1. Chủ tịch nước là gì? 

Về mặt khoa học pháp lý: Theo quy định của HIến pháp năm 2013, chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt Nước cộng hòa XHCN Việt Nam trong đối nội, đối ngoại. 

Dưới góc độ tổ chức quản lý nhà nước: trong cấu trúc bộ máy nhà nước, Chủ tịch nước là một cơ quan nhà nước. 

Tóm lại, có thể hiểu rằng Chủ tịch nước là cơ quan thiết chế đứng đầu Nhà nước, đại diện chung cho sự thống nhất và thay mặt nhà nước thực hiện các nhiệm vụ của quốc gia trong đối nội và đối ngoại. 

Hiện nay, tại kỳ họp bất thường lần thứ 6, Quốc hội khóa XV đã thông báo bà Võ Thị Ánh Xuân sẽ tạm thời giữ quyền Chủ tịch nước cho đến khi Quốc hội bầu ra Chủ tịch nước mới. Như vậy, người giữ chức vụ chủ tịch nước của Việt Nam là bà Võ Thị Ánh Xuân. 

 

2. Quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước

Nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước theo Điều 88 Hiến pháp 2013 như sau: 

- Công bố Hiến pháp, Luật, pháp lệnh; đề nghị ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày pháp lệnh được thông qua, nếu pháp lệnh đó vẫn được Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất;

- Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ; căn cứ vào nghị quyết của Quốc Hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ;

- Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội để bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán các Tòa án khác, Phó viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định đặc xá; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, công bố quyết định đặc xá;

- Quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương, các giải thưởng nhà nước, danh hiệu vinh dự nhà nước; quyết định cho nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch hoặc tước quốc tịch Việt Nam;

- Thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân, giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh, quyết định phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;

- Tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm; quyết định đề cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Cộng hòa XHCN Việt Nam; phong hàm, cấp đại sứ; quyết định đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước; trình Quốc hội phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế quy định tại khoản 14 Điều 70 Hiến pháp năm 2013; quyết định phê chuẩn, gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế khác nhân danh Nhà nước. 

 

3. Quy định về nhiệm kỳ của Chủ tịch nước

Theo Điều 87 của Hiến pháp năm 2013, nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ quốc hội. Mỗi khóa quốc hội có nhiệm kỳ 5 năm, và trung bình nhiệm kỳ của Chủ tịch nước cũng là 5 năm. Điều này có nghĩa là Chủ tịch nước được bầu hoặc tái bầu sau mỗi khóa Quốc hội, và thường thì nhiệm kỳ của Chủ tịch nước kéo dài trong suốt nhiệm kỳ của Quốc hội. 

Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, nhiệm kỳ của Chủ tịch nước có thể ngắn hơn hoặc dài hơn 5 năm. Ví dụ, nếu Chủ tịch nước từ chức hoặc qua đời, một chủ tịch nước tạm thời sẽ được bầu để hoàn thành nhiệm kỳ còn lại của Chủ tịch nước trước đó. Trong trường hợp này, nhiệm kỳ của chủ tịch nước tạm thời có thể ngắn hơn 5 năm. 

Ngoài ra, nếu có những thay đổi quan trọng về Hiến pháp hoặc Luật tổ chức Quốc hội, nhiệm kỳ của Chủ tịch nước cũng có thể bị ảnh hưởng và thay đổi so với trung bình 5 năm. Tuy nhiên, những thay đổi này phải được thực hiện theo quy trình pháp lý và quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội. 

 

4. Trường hợp nhiệm kỳ Chủ tịch nước ngắn hơn 5 năm

Hiện nay, pháp luật quy định những trường hợp có thể dẫn tới việc thay đổi nhiệm kỳ của Chủ tịch nước ngăn hơn 5 năm như sau: 

Trường hợp Chủ tịch nước xin thôi nhiệm vụ: Theo Điều 91 của Hiến pháp năm 2013, Chủ tịch nước có quyền xin thôi nhiệm vụ trước thời hạn. Khi Chủ tịch nước xin thôi nhiệm vụ, Phó Chủ tịch nước sẽ tạm quyền Chủ tịch nước cho đến khi Quốc hội bầu Chủ tịch nước mới. Trong trường hợp này, nhiệm kỳ của Chủ tịch nước sẽ kết thúc trước thời hạn dự kiến. 

Trường hợp Chủ tịch nước bị Quốc hội bãi nhiệm: Theo Điều 92 của Hiến pháp năm 2013, Chủ tịch nước có thể bị Quốc hội bãi nhiệm nếu vi phạm Hiến pháp, Luật hoặc làm ảnh hưởng đến uy tín quốc gia. Trong trường hợp này, Quốc hội sẽ tiến hành quy trình bãi nhiệm Chủ tịch nước, và nhiệm kỳ của Chủ tịch nước sẽ kết thúc trước thời hạn dự kiến. 

Cả hai trường hợp trên đều dẫn đến việc ngắn hạn hóa nhiệm kỳ của Chủ tịch nước so với trung bình 5 năm. Tuy nhiên, quy trình và điều kiện để xin thôi nhiệm vụ hoặc bị bãi nhiệm đều phải tuân thủ quy định của pháp luật. 

 

5. Trường hợp nhiệm kỳ Chủ tịch nước dài hơn 5 năm

Theo hiến pháp năm 2013 có quy định trường hợp nhiệm kỳ của Chủ tịch nước dài hơn trung bình 5 năm khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khóa mới bầu ra Chủ tịch nước. 

Trong trường hợp nhiệm kỳ của Chủ tịch nước kéo dài hơn 5 năm, thường là do quốc hội chưa kịp bầu Chủ tịch nước mới trước khi nhiệm kỳ kết thúc. Do đó, trong thời gian này, Chủ tịch nước vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khóa mới bầu ra Chủ tịch nước. 

Ví dụ: Trường hợp của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc: Ông Nguyễn Xuân Phúc có thời gian kết thúc nhiệm kỳ theo pháp luật về Chủ tịch nước là vào ngày 5 tháng 4 năm 2021. Tuy nhiên, do Quốc hội khóa XIV hết nhiệm kỳ vào ngày 26 tháng 7 năm 2023, ông Phúc đã tiếp tục làm nhiệm vụ của Chủ tịch nước cho đến khi quốc hội khóa XV bầu ra Chủ tịch nước mới vào ngày 20 tháng 4 năm 2024. Như vậy, nhiệm kỳ của ông Nguyễn Xuân Phúc kéo dài hơn 5 năm, cụ thể thời gian kéo dài là 3 năm và 15 ngày. Việc kéo dài thời gian nhiệm kỳ của ông Nguyễn Xuân Phúc để đảm bảo sự liên tục trong việc giữ chức Chủ tịch nước trong thời gian chờ Quốc hội bầu ra Chủ tịch nước mới. 

 

6. Số lần tái cử Chủ tịch nước

Theo Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam quy định sẽ không có giới hạn số lần tái cử cho Chủ tịch nước. Tại Điều 87 của Hiến pháp có quy định rằng nhiệm kỳ của Chủ tịch nước là 5 năm và không giới hạn số lần tái cử. Tuy nhiên, quyết định tái cử Chủ tịch nước phụ thuộc vào quy trình bầu cử và quyết định của Quốc hội. 

Sau khi được bầu, Chủ tịch nước sẽ tuyên thệ trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Hiến pháp trước Quốc Hội. Thời gian tuyên thệ sẽ không kéo dài quá 03 phút. 

Trên đây là giải thích của Luật Minh Khuê cho thắc mắc về Trung bình nhiệm kỳ của Chủ tịch nước là bao nhiêu năm? Bạn đọc có thể tham khảo thêm các bài viết liên quan như Chủ tịch nước là gì? Vị trí, vai trò của Chủ tịch nước theo hiến pháp; Phân tích vị trí chủ tịch nước qua các bản Hiến pháp Việt Nam? 

Nếu bạn đọc có thắc mắc cần tìm hiểu thêm về các vấn đề pháp lý liên quan tới Chủ tịch nước thì có thể liên hệ trực tiếp qua tổng đài: 1900.6162 hoặc qua email: lienhe@luatminhkhue.vn