1. Trách nhiệm bồi thường khi gây tai nạn giao thông ?

Tai nạn giao thông mỗi năm cướp đi sinh mạng của gần 10.000 người và gấp nhiều lần con số đó số người bị thương. Có nhiều nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông cả về khách quan và chủ quan, căn cứ vào những nguyên nhân này mà cơ quan có thẩm quyền sẽ xác định được nguyên nhân gây ta nạn và lỗi do đâu để có những biện pháp xử lý về hình sự và dân sự. 

Cụ thể :

Nếu chủ thể gây tai nạn giao thông có lỗi khi tham gia giao thông đường bộ (ví dụ như không tuân thủ các nguyên tắc an toàn giao thông) gây ra hậu quả nghiêm trọng như gây thiệt hại lớn về tài sản, sức khỏe, tính mạng của người bị hại thì có thể chủ thể gây tai nạn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, như sau :

"Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

Cùng với việc có thể phải chịu trách nhiệm hình sự, người có lỗi trong việc gây ra thiệt hại cho người khác cũng phải bồi thường về vật chất cho người bị tai nạn theo quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015.

 

2. Xác định mức bồi thường thiệt hại sau tai nạn giao thông ?

Xin chào luật sư. Trước hết tôi xin trình bày sự việc như sau: chồng tôi trong lúc đang điều khiển xe tải ben chở hàng thì va chạm với một người điều khiển xe máy tại khúc cua và đang lên dốc, trên xe có chở một bé trai 3 tuổi và bình nước 20 lít, sau va chạm thì bé trai tử vong tại chỗ, mẹ bé bị thương. Ngay sau đó chồng tôi đã đưa chị ấy đi cấp cứu, hiện nay đang nằm viện để điều trị 1 cánh tay bị gãy. Gia đình tôi đã phụ giúp về người và tiền bạc lo tang lễ đồng thời chịu mọi chi phí điều trị cho nạn nhân và luôn có người qua lại thăm nom chăm sóc. Ngày hôm sau vụ tai nạn, chồng tôi đã ra cơ quan công an để trình báo, hiện tại đang bị tam giữ cả người và xe. Xin luật sư cho tôi hỏi một số vấn đề sau:

1. Thời gian tạm giữ người là bao lâu. (cho đến hiện tại là chồng tôi đã bị tạm giữ 7 ngày)
2. Các khoản bồi thường gồm những gì và mức tiền bồi thường là bao nhiêu nếu chồng tôi vi phạm bao gồm: lấn làn, quá tốc độ, quá tải.
Cảm ơn!
- Trần Thị Xuyến

 

Trả lời:

Theo thông tin mà bạn cung cấp, do bạn không nói rõ lúc chồng bạn lên dốc có chú ý quan sát.... Nhưng nếu chồng bạn khi tham gia giao thông có vi phạm(dù là hành vi nhỏ) mà làm chết người, do đó nếu đủ cấu thành tội phạm thì chồng bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo quy định tại Điều 260 Bộ Luật Hình sự Sửa đổi bổ sung năm 2017

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 260 BLHS 2015 và quy định tại khoản điểm b khoản 1 Điều 9 BLHS 2015 :"Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù,..." thì hành vi của em bạn có thể cấu thành tội phạm và thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Theo quy định tại Điều 173 BLTTHS 2015:

Điều 173. Thời hạn tạm giam để điều tra

1. Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

2. Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam.

Việc gia hạn tạm giam được quy định như sau:

a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 01 tháng;

b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 02 tháng;

c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 03 tháng;

d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

Do đó, cơ quan điều tra có thể tiến hành tạm giam em bạn trong một khoảng thời gian không quá ba tháng theo quy định của pháp luật.

Về nguyên tắc bồi thường sẽ thực hiện theo Điều 585 Bộ luật dân sự:

"Điều 585. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình."
Theo quy định trên thì mức bồi thường thiệt hại sẽ do các bên tự thỏa thuận. Ngoài việc bồi thường thiệt hại thì người gây tai nạn trong trường hợp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm của người khác còn phải chi một khoản tiền để bù đắp tổn thất tinh thần mà người đó phải gánh chịu. Mức bù đắp tổn thất tinh thần sẽ được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 590, Khoản 2 Điều 591 và Khoản 2 Điều 592 Bộ luật dân sự.
 

3. Mức đền bù và quyền khiếu kiện sau tai nạn giao thông ?

Luật Minh Khuê tư vấn các quy định của pháp luật giao thông đường bộ và giải đáp nội dung câu hỏi Tư vấn đề đền bù, khiếu kiện sau tai nạn giao thông ?

>> Luật sư tư vấn pháp luật giao thông trực tuyến

 

Trả lời:

- Về trách nhiệm hình sự khi gây tai nạn giao thông:  Căn cứ quy định tại "Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017) để xử lý những trường hợp gây tai nạn giao thông nghiêm trọng làm chết người hoặc gây tỷ lệ thương tật cho nhiều người.

- Trong trường hợp khi xảy ra tai nạn thì người gây tai nạn phải bồi thường cho người bị hại theo quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 trong trường hợp sức khỏe bị xâm phạm như sau:

"Điều 590. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

- Về trách nhiệm bồi thường dân sự: theo quy định tại Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 thì người nào có lỗi dẫn đến gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, tài sản của người khác thì phải bồi thường.

Mức bồi thường trong trường hợp này, theo quy định tại Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bao gồm:

-Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: Tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X-quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ… để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

-Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khỏe bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

-Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

-Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại

-Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm. Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại trước hết do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.

Hơn nữa, Khoản 4.1 Điều 4 Phần 1 Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP qui định cụ thể như sau:

"4. Về các tình tiết "gây thiệt hại nghiêm trọng", "gây hậu quả rất nghiêm trọng", "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự

4.1. Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại xảy ra, thì gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự:

a. Làm chết một người;

b. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

c. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

d. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

đ. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

e. Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng."

>> Xem thêm: Tư vấn về mức bồi thường tai nạn giao thông gây chết người?

 

4. Quy định về xếp hàng hóa trên xe ?

Cuối tháng 6, khi đang lưu thông trên đường tôi gặp anh M đi xe máy, phía sau chở hàng hóa rất cồng kềnh. Chiều rộng của khối hàng hóa vượt quá bề rộng của giá đèo hàng là 0,5 m; chiều dài vượt quá đuôi xe 1 m. Do khối hàng hóa rất to và nặng, ảnh hưởng đến việc lái xe nên anh M đã va chạm vào xe máy của tôi. Cho rằng anh M đã vi phạm pháp luật nên tôi yêu cầu bồi thường. Tuy nhiên, anh ta đã giải thích rằng việc xếp hàng hóa đó là đúng theo kích thước mà pháp luật quy định.

Xin hỏi: theo quy định pháp luật thì kích thước của hàng hóa, hành lý được phép xếp trên xe là bao nhiêu? Hành vi xếp hàng hóa nói trên có vi phạm pháp luật không?

Trả lời:

Việc xếp hàng hóa trên xe khi lưu thông có ảnh hưởng rất lớn đến việc điều khiển xe và an toàn của những người tham gia giao thông khác. Theo quy định Khoản 1 Điều 20 Luật Giao thông đường bộ thì hàng hóa xếp trên xe phải gọn gàng, chằng buộc chắc chắn, không để rơi vãi dọc đường, không kéo lê hàng hóa trên mặt đường và không cản trở việc điều khiển xe. Khi xếp hàng hóa vượt phía trước và phía sau xe thì ban ngày phải có cờ báo hiệu màu đỏ, ban đêm hoặc khi trời tối phải có đèn đỏ báo hiệu.

Kích thước hàng hóa, hành lý được phép xếp trên xe mô tô, xe gắn máy được quy định tại Điều 19 Thông tư 46/2015/TT-BGTVT như sau:

Xe mô tô, xe gắn máy không được xếp hàng hóa, hành lý vượt quá bề rộng giá đèo hàng theo thiết kế của nhà sản xuất về mỗi bên 0,3 mét; vượt quá phía sau giá đèo hàng là 0,5 mét; chiều cao xếp hàng hóa tính từ mặt được xe chạy là 2,0 mét

Như vậy, kích thước hàng hóa mà anh M xếp trên xe vượt quá kích thước mà pháp luật quy định. Hành vi này là vi phạm pháp luật và bị xử phạt, cụ thể, theo quy định tại Điểm k Khoản 3, Điều 6, Nghị định số 100/2019/NĐ-CP thì hành vi xếp hàng hóa trên xe mô tô, xe gắn máy vượt quá giới hạn quy định sẽ bị xử phạt từ 400.000 đến 600.000 đồng.

 

5. Quy định về tốc độ tham gia giao thông?

Thưa luật sư, Anh Nguyễn Văn Nam đi xe máy trên quốc lộ 5, đoạn đường đi qua thành phố Hải Dương. Mặc dù đã nhìn thấy biển báo hiệu “Bắt đầu khu vực đông dân cư” khi bắt đầu vào thành phố Hải Dương nhưng anh Nam nghĩ rằng mình đang lưu thông trên đường quốc lộ nên chỉ cần tuân thủ quy định về tốc độ trên đường quốc lộ thôi nên vẫn giữ nguyên tốc độ là 60km/h. Sau đó, do sơ suất nên anh Nam đã va chạm với anh Bắc. Hai bên xảy ra xô xát, anh Bắc cho rằng lý do xảy ra tai nạn là do anh Nam đã vượt quá tốc độ tối đa cho phép.

Xin hỏi: trong trường hợp này anh Nam có vượt quá tốc độ tối đa cho phép hay không?

- Cao Tuyết Dung

Trả lời

Luật giao thông đường bộ quy định người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường.

Đường bộ trong khu vực đông dân cư là đoạn đường bộ nằm trong khu vực nội thành phố, nội thị xã và những đoạn đường bộ từ vị trí đặt biển báo hiệu "Bắt đầu khu đông dân cư" đến vị trí đặt biển báo hiệu "Hết khu đông dân cư".

Theo Thông tư số 13/2009/TT-BGTVT của Bộ giao thông vận tải thì trong khu vực đông dân cư, người tham gia giao thông bắt buộc phải tuân thủ quy định về tốc độ tối đa như sau:

- Đối với xe ô tô chở người đến 30 chỗ ngồi; ô tô tải có trọng tải dưới 3.500kg thì tốc độ tối đa là 50 km/h.

- Đối với xe ô tô chở người trên 30 chỗ ngồi; ô tô tải có trọng tải từ 3.500 kg trở lên; ô tô sơ mi rơ moóc; ô tô kéo rơ moóc; ô tô kéo xe khác; ô tô chuyên dùng; xe mô tô; xe gắn máy thì tốc độ tối đa là 40km/h;

Đối với trường hợp của anh Nam, mặc dù đang lưu thông trên đường quốc lộ, nhưng khi đi qua khu vực đông dân, anh có trách nhiệm phải tuân thủ quy định về tốc độ tối đa trong khu đông dân cư. Như vậy, anh Nam chỉ được phép đi mô tô với tốc độ tối đa là 40km/h. Việc anh đi với tốc độ 60km/h đã vượt quá tốc độ tối đa cho phép.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Mọi vướng mắc xin vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!