1. Khái niệm luật La Mã

Luật La Mã là hệ thống pháp luật La Mã cổ đại thuộc kiểu pháp luật chiếm hữu nô lệ La Mã.

Pháp luật La Mã cổ đại được nâng lên hàng “Lý trí thành văn”, được tiếp thu, vận dụng rộng rãi trong các nhà nước phong kiến Tây Âu và là một nguyên tắc cơ bản của nhiều chế định pháp luật, nhất là pháp luật dân sự tư sản.

Có một cách nói được truyền tụng rộng rãi là người La Mã đã ba lần chinh phục thế giới: lần thứ nhất bằng các đạo quân lê dương; lần thứ hai bằng Thiên Chúa giáo; và lần thứ ba bằng pháp luật.

Xét về bản chất, luật La Mã thể hiện ý chí của giai cấp chủ nô, phản ánh lợi ích của giai cấp thống trị, là công cụ đàn áp nô lệ, chúng ra đời trong điều kiện cụ thể của xã hội La Mã cổ đại, khi quan hệ, giao lưu thương mại dựa trên chế độ sở hữu tư nhân rất phát triển ở dạng thuần túy, lại được một đội ngũ luật sư đông đảo và có trình độ nghiệp vụ cao biết sử dụng ngôn ngữ pháp lí để thể hiện các nhu cầu pháp lí của các quan hệ, giao lưu thương mại, hàng hóa một cách đúng đắn thành các quy định, chế định pháp lí chặt chẽ, có tính mẫu mực, mang ý nghĩa của một bộ phận tiêu biểu của nền văn minh La Mã.

Lần pháp điển hóa đầu tiên của luật La Mã được tiến hành vào những năm 50 của thế kỉ V trước Công nguyên với tên gọi: Luật XII bảng - vì được khắc trên mười hai bảng gỗ và đặt ở quảng trường thành phố để mọi người đều có thể đọc để biết và không ai được nói rằng, mình là người không biết pháp luật. Có đòi hỏi đã trở thành nguyên tắc được lưu truyền đến ngày nay là mỗi công dân La Mã khi đến tuổi trưởng thành bắt buộc phải thuộc lòng Luật XII bảng, nếu không sẽ không được hưởng các quyền công dân, trong đó có quyền tham gia vào các hoạt động của Tòa án.

Nói đến pháp luật La Mã phải thấy rằng xã hội La Mã với chế độ chiếm hữu nô lệ tồn tại kéo dài trên dưới 1000 năm (từ thế kỉ V trước Công nguyên đến thế kỉ V sảu Công nguyên), qua các giai đoạn: Vương chính là giai đoạn khi xã hội La Mã chuyển từ xã hội thị tộc sar:g xã hội có giai cấp, có nhà nước và kéo dài khoảng 2 thế kỉ, chế độ Cộng hòa kéo dài chừng 4 thế kỉ từ thế kỉ V trước Công nguyên đến thế kỉ I trước Công nguyên; đến chế độ Đế chế thế kỉ I trước Công nguyên đến thế kỉ V sau Công nguyên. Trong khoảng thời gian không ngăn đó, pháp luật La Mã đã trải qua các giai đoạn phát triển tương ứng, trong đó Luật XII bảng ra đời đầu tiên vào giữa thế kỉ V trước Công nguyên là lần pháp điển hóa thứ nhất, đã có một ảnh hưởng to lớn, lâu dài trong suốt thời gian tổn tại của xã hội La Mã cổ đại và trong các xã hội kéo dài hàng ngàn năm sau, đồng thời, phải thấy rằng, pháp luật La Mã không chỉ là Luật XII bằng.

Thế kỉ cuối cùng của nền Cộng hòa (thế kỉ thứ nhất trước Công nguyên) và 2 thế kỉ đầu tiên của chế độ Đế chế (thế kỉ thứ nhất và thứ hai sau Công nguyên) là thời kì cực thịnh của luật La Mã. Các chấp chính quan và các Hoàng đế La Mã, trước ảnh hưởng sâu rộng của Luật XII bảng, không chủ trương trực tiếp phủ định Luật này mà lần lượt đưa ra các lệnh có giá trị như Luật cho các thẩm phán thi hành trong khi xét xử và bằng cách đó, không nhắc tới các quy định của Luật XII bảng. Chủ nghĩa pháp lí hình thức rất tiêu biểu cho Luật XII bảng đã hoàn toàn đi vào dĩ vãng. Các nguyên tắc bình đẳng, công bằng, thiện chí được thừa nhận chính thức. Các chấp chính quan kế tục nhau khẳng định các lệnh của người tiền nhiệm và dần dần làm hình thành hệ thống pháp luật chấp chính quan. Nhưng xét đến ảnh hưởng lâu dài không chỉ trong xã hội La Mã cổ đại mà cả trong nhiều thế kỉ về sau và đối với những xã hội ngoài La Mã cho đến tận ngày nay, thì không thể không thấy trong các bộ phận cấu thành luật La Mã cổ đại, Luật XII bảng là tiêu biểu hơn cả không chỉ vì tính mở đầu độc đáo mà ở cả nội dung đầy sáng tạo, hoàn chỉnh, cũng vì vậy, Luật XII bảng có tính đại diện. Nói đến Luật La Mã người ta nghĩ ngay đến Luật XII bảng và cũng thường có tình hình đồng nhất Luật La Mã với Luật XII bảng tuy trên thực tế dù Luật XII bảng có tính tiêu biểu, điển hình, có tính đại diện cho luật La Mã nhưng luật La Mã không chỉ có Luật XII bảng mà tiếp sau Luật XII bảng và để đưa Luật XII bảng thích ứng, phục vụ tốt hơn nhu cầu phát triển, tiến hóa của xã hội La Mã cổ đại, luật La Mã đã có những bước phát triển mới, trải qua các giai đoạn phát triển của xã hội La Mã cổ đại, từ xã hội Vương chính sang giai đoạn Cộng hòa, có Đại hội nhân dân với thẩm quyển ban hành Luật, cử ra các chức danh cao nhất của Nhà nước, giám đốc thẩm các vụ án tử hình, có Viện nguyên lão đại diện cho 300 thị tộc với quyền quản lí trực tiếp, xây dựng các dự án Luật, kí kết các điều ước hòa bình.

Ra đời và thích ứng với lộ trình phát triển của xã hội La Mã cổ đại, luật La Mã không dừng lại ở nguồn đầu tiên - Luật XII bảng mà qua các giai đoạn phát triển đã có thêm những nguồn mới từ các lần pháp điển hóa về sau. Trong lịch sử luật La Mã, ngoài lần pháp điển hóa đầu tiên mà sản phẩm là Luật XII bảng, ở các giai đoạn phát triển khác nhau, các lần pháp điển hóa tiếp theo đã được tiến hành, có lúc là do các cá nhân tiến hành, như ở cuối thế kỉ III - đầu thế kỉ IV có Codex Gregorianus (Bộ luật Gregorianus), Codex Hermogenianus (Bộ luật Hermogenianus). Dưới triều Hoàng đế Thêôđôxiut II (Theodosius II), ở nửa đầu thế kỉ V lần thể chế hóa chính thức đã được thực hiện. Tiếp đó, một số lần pháp điển hóa nữa cũng đã được thực hiện và lần pháp điển hóa, xét theo quy mô cũng như ý nghĩa rộng lớn hơn cả, được thực hiện dưới triều Hoàng đế Juxtinianut I (Justinianus I) ở đầu thế kỉ VI, khi nhu cầu thống nhất đế chế La Mã bị phân chia thành miền Đông, miền Tây do bị quân đội “man tộc" chiếm đóng. Đồng thời, nhu cầu bức xúc của giai cấp thống trị chủ nô phải thống nhất pháp luật trên phạm vi toàn đế chế và loại bỏ tất cả những quy định pháp luật lỗi thời để thay vào đó những quy định pháp luật mới có khả năng đáp ứng các quan hệ xã hội đã thay đổi đã được đặt ra. Các tiểu ban đặc biệt đã được thành lập, các luật gia lỗi lạc đã được thu hút vào công cuộc pháp điển hóa. Năm 528, một tiểu ban được giao tập hợp, rà soát các luật do các Hoàng đế ban hành và kết quả là năm 529, cái gọi là bộ luật đầu tiên đã được hoàn thành. Rất tiếc là bộ luật này không còn lưu lại được đến ngày nay. Năm 530, một tiểu ban pháp điển hóa luật - trước tác của các luật gia kinh điển đã được tiến hành và kết quả là năm 533 một tuyển tập gồm 50 tập, gồm các trích dẫn từ tác phẩm của các luật gia nổi tiếng có tính kinh điển đã được kết thúc với tên gọi Digesfa (tuyển tập) có hiệu lực bắt buộc như luật. Cũng trong năm 533 cuốn sách giáo khoa cơ bản Luật La Mã - “Các chế định" được xuất bản và có hiệu lực như Luật. Song song với các công trình pháp điển hóa đó, Hoàng đế Juxtinianut I theo trình tự lập pháp đã giải quyết một loạt vấn đề còn nhiều tranh chấp của pháp luật dân sự. Những văn bản thế đó được ban hành với tên gọi: “50 quyết định”, kết quả là năm 534 một bộ luật mới được ban hành với 12 tập, phân chia theo hàm cấp...

Luật La Mã mà ngày nay vẫn đang thu hút sự quan tâm của nhiều người như một giá trị pháp lí đáng trân trọng hình thành trong cả một quá trình kéo dài trên dưới một ngàn năm, trong đó, phần pháp luật dân sự là bộ phận nổi bật nhất mà các chế định của nó, từ quyền sở hữu, vật quyền, hợp đồng, trái vụ, hôn nhân và gia đình, thừa kế vẫn còn giữ nguyên giá trị, ví như lời nhận xét của Ăngghen: “Đó là hình thức pháp luật hoàn chỉnh nhất có cơ sỏ là chế độ sở hữu tư nhân mà chúng ta biết được với độ chính xác không thể vượt qua trong việc thể hiện tất cä các quan hệ pháp luật cơ bản của những người chiếm hữu hàng hóa đơn giản (người mua - người bán, chủ nợ - con nợ, hợp đồng, trái vụ...”. Không phải ngẫu nhiên, Ăngghen đã đánh giá: “luật La Mã là sự thể hiện có tính kinh điển về mặt pháp lí điều kiện sống cũng như các mâu thuẫn của một xã hội, nơi sở hữu tư nhân thuần túy thống trị mà tất cả những hệ thống pháp luật về sau không thể đưa được gì có tính cơ bản vào đó".

 

2. Nội dung của luật La Mã

Nội dung của Luật XII bảng chủ yếu bao gồm các quy tắc tục lệ, tập quán pháp. Nguyên bản Luật XII bảng không còn lưu lại được đến ngày nay. Người ta biết đến Luật XII bảng là nhờ những trích dẫn của các nhà sử học, luật gia La Mã, nhất là của các luật gia như: Xixêrông, Ulpian, Gay, đặc biệt là từ tác phẩm của Gay: sách giáo khoa về “các thiết chế” là sách được viết cho các trường dạy luật La Mã thời bấy giờ. Luật XII bảng phân biệt “công pháp” với tính cách là một tổng hợp bao gồm các quy phạm liên quan đến Nhà nước La Mã như một chỉnh thể và “tư pháp" là những quy định liên quan đến lợi ích của cá nhân. Luật XII cũng phân biệt, chia “vật' thành hai loại: loại thứ nhất gồm đất đai, nô lệ, gia súc - sức kéo; loại thứ hai gồm tất cả các vật khác còn lại. Ý nghĩa của việc phân biệt “vật” thành hai loại là ở chỗ, đối với loại thứ nhất việc chuyển nhượng đòi hỏi một thủ tục riêng, chặt chẽ, chẳng hạn thủ tục chạm tay vào vật của người làm chứng.

 

3. Chế định về tài sản

3.1 Phân loại các loại tài sản:

- Vật hữu hình và vật vô hình: Vật hữu hình là vật có thể sờ được ; vật không thể sờ được là vật vô hình.

- Vật cho người và vật cho thần linh. Vật cho người là tất cả những vật được con người sử dụng trong đời sống của mình, bao gồm tất cả những vật có giá trị tài sản và có thể chuyển nhượng được, các vật gọi là của chung- những vật được tất cả mọi người sử dụng nhưng không thuộc về ai, vật của Nhà nước, vật của cộng đồng. Vật cho thần linh là khi các vật được sử dụng vào mục đích tôn giáo, tín ngưỡng, như các vật dùng cho việc cúng tế vị thần, vật thuộc về người chết,…

- Vật lưu thông được và không lưu thông được. Vật lưu thông được là những vật có thể chuyển nhượng được, và ngược lại là vật không lưu thông được.

- Vật tiêu hao và vật không tiêu hao: Vật tiêu hao là vật sẽ mất đi do sử dụng. Các vật không mất đi do sử dụng là vật không tiêu hảo.

- Vật cùng loại và vật đặc định: vật cùng loại là vật được xác định bằng số lượng, trọng lượng hoặc thể tích và có thể được thay thế. Vật đặc định là vật có thể được cá thể hóa nhờ các đặc điểm cấu tạo cho phép phân biệt với các vật khác.

- Vật chính và vật phụ: vật phụ là các vật có chức năng phục vụ cho việc khai thác vật chính nhưng không phải là một thành phần cấu tạo vật chính. Vật chính và vật phụ là những cá thể riêng biệt, nhưng vật phụ cần thiết cho vật chính như là một công cụ để khai thác công dụng của vật chính.

- Tài sản gốc và hoa lợi: hoa lợi là những vật, những vật sinh ra được theo định kỳ từ một vật khác mà không làm ảnh hưởng đến sự toàn vẹn của vật khác đó.

 

3.2 Quyền đối vật và quyền đối nhân

- Quyền đối vật là quyền được thực hiện trực tiếp trên vật, quyền đối nhân là quyền được thực hiện chống lại hành vi của một người gọi là người có nghĩa vụ.

Quyền đối vật có thể được thực hiện trên vật thuộc về người có quyền. Người có quyền đối vật thực hiện quyền của mình đối với vật mà không cần quan tâm đến ý chí của bất kỳ người nào khác.

 

4. Chế định sở hữu

4.1 Quyền sở hữu của gia đình bao gồm các quyền như sau:

– Công hữu và tư hữu: quyền sở hữu của dòng họ mang tính chất tập thể; quyền sở hữu của gia đình mang tính chất cá nhân.

– Quyền sở hữu và chủ quyền

– Chiếm hữu và sở hữu

 

4.2 Quyền sở hữu cá nhân

Quyền sở hữu trong luật cổ điển có tính chất pháp định, vĩnh viễn, độc quyền và tuyệt đối. Theo đó, quyền sở hữu được pháp luật thừa nhận và chi phối; quyền sở hữu chỉ mất đi một khi đối tượng của quyền sở hữu không còn; quyền sở hữu có tác dụng mang lại cho chủ sở hữu các quyền của một người chỉ đối với tài sản.

Quyền sở hữu bị hạn chế khi ưu tiên của lợi ích công cộng và khi một người thực hiện quyền của mình với ý định gây thiệt hại cho người khác có thể bị chế tài hạn chế.

 

4.3 Chiếm hữu

Chiếm hữu là việc thực hiện một quyền thể hiện thành các giao dịch vật chất, các biểu hiện bề ngoài của giao dịch.

Đối tượng của sự chiếm hữu được thực hiện đối với các tài sản hữu hình và phái là những tài sản có thể được sở hữu, những tài sản không được phép chuyển nhượng sẽ không thể chiếm hữu.

Quyền sở hữu:

Sở hữu chung được hiểu là mỗi chủ sở hữu trong sản nghiệp của mình một quyền đối với tài sản là đối tượng là đối tượng của quyền sở hữu chung đó

Sở hữu một phần khi các chủ sở hữu chung một tài sản thì có quyền yêu cầu phải phân chia tài sản chung thành các phần theo tỷ lệ sở hữu

Quyền sở hữu được xác lập thông qua việc chiếm giữ tài sản; sáp nhập; chế biến; xác lập quyền sở hữu đối với hoa lợi

Quyền sở hữu chấm dứt khi không còn đối tượng sở hữu, khi mất hoặc từ bỏ đối tượng sở hữu;

 

5. Chế định nghĩa vụ

Nghĩa vụ là một mối liên hệ pháp lý, theo đó một người buộc phải làm một việc nhất định, phù hợp với nội dung của một quyền mà một khác được hưởng. Nội dung chủ yếu của nghĩa vụ là việc một người được ở trong tình trạng có trách nhiệm đối với một người khác đối với việc chuyển giao một vật, làm hoặc thực hiện một công việc gì đó.

Chủ thể của nghĩa vụ là những người có quan hệ nghĩa vụ đối với nhau: người có quyền, gọi là chủ thể có; người có nghĩa vụ, gọi là chủ thể nợ

Khách thể là nghĩa vụ phải thực hiện: có thể là việc chuyển quyền sở hữu; thực hiện hay không thực hiện một công việc nào đó

Chế tài là biện pháp dự liệu để bỏ vệ lợi ích của người có quyền trong quan hệ nghĩa vụ, một khi người có nghĩa vụ không tự giác thực hiện nghĩa vụ của mình.

Xác lập nghĩa vụ

Hợp đồng là sự thỏa thuận giữ các bên nhằm xác lập nghĩa vụ. Gồm có 4 loại hợp đồng là hợp đồng: mua bán, thuê, lập công ty và ủy quyền.

Hợp đồng mua bán là sự thỏa thuận, một bên chuyển giao tài sản cho bên kìa và nhận lại một số tiền. Hợp đồng mua bán được giao kết trên cơ sở có sự ưng thuận về tài sản và giá bán. Tài sản bán phải là tài sản được tự do lưu thông, đó có thể là động sản hoặc bất động sản, một vật hữu hình hoặc vô hình.

Giá bán là một số tiền có thật, và giá bán phải có thực và được xác định, tức phải được xác định ở một ở một thời điểm giao kết hợp đồng bằng một cong số. Hợp đồng mua bán được xác lập trên sự ưng thuận , một bên hứa bán, bên kia hứa mua. Người bán phải bảo quản tài sản bán cho đến khi giao cho người mua và phải chịu trách nhiệm trong trường hợp mất hoặc làm tài sản hư hỏng. Qua hợp đồng mua bán, bên bán chuyển giao sự chiếm hữu cho bên kia.

Hợp đồng cho thuê có đối tượng là một vật, một công việc phải thực hiện hoặc một công lao động được khai thác. Đây là loại hợp đồng song vụ, ưng thuận và có tính chất ngay tình.

Hợp đồng thuê tài sản thì có tài sản phải được tự do lư thông, có thể là động sản hoặc bất động sản. Hợp đồng thuê công lao động là loại hợp đồng làm thuê. Đối tượng của hợp đồng là những ngày công sử dụng của người lao động tự do. Hợp đồng khoán việc là sự thỏa thuận, theo đó, một người thực hiện một công việc theo yêu cầu của người khác, sau đó trả cho người nhận khoán một số tiền công được ấn định theo thỏa thuận.

Hợp đồng lập công ty là sự thỏa thuận giữa nhiều người nhằm góp tài sản để cùng khai thác với mục đích thu lợi chung. Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận, theo đó một người giao cho một người khác trách nhiệm thực hiện một công việc vì lợi ích của người ủy quyền.

Các hợp đồng thực tại song vụ gồm: hợp đồng gửi giữ; hợp đồng cho mượn tài sản; hợp đồng cầm cố

Thực hiện công việc không có ủy quyền là việc một người can thiệp vào công việc của người khác vì lợi ích của họ trong điều kiện giữa hai người không có hợp đồng ủy quyền.

Xác lập nghĩa vụ không theo ý chí, sự kiện pháp lý : đây là trường hợp sự kiện pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ là một sự kiện có nguồn gốc từ hành vi trái pháp luật hoặc từ hành vi gần như trái pháp luật của con người. Hành vi trái pháp luật là hành vi có ý thức của một người nhằm gây thiệt hại về thân thể hoặc tài sản cho một người khác, mang tính chất của lỗi cố ý hoặc vô ý. Hành vi gần như trái pháp luật là hành vi gây thiệt hại cho người khác do tác động của đồ vật hoặc súc vật thuộc quyền sở hữu của người gây thiệt hại, ngoài sự kiểm soát của người này.

Chấm dứt nghĩa vụ:

Chấm dứt thực hiện nghĩa vụ theo ý chí: khi đã thực hiện nghĩa vụ, miễn thực hiện nghĩa vụ, thay thế nghĩa vụ, thay thế nghĩa vụ bằng bản bán, ủy nhiệm thực hiện nghĩa vụ,

Chấm dứt nghĩa vụ theo án lệ: người có quyền tự nguyện miễn thực hiện nghĩa vụ mà không tiến hành một thể thức nào; thỏa thuận có tuyên thệ giữa các bên; thương lượng giữa các bên.

Chấm dứt bắt buộc nghĩa vụ khi hòa nhập giữa người có nghĩa vụ và người có quyền; người có quyền hoặc người có nghĩa vụ chết trong điều kiện quyền, nghĩa vụ gắn với nhân thân; đối tượng của nghĩa vụ không còn; đối với việc hết thời hiệu

Chấm dứt nghĩa vụ khi bù trừ nghĩa vụ

 

6. Chế định thừa kế

Thừa kế gồm:

– Thừa kế theo pháp luật được tiến hành trong trường hợp người chết không để lại di chúc có giá trị hoặc có để lại di chúc nhưng người thừa kế theo di chúc đã chết trước khi mở thừa kế, không có năng lực tiếp nhận di sản theo di chúc hoặc ở trong tình trạng không có quyền hưởng di sản.

– Thừa kế theo di chúc. Trong di chúc là những quy định liên quan trực tiếp đến di sản, quy định về việc lập người thùa kế theo di chúc, di tặng và ủy thác tài sản. Di chúc không được phép không có nội dung thừa kế đối với hàng thừa kế thứ nhất, nếu không có di chúc sẽ bị vô hiệu

Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết.

Di sản thừa kế bao gồm khối tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết và các quyền tài sản của người chết chưa thực hiện (quyền thừa kế, quyền đòi nợ). Người thừa kế là những người còn sống vào thời điểm mở thừa kế

Ngoài ra, nếu còn vấn đề vướng mắc hoặc băn khoăn về những nội dung trên Quý khách hàng có thể liên hệ tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6162 để được giải đáp thêm. Trân trọng./