THCV có lỗi gây ra thiệt hại cho các chủ thể khác.

Trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại đi kèm với trách nhiệm kỷ luật (hoặc trách nhiệm hình sự) tạo nên tính răn đe phòng ngừa đồi vôi cán bộ, công chức những người đại diện Nhà nước thực hiện các hoạt động mang tính quyền lực. Góp phần hạn chế tha hóa quyền lực, hạn chế nhũng nhiễu, hạch sách, cửa quyền, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)