1. Trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan?

Ngày 19/10/2020, Chính phủ ban hành Nghị định 128/2020/NĐ-CP về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan. Theo Điều 6 của nghị định này, các trường hợp không bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan bao gồm những trường hợp sau đây:

- Các trường hợp không bị xử phạt theo quy định tại Điều 11 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

- Hàng hóa và phương tiện vận tải được nhập vào lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do các sự kiện bất ngờ, bất khả kháng, nhưng phải thông báo với cơ quan hải quan hoặc cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật. Sau khi các vấn đề này được giải quyết, hàng hóa và phương tiện vận tải đó phải được loại bỏ khỏi lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

- Các trường hợp khai bổ sung hồ sơ hải quan trong thời hạn được quy định tại khoản 4 của Điều 29 của Luật Hải quan năm 2014 sẽ không bị xử phạt vi phạm hành chính.

- Các trường hợp người khai hải quan tuân thủ theo hướng dẫn văn bản hoặc quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế theo quy định tại khoản 11 của Điều 16 của Luật Quản lý thuế năm 2019.

- Trường hợp hàng hoá được gửi vào Việt Nam không phù hợp với hợp đồng theo quy định tại Điều 39 của Luật Thương mại năm 2005 (trừ hàng hóa cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu, hàng giả, phế liệu không thuộc Danh mục được phép nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất), nhưng đã được người gửi hàng, người vận tải, người nhận hàng hoặc người đại diện hợp pháp của họ thông báo bằng văn bản (kèm theo lý do chi tiết) cùng với các chứng từ liên quan đến Chi cục trưởng của Chi cục Hải quan nơi lưu giữ hàng hóa trước khi đăng ký tờ khai hải quan.

2. Thời hiệu để xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Căn cứ theo Điều 4 Nghị định 128/2020/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung bởi điểm b khoản 2 Điều 2 Nghị định 102/2021/NĐ-CP quy định về thời hiệu để xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan như sau:

- Các hành vi vi phạm khác ngoài trường hợp đã được quy định ở Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và khoản 4 của Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính sẽ áp dụng thời hiệu xử phạt theo quy định tại khoản 5 và khoản 6 của Điều này. Riêng đối với các trường hợp xử phạt vi phạm hành chính được chuyển đến cơ quan tiến hành tố tụng theo quy định ở Điều 63 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, thời hiệu xử phạt sẽ tuân theo quy định tại điểm a của khoản 1 và khoản 2 của Điều này.

- Các hành vi vi phạm hành chính được xác định là đã kết thúc và thời điểm kết thúc như sau: Đối với các hành vi vi phạm quy định tại Điều 7 của Nghị định này, thời điểm kết thúc là khi thực hiện thủ tục hải quan hoặc nộp hồ sơ thuế. Đối với các hành vi vi phạm quy định tại Điều 8 của Nghị định này, thời điểm kết thúc là khi đăng ký tờ khai hải quan hoặc khi nộp các tài liệu liên quan đến hàng hóa, hành khách, hoặc phương tiện vận tải. Đối với các hành vi vi phạm quy định tại Điều 10 của Nghị định này, thời điểm kết thúc là khi người xuất cảnh hoặc nhập cảnh hoàn thành việc khai hải quan. Đối với các hành vi vi phạm quy định tại điểm a của khoản 1 của Điều 11 của Nghị định này, thời điểm kết thúc là khi nộp hoặc xuất trình chứng từ thuế cho cơ quan hải quan theo tờ khai đã đăng ký. Đối với các hành vi vi phạm quy định tại điểm b của khoản 1 của Điều 11 của Nghị định này, thời điểm kết thúc là khi người nộp thuế thực hiện sửa đổi hoặc bổ sung báo cáo quyết toán. Đối với các hành vi vi phạm quy định tại điểm c của khoản 2 của Điều 11 của Nghị định này, thời điểm kết thúc là khi người nộp thuế nộp báo cáo quyết toán. Đối với các hành vi vi phạm quy định tại điểm a của khoản 7 của Điều 11 của Nghị định này, thời điểm kết thúc là khi khai, nộp, hoặc xuất trình chứng từ, tài liệu cho cơ quan hải quan. Đối với các hành vi vi phạm quy định tại điểm b của khoản 7 của Điều 11 của Nghị định này, thời điểm kết thúc là khi ngừng sử dụng tài khoản hoặc chữ ký số được cấp cho tổ chức hoặc cá nhân khác để thực hiện thủ tục hải quan một cách bất hợp pháp. Đối với các hành vi vi phạm quy định tại điểm c của khoản 7 của Điều 11 của Nghị định này, thời điểm kết thúc là khi ngừng truy cập trái phép, làm sai lệch, hoặc phá hủy hệ thống thông tin hải quan. Đối với các hành vi vi phạm quy định tại Điều 9; khoản 8 của Điều 11; các điểm b, c, đ, e, h của khoản 1 của Điều 14; khoản 1 của Điều 15; Điều 16; Điều 17; Điều 18; Điều 19; Điều 20; Điều 21; Điều 22 của Nghị định này, thời điểm kết thúc là khi đăng ký tờ khai hải quan. Các hành vi vi phạm quy định trong Nghị định này, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 5 của Điều này, được xác định là hành vi vi phạm đang được thực hiện.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Cá nhân hoặc tổ chức vi phạm hành chính có thể phải chịu một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả sau đây theo quy định tại khoản 5 Điều 5 Nghị định 128/2020/NĐ-CP:

- Cá nhân hoặc tổ chức vi phạm có thể bị buộc phải rời khỏi lãnh thổ của Việt Nam, tức là họ không được phép ở lại hoặc nhập cảnh vào Việt Nam trong một khoảng thời gian cố định. Trong trường hợp tang vật hoặc phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính, chúng có thể bị buộc phải rời khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc phải tái xuất lại từ cửa khẩu nhập cảnh.

- Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc buộc tái xuất tại cửa khẩu nhập với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. 

- Buộc thực hiện việc vận chuyển hàng hóa quá cảnh, chuyển cảng, chuyển khẩu, chuyển cửa khẩu, hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất đúng cửa khẩu, tuyến đường quy định.

- Buộc loại bỏ bao bì, nhãn của hàng hóa đã thay đổi do hành vi vi phạm; buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên nhãn hàng hóa trước khi đưa hàng hóa ra khỏi lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

- Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại.

- Buộc nộp lại số tiền tương đương với giá trị của tang vật đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật. Điều này nhằm đảm bảo rằng họ phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm và bồi thường cho thiệt hại gây ra.

- Buộc nộp đủ số tiền thuế đã trốn, số tiền thuế thiếu.

- Buộc nộp đủ số tiền thuế đã được miễn, giảm, hoàn, không thu không đúng. Biện pháp này áp dụng khi cá nhân hoặc tổ chức vi phạm hành chính liên quan đến việc không nộp đủ số tiền thuế đã được miễn, giảm, hoàn, hoặc không nộp đúng số tiền thuế theo quy định của pháp luật thuế tại Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

- Buộc dán tem "Vietnam duty not paid" theo quy định. Điều này áp dụng để xác định rằng hàng hóa đã không trả đủ thuế tại Việt Nam.

Những biện pháp này thường được áp dụng nhằm đảm bảo tuân thủ các quy định pháp luật và bảo vệ lợi ích của người dân và môi trường.

Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết: Khái quát về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan và chức danh có thẩm quyền xử phạt hành chính về hải quan.

Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!