1. Quy định về bảo vệ người tố giác, người bị hại, người làm chứng

Trước đây, BLTTHS năm 2003 đã có một số quy định về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác, cụ thể:

- Điều 7 quy định Người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ mà bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật.

- Điểm a khoản 3 Điều 55 quy định Người làm chứng có quyền yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng;

- Tại khoản 3 Điều 103 quy định Cơ quan điều tra phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người đã tố giác tội phạm.

Dù vậy, các quy định này còn chung chung, chưa đầy đủ nên thực tiễn áp dụng gặp nhiều vướng mắc.

Khắc phục hạn chế của BLTTHS năm 2003, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã bổ sung một chương (Chương XXXIV) trong phần thứ bảy (Thủ tục đặc biệt) quy định về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác. Trong chương này đã quy định một cách cụ thể, rõ ràng các vấn đề sau: Những người được bảo vệ; cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ; các biện pháp bảo vệ; đề nghị, yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo vệ; quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ; chấm dứt việc bảo vệ; hồ sơ bảo vệ.

 

2. Người được bảo vệ

Theo Điều 484 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, những người được bảo vệ gồm:

a) Người tố giác tội phạm;

b) Người làm chứng;

c) Bị hại;

d) Người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại.

Người tố giác tội phạm là cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.

Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng.

Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.

Người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại là người có quan hệ với người tố giác tội phạm, người làm chwungs, bị hại gồm vợ, chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, bố nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột; cụ nội, cụ ngoại, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, cháu ruột.

 

3. Các biện pháp bảo vệ

Điều 486 BLTTHS 2015 quy định về các biện pháp bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác bao gồm:

1. Khi có căn cứ xác định tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại do việc cung cấp chứng cứ, tài liệu, thông tin liên quan đến tội phạm thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định áp dụng những biện pháp sau đây để bảo vệ họ:

a) Bố trí lực lượng, tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ và các phương tiện khác để canh gác, bảo vệ;

b) Hạn chế việc đi lại, tiếp xúc của người được bảo vệ để bảo đảm an toàn cho họ;

c) Giữ bí mật và yêu cầu người khác giữ bí mật các thông tin liên quan đến người được bảo vệ;

d) Di chuyển, giữ bí mật chỗ ở, nơi làm việc, học tập; thay đổi tung tích, lý lịch, đặc điểm nhân dạng của người được bảo vệ, nếu được họ đồng ý;

đ) Răn đe, cảnh cáo, vô hiệu hóa các hành vi xâm hại người được bảo vệ; ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi xâm hại theo quy định của pháp luật;

e) Các biện pháp bảo vệ khác theo quy định của pháp luật.

2. Việc áp dụng, thay đổi các biện pháp bảo vệ quy định tại khoản 1 Điều này không được làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo vệ.

Theo quy định trên, bên cạnh các biện pháp cụ thể thì có thể áp dụng các biện pháp bảo vệ khác theo quy định của pháp luật (điểm e khoản 1 Điều 486). Đây là quy định mới tại BLTTHS năm 2015, theo đó, ngoài các biện pháp phổ biến đã được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng nói trên và nếu phù hợp với điều kiện Việt Nam, các biện pháp bảo vệ khác cần được tiếp tục nghiên cứu áp dụng.

Việc áp dụng các biện pháp bảo vệ và thay đổi các biện pháp bảo vệ trong quá trình áp dụng đều nhằm bảo đảm an toàn cho người được bảo vệ nhưng áp dụng, thay đổi các biện pháp bảo vệ nói trên không được làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo vệ. Do đó, khi quyết định lựa chọn biện pháp bảo vệ hay khi quyết định thay đổi biện pháp bảo vệ nào, cơ quan có thẩm quyền cần xem xét, đánh giá thật kỹ càng ảnh hưởng của nó đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo vệ. Chỉ áp dụng hoặc thay đổi những biện pháp bảo vệ khi vừa bảo đảm sự an toàn cho người đó vừa không gây thiệt hại nhiều đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

 

4. Trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại

Bảo đảm quyền con người, quyền công dân là tư tưởng lớn của Hiến pháp năm 2013 đòi hỏi phải được quán triệt và thể hiện đầy đủ trong các dự án luật, trong đó có Bộ luật tố tụng hình sự. Tố tụng hình sự là quá trình phát hiện và xử lý tội phạm, song không chấp nhận phát hiện tội phạm bằng mọi giá mà phải tôn trọng con người, bởi lẽ cho đến khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người bị buộc tội vẫn chưa bị coi là có tội, được Hiến pháp quy định quyền suy đoán vô tội, quyền được xét xử công bằng, quyền được bảo đảm quyền bào chữa... (Điều 31 Hiến pháp năm 2013). Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được ban hành đã cụ thể hóa sâu sắc các tư tưởng tiến bộ của Hiến pháp năm 2013, trong đó phải để cập những điều chỉnh liên quan đến trách nhiệm của Viện kiểm sát nhằm bảo đảm yêu cầu quan trọng này.

Bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác là nội dung mới quan trọng trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Bộ luật quy định, khi tiến hành tố tụng đối với vụ án nếu nhận được yêu cầu, đề nghị bảo vệ, các cơ quan tố tụng nói chung và Viện kiểm sát nói riêng có trách nhiệm xem xét; nếu có căn cứ phải kịp thời đề nghị Cơ quan điều tra cùng cấp áp dụng biện pháp bảo vệ. Việc bổ sung này một mặt giúp những người tham gia tố tụng tránh khỏi sự xâm hại của tội phạm, mặt khác, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để khuyến khích người dân yên tâm hợp tác với các cơ quan tố tụng nhanh chóng khám phá vụ án.

Ngoài nội dung đổi mới nêu trên, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 còn có nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung cụ thể khác hên quan đến chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của Viện kiểm sát. Những nội dung đổi mới này sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng giúp Viện kiểm sát thực hiện hiệu lực, hiệu quả chức năng, nhiệm vụ Hiến định. Đồng thời, cũng đặt ra trách nhiệm đối với mỗi Kiểm sát viên phải chủ động hơn, trách nhiệm hơn, bản lĩnh hơn. Chỉ có như vậy mới đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn mới.

>> Xem thêm: Đường dây nóng tố giác tội phạm Bộ Công an gọi số nào, ở đâu?

 

5. Những hạn chế, vướng mắc

- Quy định chưa đầy đủ về những người được bảo vệ:

Các quy định của BLTTHS năm 2015 về bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác vẫn còn một số điểm chưa đầy đủ, chưa thống nhất cần được cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, hướng dẫn.

Điều 484 BLTTHS năm 2015 quy định những người được bảo vệ chỉ gồm: (1) Người tố giác tội phạm; (2) Người làm chứng; (3) Bị hại; (4) Người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại. Với quy định tại các điều 57, 67, 70 Bộ luật này thì người báo tin về tội phạm, người chứng kiến, người phiên dịch, người dịch thuật và người thân thích của họ cũng thuộc đối tượng được bảo vệ:

+ Tại điểm a khoản 1 Điều 57 Bộ luật này quy định cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giữ bí mật việc tố giác, báo tin về tội phạm, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của họ, người thân thích của họ khi bị đe dọa.

+ Tại điểm b khoản 3 Điều 67 Bộ luật này quy định một trong các quyền của người chứng kiến là yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tuân thủ quy định của pháp luật, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa.

+ Tại điểm b khoản 2 Điều 70 Bộ luật này quy định người phiên dịch, người dịch thuật có quyền đề nghị cơ quan yêu cầu bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa.

- Quy định chưa thống nhất về người được đề nghị, yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo vệ

Theo quy định tại Điều 487 BLTTHS năm 2015 thì chỉ người được bảo vệ mới có quyền làm văn bản đề nghị, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ, còn người đại diện của họ thì không có quyền này. Vậy thì ngay cả người được bảo vệ là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần cũng phải tự mình yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ. Như vậy chưa đáp ứng được yêu cầu bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người dưới 18 tuổi.

Trong khi Điều 487 BLTTHS năm 2015 quy định chỉ bị hại mới có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ thì tại điểm l khoản 2 Điều 62 Bộ luật này lại quy định cả bị hại và người đại diện của bị hại đều có quyền này.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)