Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật dân sự năm 2015

- Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010

- Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa năm 2007

2. Trách nhiệm sản phẩm là gì?

Trách nhiệm sản phẩm (product liability) là trách nhiệm của người sản xuất hoặc người bán hàng trong việc bồi thường các thiệt hại gây ra bởi khuyết tật của hàng hóa mà họ đã cung cấp cho người tiêu dùng trong quá trình kinh doanh.

3. Đặc điểm trách nhiệm sản phẩm là gì?

Thứ nhất, trách nhiệm sản phẩm là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại, đó là là trách nhiệm pháp lý của người sản xuất, người cung ứng sản phẩm hàng hoá đối với an toàn về sức khoẻ, tính mạng của người tiêu dùng.

>> Xem thêm:  Phân tích bản chất, đặc trưng, chức năng của nhà nước CHXHCN Việt Nam

Về bản chất, trách nhiệm sản phẩm là một dạng trách nhiệm dân sự, theo đó khi có thiệt hại xảy ra, pháp luật quy định buộc các chủ thể nhất định (chủ thể trực tiếp gây thiệt hại hoặc có liên quan đến việc gây ra thiệt hại) phải bù đắp những thiệt hại đã gây ra cho người khác dựa trên căn cứ pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hoặc do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng. Như đã phân tích ở trên, theo pháp luật trách nhiệm sản phẩm hiện đại, việc xác định trách nhiệm sản phẩm không nhất thiết chỉ dựa vào quan hệ hợp đồng giữa người bị thiệt hại và nhà sản xuất, cung ứng sản phẩm. Mối liên hệ giữa người phải chịu trách nhiệm và người bị thiệt hại được xác định thông qua một sản phẩm, theo đó, người phải chịu trách nhiệm là người sản xuất hoặc cung ứng sản phẩm và người được bồi thường thiệt hại là người tiêu dùng sản phẩm đó, giữa họ có thể có quan hệ hợp đồng trực tiếp hoặc không có quan hệ hợp đồng.

Thứ hai, chủ thể gánh chịu trách nhiệm sản phẩm là người sản xuất hoặc người bán hàng, tức là một chủ thể tham gia vào quy trình đưa một sản phẩm đến người tiêu dùng, có mối liên hệ trực tiếp đối với sản phẩm [4]. Chủ thể đó có thể là: (i) người sản xuất ra sản phẩm (bao gồm cả người sản xuất ra sản phẩm hoàn chỉnh hoặc là người sản xuất ra một phần, một bộ phận trong sản phẩm hoàn chỉnh đó); (ii) người thực hiện vai trò phân phối trung gian đối với sản phẩm (các nhà bán buôn, nhà phân phối) hoặc (iii) người cung cấp sản phẩm đến tận tay của người tiêu dùng (ví dụ: các cửa hàng bán lẻ).

Thứ ba, cơ sở để xác định trách nhiệm sản phẩm là việc sản phẩm có khuyết tật và khuyết tật đó gây ra thiệt hại cho người tiêu dùng. Khuyết tật của sản phẩm tồn tại dưới ba dạng: khuyết tật trong quá trình sản xuất, khuyết tật trong thiết kế sản phẩm, khuyết tật trong việc tiếp thị, quảng cáo sản phẩm (không cảnh báo nguy cơ mất an toàn cho người tiêu dùng).

4. Pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của Hoa Kỳ

Hoa Kỳ là nước tiên phong trong việc hình thành pháp luật về trách nhiệm sản phẩm. Đến nay, pháp luật Hoa Kỳ thừa nhận cả ba học thuyết về trách nhiệm sản phẩm: sự bất cẩn, trách nhiệm nghiêm ngặt và vi phạm nghĩa vụ bảo đảm. Hai lĩnh vực pháp luật được áp dụng phổ biến để quy trách nhiệm sản phẩm là pháp luật về bồi thường thiệt hại (torts law) và pháp luật về hợp đồng (đặc biệt là Điều 2-313 và 2- 314 Bộ luật thương mại thống nhất UCC quy định về các bảo đảm công khai và bảo đảm ngầm định của bên bán).

4.1. Trách nhiệm sản phẩm dựa trên sự bất cẩn

Trong trường hợp người tiêu dùng yêu cầu bồi thường đối với sản phẩm khuyết tật do sự bất cẩn, họ phải chứng minh được bốn yếu tố:

+ Nhà sản xuất có nghĩa vụ cẩn trọng hợp lý (reasonable care) trong việc sản xuất sản phẩm an toàn;

+ Nhà sản xuất đã vi phạm nghĩa vụ đó bằng việc không loại trừ các nguy cơ mất an toàn có thể dự liệu trước;

+ Có thiệt hại xảy ra;

>> Xem thêm:  M&A là gì ? Những thương vụ M&A lớn tại Việt Nam

+ Có mối quan hệ nhân quả giữa sự vi phạm nghĩa vụ của nhà sản xuất và thiệt hại xảy ra.

Trong đó, yếu tố thứ hai (nhà sản xuất đã vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng – tức là có lỗi bất cẩn) là yếu tố khó chứng minh nhất.

Các trường hợp bất cẩn có thể là: bất cẩn trong khâu sản xuất (lắp ráp bất cẩn, sử dụng nguyên vật liệu, bao bì không phù hợp), bất cẩn trong việc kiểm tra sản phẩm, bất cẩn trong việc không cảnh báo đầy đủ về nguy hiểm hoặc khuyết tật, bất cẩn trong việc thiết kế.

4.2. Trách nhiệm nghiêm ngặt

Trách nhiệm nghiêm ngặt là cơ sở thuận lợi nhất cho yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do khuyết tật của sản phẩm. Trách nhiệm nghiêm ngặt được hiểu là người sản xuất phải chịu trách nhiệm nếu như sản phẩm có khuyết tật và việc sử dụng sản phẩm có khuyết tật này trong điều kiện bình thường gây ra những thiệt hại cho người sử dụng, người khởi kiện không cần chứng minh có hay không có sự bất cẩn của nhà sản xuất, có hay không có nghĩa vụ đảm bảo.

Năm 1965, Bộ diễn giải Luật bồi thường thiệt hại (phiên bản lần thứ hai) (Restatement (Second) of Torts) do Viện luật Hoa Kỳ soạn thảo – được coi như một nguồn luật có tính chất tham khảo về bồi thường thiệt hại được các tòa án áp dụng phổ biến – đã chính thức ghi nhận nguyên tắc “trách nhiệm nghiêm ngặt” (Điều 402A). Sau đó, từng bước, các tòa án mở rộng phạm vi áp dụng không chỉ đối với sản phẩm có khuyết tật trong khâu sản xuất, mà cả với sản phẩm có khuyết tật do thiết kế và khiếm khuyết trong quảng cáo, tiếp thị (không cảnh báo cho người tiêu dùng về nguy cơ của sản phẩm). Năm 1998, Bộ diễn giải Luật bồi thường thiệt hại (phiên bản lần thứ ba) (Restatement (Third) of Torts) tiếp tục hoàn thiện các quy định về trách nhiệm sản phẩm theo học thuyết trách nhiệm nghiêm ngặt và Bộ diễn giải này được hầu hết tòa án của các bang áp dụng.

Nguyên tắc trách nhiệm nghiêm ngặt ban đầu được ghi nhận tại Điều 420A Bộ diễn giải Luật bồi thường thiệt hại (phiên bản lần thứ 2) như sau:

1. Người nào bán sản phẩm trong tình trạng có khuyết tật gây nguy hiểm một cách phi lý cho người sử dụng hoặc người tiêu dùng hoặc cho tài sản của họ thì phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại về thân thể gây ra bởi khuyết tật đó cho người sử dụng cuối hoặc người tiêu dùng, hoặc cho tài sản của người đó, nếu:

i) người bán là thương nhân kinh doanh sản phẩm đó, và

ii) sản phẩm được kỳ vọng và thực tế được đưa đến người sử dụng và người tiêu dùng mà không có thay đổi đáng kể về tình trạng sản phẩm so với khi nó được bán.

>> Xem thêm:  Ví dụ về cách thâm nhập thị trường quốc tế của một sản phẩm cụ thể ? Phân tích cách thâm nhập đó.

2. Quy định ở khoản 1 vẫn áp dụng kể cả khi: i) người bán đã thực hiện mọi sự cẩn trọng có thể trong việc sản xuất và bán sản phẩm, và ii) người sử dụng hay người tiêu dùng không mua sản phẩm từ người bán hoặc không có bất kỳ quan hệ hợp đồng nào với người bán. Như vậy, để áp dụng trách nhiệm nghiêm ngặt theo quy định trên phải thỏa mãn bốn yếu tố:

Một là, người bán là thương nhân kinh doanh sản phẩm đó, có thể là nhà sản xuất, người bán buôn hoặc người bán lẻ.

Hai là, sản phẩm phải được bán ra trong tình trạng có khuyết tật và nguy hiểm một cách phi lý cho người dùng do tình trạng khuyết tật đó. Tiêu chí để xác định tình trạng khuyết tật của sản phẩm là sản phẩm có đáp ứng kỳ vọng hợp lý của một người tiêu dùng bình thường hay không (consumer reasonable expectation). Sản phẩm nguy hiểm một cách phi lý là sản phẩm nguy hiểm tới mức một người tiêu dùng bình thường không thể dự liệu được nguy cơ đó một cách hợp lý.

Ba là, tình trạng nguy hiểm phi lý đó gây ra thiệt hại cho người tiêu dùng

Bốn là, sản phẩm không được biến đổi một cách đáng kể sau khi bán. Trong trường hợp sản phẩm đã được biến đổi bởi nguyên đơn hoặc người khác sau khi bán và sự biến đổi đó góp phần gây ra thiệt hại thì bị đơn không phải chịu trách nhiệm.

Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng Điều 420A nói trên đã nảy sinh nhiều vướng mắc, trong đó có vướng mắc trong việc xác định như thế nào là “tình trạng nguy hiểm phi lý” và vướng mắc trong việc áp dụng quy định này đối với khuyết tật do thiết kế. Bộ diễn giải Luật bồi thường thiệt hại (phiên bản lần thứ ba) đã khắc phục những vướng mắc này. Điều 2 Bộ diễn giải lần thứ ba này đưa ra định nghĩa rõ ràng mang tính phân biệt về ba loại khuyết tật sản phẩm. Theo đó:

Một sản phẩm có khuyết tật khi, tại thời điểm bán hoặc phân phối, nó chứa đựng khuyết tật trong sản xuất, có khuyết tật trong thiết kế, hoặc có khuyết tật do sự chỉ dẫn hoặc cảnh báo không đầy đủ. Một sản phẩm:

i) Chứa đựng khuyết tật trong sản xuất khi sản phẩm đó khác so với thiết kế mặc dù đã thực hiện mọi sự cẩn trọng có thể trong việc sản xuất và tiếp thị sản phẩm đó;

ii) Có khuyết tật trong thiết kế khi rủi ro gây thiệt hại có thể lường trước của sản phẩm đã có thể giảm thiểu hoặc tránh được bằng việc sử dụng một thiết kế thay thế hợp lý bởi người bán hoặc người phân phối khác, hoặc một chủ thể đứng trước trong chuỗi phân phối thương mại, và việc bỏ sót thiết kế thay thế này khiến cho sản phẩm không an toàn một cách hợp lý;

iii) Có khuyết tật do sự chỉ dẫn hoặc cảnh báo không đầy đủ khi khi rủi ro gây thiệt hại có thể lường trước của sản phẩm đã có thể giảm thiểu hoặc tránh được bằng việc cung cấp chỉ dẫn hoặc cảnh báo hợp lý bởi người bán hoặc người phân phối khác, hoặc một chủ thể đứng trước trong chuỗi phân phối thương mại, và việc bỏ sót chỉ dẫn hoặc cảnh báo này khiến cho sản phẩm không an toàn một cách hợp lý;

>> Xem thêm:  Phân tích chiến lược kinh tế đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Đối với khuyết tật trong sản xuất, pháp luật Hoa Kỳ sử dụng tiêu chí “sự kỳ vọng của người tiêu dùng” để xác định bởi khuyết tật về sản xuất làm thất vọng sự mong đợi hợp lý của người tiêu dùng. Tiêu chí cụ thể để xác định khuyết tật sản xuất là liệu trong quá trình sản xuất, sản phẩm có bị sai khác so với thiết kế của nó hay không. Điều này sẽ chỉ xảy ra đối với một hoặc một số sản phẩm.

Đối với khuyết tật trong thiết kế, pháp luật Hoa Kỳ sử dụng phương pháp cân bằng giữa rủi ro và lợi ích để xác định, tức là tòa án sẽ phải đánh giá, phân tích nhiều yếu tố như: tính hữu ích của sản phẩm, các khía cạnh an toàn của sản phẩm, khả năng có mẫu thiết kế thay thế hợp lý, và liệu mẫu thiết kế thay thế hợp lý có làm phát sinh các mối nguy hiểm khác cho sản phẩm hay không.

Đối với khuyết tật trong cảnh báo, nguyên đơn phải chứng minh rằng nhà sản xuất không cung cấp chỉ dẫn hoặc cảnh báo đầy đủ về sản phẩm. Để xác định như thế nào là một cảnh báo có khiếm khuyết, các tòa án xem xét nội dung và sự toàn diện, tính chất mạnh mẽ trong cách thể hiện, và đặc điểm của nhóm người sử dụng sản phẩm kỳ vọng. Nhà sản xuất cũng phải cảnh báo về các rủi ro không mang tính hiển nhiên và không được biết đến thông thường để người tiêu dùng có thể đưa ra một quyết định với đầy đủ thông tin về việc có hay không tiếp tục sử dụng sản phẩm đó. Tuy nhiên, nhà sản xuất thường không phải chịu trách nhiệm do không cảnh báo người tiêu dùng về rủi ro mang tính hiển nhiên và được biết đến thông thường.

Về các trường hợp miễn trách nhiệm, Bộ diễn giải Luật bồi thường thiệt hại lần thứ 3 quy định nhà sản xuất không phải chịu trách nhiệm nếu nguyên đơn không thể chứng minh được rằng khuyết tật tồn tại vào thời điểm sản phẩm rời khỏi tay nhà sản xuất. Ngoài ra còn có các trường hợp miễn trách nhiệm hoặc giảm mức bồi thường như sử dụng sản phẩm không đúng, biến đổi hoặc thay đổi sản phẩm. “Tính phù hợp với tình trạng kỹ thuật” (state of the art) cũng là một căn cứ thường được các nhà sản xuất viện dẫn để được miễn trách nhiệm đối với khuyết tật sản phẩm do thiết kế. Tình trạng kỹ thuật được hiểu là thiết kế sản phẩm phù hợp với thông lệ của ngành, phản ánh công nghệ an toàn nhất và tiên tiến nhất đã được phát triển và đang được sử dụng trong thương mại, hoặc nó phản ánh công nghệ tiến bộ nhất với tri thức khoa học hiện có.

4.3. Vi phạm nghĩa vụ bảo đảm (warranty)

Nghĩa vụ bảo đảm sản phẩm cũng là một trong các cơ sở quan trọng để áp đặt trách nhiệm sản phẩm. Trách nhiệm của người sản xuất và cung ứng là phải bảo đảm chất lượng sản phẩm của mình. Nghĩa vụ bảo đảm được quy định trong Bộ luật thương mại thống nhất (UCC). Có ba nghĩa vụ bảo đảm là: bảo đảm công khai (express warranty) được quy định tại Điều 2-313 UCC; bảo đảm ngầm định về tính thương mại của sản phẩm (implied warranty of merchantability) và bảo đảm ngầm định về tính phù hợp với công dụng của sản phẩm (implied warranty of fitness for intended purpose) được quy định tại Điều 2-314 UCC.

Bảo đảm công khai được hình thành bởi sự khẳng định hay cam kết của người bán liên quan đến hàng bán về việc hàng bán sẽ phù hợp với khẳng định hay cam kết đó.

Bảo đảm ngầm định về tính thương mại luôn xuất hiện trong hợp đồng mua bán hàng hóa nếu như người bán là thương nhân kinh doanh mặt hàng đó và trong hợp đồng không đưa ra sự thay đổi hoặc loại trừ nào đối với tính thương mại của sản phẩm; khi đó, hàng hóa được coi là mang tính thương mại theo những tiêu chuẩn chung đối với sản phẩm cùng loại.

Bảo đảm về công dụng, về tính thích hợp với một công dụng cụ thể chỉ xuất hiện khi người bán hay người cung ứng có cơ sở tin rằng người mua mua sản phẩm để nhằm một mục đích cụ thể nhất định và người mua dựa vào kỹ năng, kinh nghiệm và đánh giá của người bán hay người cung ứng khi chọn sản phẩm đó.

5. Các quy định pháp luật Việt Nam về trách nhiệm sản phẩm

>> Xem thêm:  Mẫu đơn đề nghị cấp giấy phép cho lực lượng, phương tiện nước ngoài vào tìm kiếm, cứu nạn tại Việt Nam (mẫu số 1)

5.1. Giai đoạn trước năm 2010

Trước năm 2010, chế định trách nhiệm sản phẩm chưa hình thành chính thức ở Việt Nam. Văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất ở Việt Nam về bảo vệ người tiêu dùng là Pháp lệnh bảo vệ người tiêu dùng năm 1999, bên dưới là các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này, tuy nhiên Pháp lệnh chưa quy định khái niệm trách nhiệm sản phẩm, khái niệm sản phẩm khuyết tật, nguyên tắc áp dụng trách nhiệm sản phẩm, vấn đề thu hồi sản phẩm có khuyết tật… Do đó, trên thực tế, tình trạng sản phẩm kém chất lượng gây thiệt hại cho người tiêu dùng xảy ra phổ biến nhưng không có đủ cơ sở pháp lý để xử lý, buộc các doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm bồi thường. Trong khi đó, quyền lợi người tiêu dùng ngày càng bị xâm phạm tràn lan ở mọi lĩnh vực, mọi phương diện của nền kinh tế và đời sống xã hội, đặc biệt là các sản phẩm thiết yếu như thực phẩm, quần áo, mỹ phẩm,…

Điều 630 Bộ luật dân sự năm 2005 (Bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng) quy định: Cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác sản xuất, kinh doanh không bảo đảm chất lượng hàng hóa mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường.

Năm 2007, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa được ban hành, trong đó quy định các nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh như tuân thủ các điều kiện bảo đảm chất lượng đối với sản phẩm trước khi đưa ra thị trường và chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm do mình sản xuất; cảnh báo về khả năng gây mất an toàn của sản phẩm và cách phòng ngừa cho người bán hàng và người tiêu dùng; sửa chữa, hoàn lại hoặc đổi hàng mới, nhận lại hàng có khuyết tật bị người bán hàng, người tiêu dùng trả lại; thu hồi, xử lý sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng; bồi thường thiệt hại (Điều 10, Điều 12, Điều 16).

Đáng chú ý là Luật này dành riêng Mục 2, Chương V quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại về chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Theo đó, nguyên tắc chung là thiệt hại do vi phạm quy định về chất lượng sản phẩm, hàng hóa phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời (Điều 59).

Các thiệt hại phải bồi thường do hàng hóa không bảo đảm chất lượng bao gồm: thiệt hại về giá trị hàng hóa, tài sản bị hư hỏng hoặc bị hủy hoại; thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người; thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác hàng hóa, tài sản; chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại (Điều 60).

Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm: người sản xuất, người nhập khẩu phải bồi thường thiệt hại cho người bán hàng hoặc người tiêu dùng khi hàng hóa gây thiệt hại do lỗi của người sản xuất, người nhập khẩu không bảo đảm chất lượng hàng hóa; người bán hàng phải bồi thường thiệt hại cho người mua, người tiêu dùng trong trường hợp thiệt hại phát sinh do lỗi của người bán hàng không bảo đảm chất lượng hàng hóa. (Điều 61).

Điều 62 của Luật quy định các trường hợp không phải bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng như sau: người tiêu dùng sử dụng hàng hóa đã hết hạn sử dụng; đã hết thời hiệu khiếu nại, khởi kiện; đã thông báo hàng hóa có khuyết tật đến người tiêu dùng nhưng người tiêu dùng vẫn sử dụng hàng hóa đó; sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật do tuân thủ quy định bắt buộc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; trình độ khoa học, công nghệ của thế giới chưa đủ để phát hiện khả năng gây mất an toàn của sản phẩm tính đến thời điểm hàng hóa gây thiệt hại; thiệt hại phát sinh do lỗi của người mua, người tiêu dùng.

Như vậy, Bộ luật dân sự năm 2005 và Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 đã bước đầu quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà sản xuất, người bán hàng đối với hàng hóa không bảo đảm chất lượng, tuy nhiên Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa sử dụng không thống nhất các thuật ngữ, có lúc sử dụng thuật ngữ “hàng hóa không bảo đảm chất lượng”, có lúc sử dụng thuật ngữ “hàng hóa có khuyết tật”, có lúc lại sử dụng thuật ngữ “sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn” (Điều 3 khoản 4) và không có định nghĩa về hàng hóa có khuyết tật hay hàng hóa không bảo đảm chất lượng.

Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh phải dựa trên cơ sở lỗi của người sản xuất, người bán hàng, nhưng quy định nhiều trường hợp loại trừ trách nhiệm này. Trong giai đoạn trước năm 2010 cũng không ghi nhận được trường hợp nào tòa án xét xử tranh chấp về bồi thường thiệt hại do nhà sản xuất, người bán hàng cung cấp hàng hóa không bảo đảm chất lượng cho người tiêu dùng.

>> Xem thêm:  Phân tích vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ngân hàng nhà nước Việt Nam ?

5.2. Giai đoạn từ năm 2010 đến nay

Năm 2010, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được ban hành đã có những quy định cụ thể hơn về trách nhiệm sản phẩm. Luật đã đưa ra khái niệm hàng hóa có khuyết tật, đó là hàng hóa không bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng, có khả năng gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kể cả trường hợp hàng hóa đó được sản xuất theo đúng tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật hiện hành nhưng chưa phát hiện được khuyết tật tại thời điểm hàng hóa được cung cấp cho người tiêu dùng, bao gồm:

(i) Hàng hóa sản xuất hàng loạt có khuyết tật phát sinh từ thiết kế kỹ thuật;

(ii) Hàng hóa đơn lẻ có khuyết tật phát sinh từ quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyển, lưu giữ;

(iii) Hàng hóa tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn trong quá trình sử dụng nhưng không có hướng dẫn, cảnh báo đầy đủ cho người tiêu dùng.

Như vậy, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chỉ quy định trách nhiệm sản phẩm đối với hàng hóa, không áp dụng đối với dịch vụ.

Về trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật, Điều 22 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định: Khi phát hiện hàng hóa có khuyết tật, tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa có trách nhiệm kịp thời tiến hành mọi biện pháp cần thiết để ngừng việc cung cấp hàng hóa có khuyết tật trên thị trường; thông báo công khai về hàng hóa có khuyết tật và việc thu hồi hàng hóa đó ít nhất 05 số liên tiếp trên báo ngày hoặc 05 ngày liên tiếp trên đài phát thanh, truyền hình tại địa phương mà hàng hóa đó được lưu thông (với các nội dung: mô tả hàng hóa phải thu hồi; lý do thu hồi hàng hóa và cảnh báo nguy cơ thiệt hại do khuyết tật của hàng hóa gây ra; thời gian, địa điểm, phương thức thu hồi hàng hóa; thời gian, phương thức khắc phục khuyết tật của hàng hóa; các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong quá trình thu hồi hàng hóa); thực hiện việc thu hồi hàng hóa có khuyết tật đúng nội dung đã thông báo công khai và chịu các chi phí phát sinh trong quá trình thu hồi; báo cáo kết quả cho cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cấp tỉnh nơi thực hiện thu hồi hàng hóa có khuyết tật sau khi hoàn thành việc thu hồi và nếu trường hợp việc thu hồi hàng hóa có khuyết tật được tiến hành trên địa bàn từ hai tỉnh trở lên thì báo cáo kết quả cho cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở trung ương.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra, Điều 23 của Luật quy định tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp hàng hóa có khuyết tật do mình cung cấp gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kể cả khi tổ chức, cá nhân đó không biết hoặc không có lỗi trong việc phát sinh khuyết tật, trừ trường hợp miễn trách nhiệm được quy định tại Điều 24 của Luật.

Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa được hiểu bao gồm: Tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hóa; Tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa; Tổ chức, cá nhân gắn tên thương mại lên hàng hóa hoặc sử dụng nhãn hiệu, chỉ dẫn thương mại cho phép nhận biết đó là tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa; Tổ chức, cá nhân trực tiếp cung cấp hàng hóa có khuyết tật cho người tiêu dùng. Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.

Các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa nói trên được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi chứng minh được khuyết tật của hàng hóa không thể phát hiện được với trình độ khoa học, kỹ thuật tại thời điểm tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa cung cấp cho người tiêu dùng. Như vậy, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chỉ ghi nhận duy nhất một trường hợp được miễn trách nhiệm bồi thường liên quan đến hàng hóa có khuyết tật và trách nhiệm chứng minh này do tổ chức, cá nhân kinh doanh thực hiện.

>> Xem thêm:  Phân tích đặc điểm, cấu trúc của bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay ?

Có thể thấy, các quy định về trách nhiệm sản phẩm trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã có một số điểm tiến bộ, trong chừng mực nhất định có sự phù hợp với pháp luật trách nhiệm sản phẩm của các nước phát triển. Ví dụ, Luật đã ghi nhận đầy đủ ba dạng hàng hóa khuyết tật gồm khuyết tật trong thiết kế, khuyết tật trong sản xuất, khuyết tật trong cảnh báo và cụ thể hóa phạm vi các chủ thể có trách nhiệm bồi thường. Đặc biệt, Luật thừa nhận nguyên tắc trách nhiệm nghiêm ngặt (buộc tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm bồi thường thiệt hại kể cả khi họ không biết hoặc không có lỗi trong việc phát sinh khuyết tật). So với nhiều nước trong khu vực và thế giới, việc thừa nhận nguyên tắc này được xem là một bước tiến tích cực trong nhận thức về bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam thời gian qua.

Mặc dù Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được ban hành, nhưng các quy định về bồi thường thiệt hại trong Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa vẫn được giữ nguyên và còn hiệu lực, tạo nên sự chồng chéo, mâu thuẫn trong quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh đối với hàng hóa có khuyết tật. Mâu thuẫn được thể hiện rõ qua các quy định về lỗi, về chủ thể chịu trách nhiệm, về thiệt hại được bồi thường, và các trường hợp miễn trách nhiệm.

Bên cạnh đó, Điều 608 Bộ luật dân sự năm 2015 (Bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng), trên cơ sở kế thừa Điều 630 Bộ luật dân sự cũ năm 2005 quy định: “Cá nhân, pháp nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường”. Như vậy, Bộ luật dân sự năm 2015 lại tạo nên sự không thống nhất với Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khi mở rộng trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với cả “dịch vụ” và sử dụng thuật ngữ “hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng” thay vì thuật ngữ “hàng hóa có khuyết tật”.

Như vậy, hiện nay có 3 văn bản luật tồn tại đồng thời đều quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà sản xuất, kinh doanh cho người tiêu dùng đối với sản phẩm có khuyết tật, với quy định không thống nhất với nhau, dẫn đến sự lúng túng, vướng mắc của tòa án trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập