1. Thời điểm mở thừa kế

1.1. Bộ luật dân sự năm 2015 

Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người để lại tài sản thừa kế chết. Trong trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày mà quyết định tuyên bố người đó chết có hiệu lực pháp luật. Theo quy định của pháp luật về thừa kế, thì việc xác định thời điểm mở thừa kế rất quan trọng vì tại thời điểm đó sẽ xác định được chính xác tài sản, quyền và nghĩa vụ của người để lại di sản đó. Việc xác định tài sản của người chết để lại nhằm mục đích đề phòng tình trạng tài sản đó có thể bị người khác phân tán hoặc chiếm đoạt.

Đặc biệt lần đầu tiên pháp luật nước ta quy định thời điểm có hiệu lực đối với di chúc chung của vợ và chồng. Nếu 2 vợ chồng cùng lập di chúc chung khi cả 2 vợ chồng cùng đã chết thì mới được chia di sản thừa kế đó. Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi cho người còn sống nhằm đảm bảo cho họ sử dụng tài sản chung.

Quyền hưởng di sản và thực hiện quyền hưởng di sản được diễn ra ở hai thời điểm khác nhau.

1.2. Luật La Mã

Theo Luật La Mã:Mở di chúc, khi đó có thể xác định thời điểm thực hiện cáo quyền của người thừa kế. Dưới các chế độ khác nhau sẽ có những quy định riêng. Điển hình như với chế độ Cộng Hòa, mở di chúc không cần một thể thức đặc biệt nào. Còn thời Đế quốc, vì lí do liên quan đến thuế mà đã cón 1 số điều luật được đặt ra ( thuế suất 1/20 di sản được chuyển giao, trình di chúc trong 3 đến 5 ngày kể từ ngày mở thừa kế, mở dưới sự chứng kiến của người làm chứng còn sống,..). Viên chức thuế là người chịu trách nhiệm ghi lại lời khai của người làm chứng đối với di chúc miệng.

Mọi di chúc chỉ được thừa nhận khi hoàn tất thủ tục bắt buộc, quyền hành động thực tế của người thừa kế cũng theo đó mà được thực hiện, dù đã được xác lập từ thời điểm mở thừa kế.

2. Năng lực của người lập di chúc

2.1. Trong BLDS 2015:

- Người lập di chúc là người có tài sản muốn định đoạt tài sản của mình cho người khác hưởng sau khi chết. nên họ thể hiện ý chí , năng lực của bản thân qua việc lập di chúc.  Điều kiện để một người có thể lập di chúc:

+ Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của BLDS có quyền lập di chúc định đoạt tài sản của mình( minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không bị lừa dối , đe dọa , cưỡng ép)

+ Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi được lập di chúc , nếu được cha , mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

- Người lập di chúc có các quyền sau( năng lực người lập di chúc):

+ Chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

+ Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

+ Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

+ Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

+ Chỉ định người giữ di chúc, người quản lí.  

Người lập di chúc phải hoàn toàn tự nguyện. Tự nguyện theo nghĩa khái quát là việc thực hiện theo ý mình, do mình mong muốn, không phụ thuộc vào bất cứ chủ thể nào khác.

2.2. Luật La Mã

Năng lực định đoạt tài sản được thể hiện như sau : để có thể lập di chúc người lập di chúc phải có tư cách công nhân có năng lực pháp luật và tự nguyện trong việc lập di chúc. tuy nhiên, trên thực tế tất cả các cư dân trên lãnh thổ của đế quốc La Mã mà được quyền làm ăn thương mại đều có quyền lập di chúc. Công dân La Mã có năng lực pháp luật mà chưa đủ khả năng nhận thức, bị điên loạn hoặc bị phá tài sản thì không có quyền lập di chúc. Những người con trai trong các gia đình La Mã cũng có quyền lập di chúc định đoạt của cải do mình dành dụm được. Riêng những người phụ nữ La Mã mà có năng lực pháp luật chỉ có quyền lập di chúc từ thời Justinian. Như vậy, chỉ người nào có quyền định đoạt tài sản mới có quyền lập di chúc.

3. Hình thức của di chúc

3.1. Bộ luật dân sự năm 2015

Hình thức di chúc được quy định tại Điều 627, Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng”

Di chúc miệng: Theo quy định của khoản 5 Điều 630 BLDS, di chúc miệng chỉ được xem là hợp pháp nếu đáp ứng những điều kiện về hình thức sau đây: người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng; ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ; trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Di chúc bằng văn bản:

Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng: Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc”. Đây là loại di chúc do người lập di chúc phải tự tay viết vào bản di chúc, sẽ không chấp nhận đánh máy hoặc lưu trữ dưới dạng nào khác như viết trên máy tính bảng, viết và lưu vào các phần mềm trên điện thoại, máy tính,.… mà chỉ có thể thể hiện trên bản giấy. Di chúc được thể hiện dưới hình thức này phải thỏa mãn hai điều kiện: (1) người để lại di sản thừa kế tự tay viết bản di chúc; (2) người này phải tự tay ký vào bản di chúc. Do vậy, ở mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký của người lập di chúc. Quy định khắt khe nhằm tránh tình trạng di chúc của người để lại di sản bị người khác sửa đổi, thay thế, bị giả mạo… Trong trường hợp cần kiểm tra tính xác thực bản di chúc nếu tranh chấp xảy ra thì có thể giám định chữ viết trong bản di chúc, chữ ký của bản di chúc là được.

-  Di chúc bằng văn bản có người làm chứng: Theo quy định tại Điều 634 BLDS 2015: “Trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc”. Người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc vì một số lý do nhất định nào đó có thể lựa chọn hình thức di chúc này. Hình thức di chúc bằng văn bản có người làm chứng cho phép người để lại di sản thừa kế có hai lựa chọn: (1) họ có thể tự mình đánh máy bản di chúc; (2) nhờ người khác viết hộ hoặc đánh máy hộ bản di chúc. Trên thực tế, có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc một người không tự mình viết bản di chúc, có thể do không biết chữ (trình độ học vấn), trường hợp người lập di chúc có thể tự mình lập di chúc nhưng người đó lại không muốn tự viết, do sức khỏe đang yếu không tiện viết di chúc,…

- Di chúc bằng văn bản có công chứng: Theo quy định của BLDS, người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc. Khoản 3 Điều 56 Luật Công chứng năm 2014 quy định: “Di chúc đã được công chứng nhưng sau đó người lập di chúc muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ di chúc thì có thể yêu cầu bất kỳ công chứng viên nào công chứng việc sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc hủy bỏ đó. Trường hợp di chúc trước đó đang được lưu giữ tại một tổ chức hành nghề công chứng thì người lập di chúc phải thông báo cho tổ chức hành nghề công chứng đang lưu giữ di chúc biết việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đó”. Quy định này yêu cầu việc sửa đổi, bổ sung di chúc trước đó được công chứng vẫn phải công chứng lại phần sửa đổi, bổ sung. Trong khi đó, Điều 640 BLDS không đặt ra yêu cầu về hình thức đối với việc sửa đổi, bổ sung di chúc. 

3.2. Luật La Mã 

Theo Luật La Mã thì hình thức di chúc được công nhận đó là Di chúc lập trước Đại hội đồng nhân dân, Di chúc quân sự và Di chúc chuyển giao tài sản qua trung gian. Cụ thể như sau:  

Một là, di chúc lập trước Đại hội đồng nhân dân đó là Di chúc được lập trước sự chứng kiến của Đại hội đồng chính trị của các công dân La Mã, dưới sự chủ tọa của các Đại Nguyên lão. Loại di chúc này chỉ được lập trong thời gian hai kỳ đại hội hàng năm vào 24/3 và 24/5.

Hai là, di chúc quân sự là Di chúc do công dân La Mã đang lâm chiến lập phải được sự chứng kiến của đồng đội.  Trong xã hội La Mã, độ tuổi quân sự của người La Mã tối đa là 46 do đó di chúc quân sựu sẽ được lập không quá độ tuổi này.

Ba là, di chúc chuyển giao tài sản qua trung gian: Sau khi lập di chúc, người lập di chúc giao tài sản cho một người thi hành di chúc (familiae emptor) và người này chịu trách nhiệm phân phối tài sản cho những người thừa kế theo ý chí của người lập di chúc sau khi người đó chết. Việc chuyển giao tài sản được thực hiện đúng các thể thức mancipatio, tức là các thể thức chuyển quyền sở hữu thep hợp đồng đối với các tài sản quan trọng, đặc biệt là có sự hiện diện của các nhân chứng. Chính các nhân chứng trong thủ tục mancipatio đồng thời là người làm chứng cho việc lập di chúc. Familiae emptor trở thành chủ sở hữu các tài sản được chuyển giao với điều kiện giao lại các tài sản ấy cho người thừa kế sau khi người lập di chúc chết.

4. Nội dung của di chúc

4.1. Bộ luật dân sự năm 2015

1.a) Ngày, tháng, năm lập di chúc
b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
d) Di sản để lại và nơi có di sản.
2. Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, di chúc có thể có các nội dung khác.
3. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.
Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xoá, sửa chữa.

4.2. Luật La Mã

1.a) Số người nhận tài sản thừa kế

b) tên người thừa kế (nomen heredis)

c)Một số quy định và trách nhiệm

(modus)đối với người thừa kế

 2. Nếu trong di chúc không ghi rõ tài sản sẽ phân phát cho ai bao nhiêu, và tên người thừa kế không được ghi thì di chúc hoàn toàn không có hiệu lực.

3. Nếu nội dung di chúc không chỉ định người thừa kế (lí do khước từ tài sản) thì cũng phải ghi rõ tên những người được bảo lãnh cho kẻ thừa kế còn ít tuổi.

4. Nếu người thừa kế không chấp hành trách nhiệm của mình thì sẽ chịu sự cưỡng chế từ phía nhà chức trách

5. Lập người thừa kế theo di chúc

5.1. Bộ luật dân sự năm 2015

Người thừa kế là những người trong hàng thừa kế hoặc ngoài hàng thừa kế như cơ quan, tổ chức và kể cả nhà nước. Có tất cả 3 hàng thừa kế. Ngoài những người được hưởng trong di chúc hoặc được hưởng ít hơn 2/3 một suất thừa kế sẽ được hưởng 2/3 của 1 suất thừa kế của một người theo pháp luật.

5.2. Luật La Mã

Trong luật La Mã: Người thừa kế là những người thuộc các điều kiện sau  người thừa kế trong luật tư la mã là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế nếu là thai nhi  thì phải được sinh ra sau khi người để lại tài sản chết 300 ngày  ( thai nhi tháng thứ 11, đàn ông từ 25 đến 60 tuổi, đàn bà từ 20 đến 50 tuổi mà không lập gia đình thì không được thừa kế.).Trong luật tư La Mã có 5 hàng thừa kế.Nếu người lập di chúc bỏ qua hàng thừa kế thứ nhất thì di chúc mất hiệu lực.Những người ở hàng thừa kế thứ nhất trong di chúc nếu bị truất quyền thừa kế sẽ nhận được nhận 1 kỷ phần bắt buộc theo nguyên tắc.

 

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê.