1. Những thành phần trong mạng lưới hoạt động ngân hàng thương mại

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 của Thông tư 21/2013/TT-NHNN, mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại được xác định như sau: Trong Thông tư này, các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau: Mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại bao gồm các thành phần sau: 

- Chi nhánh: Đây là các điểm giao dịch chính của ngân hàng, thường được đặt tại các vị trí chiến lược trong các khu vực địa lý, đặc biệt là tại các địa điểm trung tâm của thành phố hoặc khu vực. Việc đặt các chi nhánh tại các vị trí trung tâm có thể giúp ngân hàng tiếp cận được nhiều khách hàng tiềm năng hơn, tăng cơ hội kinh doanh và nâng cao tầm ảnh hưởng của mình trong cộng đồng. Đồng thời, việc có mặt tại các địa điểm trung tâm cũng giúp thu hút sự chú ý và tin tưởng từ phía khách hàng và doanh nghiệp.

- Phòng giao dịch: Đây là các đơn vị nhỏ hơn so với chi nhánh, thường nằm tại các khu vực đông dân cư hoặc trong các cơ sở thương mại. Thông thường, các phòng giao dịch tập trung vào các hoạt động giao dịch tiền mặt, như rút và gửi tiền, thanh toán hóa đơn, và các dịch vụ liên quan đến tài chính cá nhân.

- Văn phòng đại diện: Đây là các đơn vị đại diện của ngân hàng tại các tỉnh, thành phố khác nhau. Chức năng chính của văn phòng đại diện thường là tư vấn và hỗ trợ khách hàng trong khu vực đó.

- Đơn vị sự nghiệp trong nước: Đây là các đơn vị kinh doanh, phân phối hoặc các đơn vị chuyên biệt khác của ngân hàng mà có thể có chức năng cụ thể như tín dụng, tài chính, bảo hiểm, quản lý tài sản.

- Chi nhánh, văn phòng đại diện của ngân hàng 100% vốn nước ngoài: Đây là các cơ sở của ngân hàng mà 100% vốn là từ nước ngoài, được quy định và pháp lý hóa để hoạt động trong thị trường nước này. 

Do đó, các thành phần hiện hữu trong mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại gồm: chi nhánh, phòng giao dịch, văn phòng đại diện, đơn vị sự nghiệp trong nước; cùng với chi nhánh, văn phòng đại diện, ngân hàng 100% vốn nước ngoài theo quy định của pháp luật. Mỗi thành phần này đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính cho khách hàng và phục vụ mục tiêu kinh doanh của ngân hàng.

 

2. Quy định về trách nhiệm của ngân hàng thương mại trong mạng lưới hoạt động như thế nào?

Theo quy định của Điều 28 trong Thông tư 21/2013/TT-NHNN, được sửa đổi bởi khoản 16 Điều 1 trong Thông tư 01/2022/TT-NHNN có hiệu lực từ ngày 15/03/2022, ngân hàng thương mại có trách nhiệm trong mạng lưới ngân hàng như sau:

- Phải có kế hoạch phát triển chi nhánh, phòng giao dịch, văn phòng đại diện, và đơn vị sự nghiệp trong nước, cũng như chi nhánh, văn phòng đại diện, ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Việc này giúp đảm bảo sự phát triển bền vững của ngân hàng và mở rộng mạng lưới hoạt động, phục vụ khách hàng một cách hiệu quả. Kế hoạch này cần được thực hiện và trình cấp có thẩm quyền của ngân hàng thông qua hàng năm. Quá trình này đòi hỏi sự phân tích kỹ lưỡng về nhu cầu thị trường, tiềm năng phát triển, và các yếu tố khác để đảm bảo sự hiệu quả và phù hợp với chiến lược kinh doanh của ngân hàng.

- Phải lập báo cáo bằng văn bản giấy, gửi trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính đến Ngân hàng Nhà nước qua Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng theo nội dung được quy định tại Phụ lục số 02 của Thông tư 21/2013/TT-NHNN, với các thời hạn sau:

+ Báo cáo 6 tháng đầu năm: phải gửi trước ngày 31 tháng 7 hàng năm. Việc này giúp cơ quan quản lý và giám sát ngân hàng có thông tin kịp thời về tình hình hoạt động của ngân hàng trong nửa đầu năm, từ đó có thể đánh giá và điều chỉnh cần thiết để đảm bảo hoạt động của ngân hàng được thực hiện một cách hiệu quả và minh bạch.

+ Báo cáo năm: phải gửi trước ngày 31 tháng 01 của năm tiếp theo sau năm báo cáo. Thời gian chốt số liệu báo cáo phải tuân thủ theo kỳ kế toán quy định tại Luật kế toán. Điều này đảm bảo rằng thông tin trong báo cáo được xác thực và chính xác, phản ánh đúng tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong năm đã qua.

- Phải thực hiện công bố thông tin theo quy định tại Thông tư này và điểm c khoản 4 của Điều 29 trong Luật Các tổ chức tín dụng 2010 như sau: Khi được chấp thuận thay đổi một hoặc một số nội dung quy định tại khoản 1 của Điều này, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải công bố nội dung thay đổi tại các điểm a, b, c và d của khoản 1 này trên các phương tiện thông tin của Ngân hàng Nhà nước và một tờ báo viết hằng ngày trong 03 số liên tiếp hoặc báo điện tử của Việt Nam trong thời hạn 07 ngày làm việc, tính từ ngày được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận. Quy định này nhằm đảm bảo tính minh bạch và thông tin đầy đủ cho cộng đồng, cũng như tăng cường sự giám sát và tuân thủ quy định của các tổ chức tín dụng.

- Phải thực hiện các nội dung khác được quy định tại Thông tư 21/2013/TT-NHNN. Điều này nhằm đảm bảo rằng các ngân hàng thương mại tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật và thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro hiệu quả để bảo vệ lợi ích của khách hàng và hệ thống tài chính.

 

3. Số chi nhánh ngân hàng thương mại được phép thành lập

Theo quy định tại Điều 7 của Thông tư 21/2013/TT-NHNN, số lượng chi nhánh được thành lập của ngân hàng thương mại được quy định như sau:

- Số lượng chi nhánh của một ngân hàng thương mại phải đảm bảo theo công thức:

300 tỷ đồng x N1 + 50 tỷ đồng x N2 < C.

Trong đó: C là giá trị thực của vốn điều lệ của ngân hàng thương mại đến thời điểm đề nghị (tính bằng tỷ Đồng Việt Nam); N1 là số lượng chi nhánh đã thành lập và đề nghị thành lập tại khu vực nội thành thành phố Hà Nội và khu vực nội thành thành phố Hồ Chí Minh; N2 là số lượng chi nhánh đã thành lập và đề nghị thành lập tại khu vực ngoại thành thành phố Hà Nội, khu vực ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh; và các tỉnh, thành phố khác trực thuộc Trung ương.

- Ngân hàng thương mại được phép thành lập tối đa 10 chi nhánh tại mỗi khu vực nội thành thành phố Hà Nội hoặc nội thành thành phố Hồ Chí Minh. Điều này nhằm hạn chế sự mở rộng quá mức của các ngân hàng mới thành lập và đảm bảo sự cân nhắc trong việc phát triển mạng lưới hoạt động, đồng thời giữ vững sự cạnh tranh trong thị trường ngân hàng.

- Ngân hàng thương mại có thời gian hoạt động dưới 12 tháng được phép thành lập không quá ba (03) chi nhánh và không được thành lập trên cùng một địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. - Ngân hàng thương mại có thời gian hoạt động từ 12 tháng trở lên được phép thành lập không quá năm (05) chi nhánh trong một (01) năm tài chính.

- Ngân hàng thương mại khi chấm dứt hoạt động chi nhánh tại khu vực nội thành thành phố Hà Nội, khu vực nội thành thành phố Hồ Chí Minh được phép thành lập tại các địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác số chi nhánh tương ứng với số chi nhánh đã chấm dứt hoạt động, ngoài số lượng chi nhánh tối đa được phép thành lập trong một (01) năm quy định tại Điều 4.

Do đó, theo quy định của pháp luật hiện hành, mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại bao gồm các thành phần như: chi nhánh, phòng giao dịch, văn phòng đại diện, đơn vị sự nghiệp trong nước; cũng như chi nhánh, văn phòng đại diện, ngân hàng 100% vốn nước ngoài theo quy định của pháp luật. Trách nhiệm của ngân hàng thương mại khi hoạt động trong mạng lưới ngân hàng được quy định cụ thể như trên.

Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết Ngân hàng thương mại phải lập báo cáo về hệ thống kiểm soát nội bộ. Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tới địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!