"Tự thú" là một chế định pháp lý quan trọng và mang đậm giá trị nhân văn trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam. Nó không chỉ là một khái niệm được định nghĩa rõ ràng mà còn gắn liền với một hệ thống các hậu quả pháp lý cụ thể, thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với những người phạm tội có ý thức tự giác và ăn năn hối cải. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp đầy đủ thông tin cho bạn đọc về tự thú.
1. Tự thú là gì?
Chính sách hình sự của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được xây dựng trên nền tảng của sự cân bằng biện chứng giữa hai nguyên tắc cốt lõi: nghiêm trị và khoan hồng. Một mặt, pháp luật hình sự nghiêm khắc trừng trị những hình vi phạm tội nhưng mặt khác cũng thể hiệ tính nhân đạo sâu sắc, mở ra con đường của sự khoan hồng cho những người biết ăn năn hối cải, chủ động hợp tác với cơ quan chức năng. Nguyên tắc khoan hồng được thể hiện rõ nét tại điểm d, khoản 1 Điều 3 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), trong đó "Tự thú" được ghi nhân là những cơ sở pháp lý quan trọng để người phạm tội được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm.
Tự thú là tự nguyện đến cơ quan nhà nước có thẩm quyến khai báo về hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện hoặc tham gia thực hiện trước khi bị phát giác.
Tự thú là tình tiết phân ánh sự thay đổi trong SUy nghĩ của người phạm tội theo xu hướng tích cực, Do vậy, tình tiết này có ảnh hưởng đáng kể đến trách nhiệm hình sự. Luật hình sự Việt Nam, từ trước khi có Bộ luật hình sự đầu tiên năm 1985, đều đã thừa nhận nguyên tắc khoan hồng đối với người tự thú trong nhiều văn bản pháp luật như Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa năm 1970; Sắc luật số 03 năm 1976...
Trước đây, trong Bộ luật hình sự năm 1999 (đã hết hiệu lực, chỉ có giá trị tham khảo), tự thú ngoài việc được quy định là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các tội phạm nói chung còn được quy định là tình tiết miễn trách nhiệm hình sự khi thoả mãn những điều kiện nhất định. Đặc biệt, tình tiết tự thú còn được quy định trực tiếp là tỉnh tiết miễn trách nhiệm hình sự của hai tội phạm cụ thể là tội gián điệp và tội đưa hối lộ. Riêng đối với tội đưa hối lộ luật khẳng định: Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì được coi là không có tội...
Nhìn chung chúng ta có thể thấy tự thú là hành động của người phạm tội đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để trình báo về hành vi phạm tội do mình gây ra và nhận sự khoan hồng của pháp luật, có thể nói đây là những hình thức thể hiện sự nhân đạo của pháp luật Việt Nam. Vậy tự thú là gì? Quy định của pháp luật về tự thú như thế nào xin mời theo dõi trong bài viết sau đây:
Hiện nay, theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có quy định về khái niệm tự thú như sau: "Tự thú là việc người phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành vi phạm tội của mình trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện"
Có thể thấy rằng yếu tố "tự nguyện" là dấu hiệu đặc trưng về mặt ý chí của người phạm tội. Sự tự nguyên ở đây được hiểu là hành động xuất phát từ chính nhận thức và quyết định của người đó, không có bất kỳ sự tác động, ép buộc, đe dọa hay dụ dỗ nào từ bên ngoài. Người phạm tội sau khi thực hiện hành vi đã tự nhận thức được sai lầm và chủ động lựa chọn con đường khai báo để đối diện với trách nhiệm pháp lý.
Chủ thể được nhắc đến "người phạm tội", là người đã thực hiện hành vi mà pháp luật hình sự quy định là tội phạm, thời điểm này chưa bị khởi tố bị can, chưa bị cơ quan xác định là người thực hiện tội phạm.
Như vậy, tự thú là tự bản thân người phạm tội họ nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của họ trước pháp luật, trong khi chưa ai phát hiện được họ phạm tội. Người nào bị bắt, bị phát hiện về một hành vi phạm tội cụ thể, nhưng trong quá trình điều tra đã tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội khác của mình mà chưa bị phát hiện, thì cũng được coi là tự thú đối với việc tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội của mình mà chưa bị phát hiện.
2. Hậu quả pháp lý và cơ sở khoan hồng
2.1. Chính sách khoan hồng
Khoan hồng được hiểu đó là đối xử độ lượng đối với những người có lỗi và đối với trường hợp này thì người phạm tội nhận sự khoan hồng từ pháp luật và đầu thú sẽ không được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tuy nhiên trong quá trình điều tra, xét xử việc xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tùy thuộc vào quyết định của Tòa án và tùy thuộc vào thái độ sau đó của người đầu thú (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, lập công chuộc tội...) Việc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải được ghi rõ trong bản án.
2.2. Tự thú có được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không?
Người phạm tội tự thú được quy định tại Điều 152, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
"1. Khi người phạm tội đến tự thú, đầu thú, cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản ghi rõ họ tên, tuổi, nghề nghiệp, chỗ ở và lời khai của người tự thú, đầu thú. Cơ quan, tổ chức tiếp nhận người phạm tội tự thú, đầu thú có trách nhiệm thông báo ngay cho Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát.
2. Trường hợp xác định tội phạm do người tự thú, đầu thú thực hiện không thuộc thẩm quyền điều tra của mình thì Cơ quan điều tra tiếp nhận người tự thú, đầu thú phải thông báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiếp nhận, giải quyết.
3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi tiếp nhận người phạm tội tự thú, đầu thú, Cơ quan điều tra có thẩm quyền phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp"
Bộ luật Hình sự 2015 cũng quy định về các tình tiết giảm nhẹ bao gồm người phạm tội tự thú. Như vậy, theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội tự thú sẽ được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Có nghĩa là khi người phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành vi phạm tội của mình trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện thì sẽ được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: miễn trách nhiệm hình sự, đánh giá là tình tiết giảm nhẹ loại nào để có cơ sở quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, xem xét loại hình phạt...
Tự thú có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu như trước khi hành vi phạm tội bị phát giác người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm và đã cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận.
Nếu người phạm tội tự thú không được miễn trách nhiệm hình sự, mà chỉ được coi là tình tiết giảm nhẹ thì khi áp dụng cần chú ý:
- Trường hợp bị cáo phạm nhiều tội, thì tự thú tội nào được coi là tình tiết giảm nhẹ đối với tội đó. Ví dụ: Chị A bị bắt quả tang về hành vi vận chuyển 100 gram Heroin; trong quá trình điều tra, chị A tự khai trước đó 3 tháng vào trước tết nguyên đán A còn phạm tội buôn bán hàng cấm là Pháo nổ với số lượng rất lớn; Cơ quan điều tra xác minh thấy lời khai tự thú của chị A là chính xác. Tuy nhiên, việc tự thú của chị A không góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, không hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả tội phạm, vì số pháp nổ mà chị A buôn bán đã tiêu thụ hết trong dịp tết nguyên đán, chị A cũng không khai được số pháo đó bán cho ai, ở đâu nên Cơ quan điều tra đã khởi tố bổ sung đối với chị A về tội buôn bán hàng cấm theo khoản 2 Điều 155 Bộ Luật hình sự. Khi xét xử vụ án đối với chị A Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm o khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự đối với bị cáo A về cả 2 tội "vận chuyển trái phép chất ma túy" và "buôn bán hàng cấm". Lẽ ra, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ áp dụng tình tiết giảm nhẹ này đối với tội "buôn bán hàng cấm" còn tội đối với tội "vận chuyển trái phép chất ma túy" bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ "người phạm tội tự thú".
- Trường hợp bị cáo thực hiện nhiều hành vi phạm tội cùng một tội, thì tự thú hành vi phạm tội nào (nếu không được miễn trách nhiệm hình sự về hành vi đó) thì cũng được coi là tình tiết giảm nhẹ đối với tội phạm mà bị cáo thực hiện nhưng mức độ giảm nhẹ đối với tội phạm mà bị cáo thực hiện nhưng mức độ giảm nhẹ ít hơn trường hợp tự thú tất cả hành vi phạm tội. Ví dụ: Anh B bị bắt quả tang khi đang thực hiện hành vi trộm cắp của một hành khách trên xe buýt với số tiền 10 triệu đồng; trong quá trình điều tra, B còn khai đã 4 lần trộm cắp tài sản của 4 người với tổng số tiền là 50 triệu đồng nhưng không biết tên và địa chỉ của 4 người bị hại, vì B chuyên móc túi trên xe buýt, số tiền trộm cắp được B đã tiêu xài cá nhân hết. B bị Viện kiểm sát truy tố theo quy định tại khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự với các tinh tiết: "có tính chất chuyên nghiệp" (điểm b) và chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng" (điểm e). Do B đã tự thú 4 lần trộm cắp trước khi bị bắt quả tang và xét thấy không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự của hành vi trộm cắp tài sản 4 lần trước đó nên khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm o khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự đối với bị cáo B.
Trong thực tiễn xét xử, mức độ khoan hồng dành cho người tự thú không chỉ phụ thuộc vào bản thân hành vi tự thú mà còn phụ thuộc vào sự kết hợp của nó với các tình tiết giảm nhẹ khác. Nguyên tắc "Khoan hồng đối với người tự thú" tại Điều 3 BLHS là kim chỉ nam xuyên suốt quá trình tố tụng. Tòa án sẽ đánh giá một cách toàn diện thái độ và hành vi của bị cáo. Một người vừa tự thú, vừa thành khẩn khai báo, lại tích cực, tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại, và có thể lập công chuộc tội sẽ được hưởng một mức án khoan hồng hơn đáng kể so với người chỉ có duy nhất tình tiết tự thú. Hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam đã tạo ra một cơ cấu khuyến khích nhiều tầng, trong đó tự thú là bước khởi đầu quan trọng, và các hành vi tích cực sau đó sẽ tiếp tục cộng hưởng để mang lại kết quả có lợi hơn cho người phạm tội khi Tòa án quyết định hình phạt.
Cơ quan có thẩm quyền: hành vi khai báo phải được thực hiện với "cơ quan, tổ chức". Quy định này cho thấy một sự linh hoạt và thực tế trong việc tiếp nhận thông tin. Người phạm tội không chỉ có thể đến tự thú tại các cơ quan tiến hành tố tụng như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, mà còn có thể khai báo tại các cơ quan nhà nước khác (như Ủy ban nhân dân), các tổ chức chính trị - xã hội (như Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên), hoặc thậm chí là đơn vị công tác, học tập của mình. Các cơ quan, tổ chức này sau khi tiếp nhận có nghĩa vụ phải thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Việc mở rộng phạm vi tiếp nhận này đã hạ thấp rào cản tâm lý cho người muốn tự thú, tạo điều kiện thuận lợi nhất để họ có thể trình báo hành vi phạm tội, thể hiện một thiết kế pháp luật mang tính thực tiễn cao nhằm tối đa hóa khả năng tội phạm được đưa ra ánh sáng.
3. Quyền và nghĩa vụ của người tự thú
Khi thực hiện hành vi tự thú, người phạm tội có các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định.
- Về quyền: Quyền quan trọng nhất là quyền được có luật sư hoặc người bào chữa ngay từ thời điểm họ ra tự thú để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Ngoài ra, họ có quyền trình bày lời khai, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của mình.
- Về nghĩa vụ: Nghĩa vụ cơ bản và quan trọng nhất là phải khai báo trung thực, đầy đủ về toàn bộ hành vi phạm tội của mình cũng như của những người đồng phạm khác (nếu có). Sự trung thực này là yếu tố để được xem xét hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ "thành khẩn khai báo".
4. Ý nghĩa của việc người phạm tội tự thú
Pháp luật hình sự có quy định về tự thú theo đó có thể thấy tự thú thể hiện chính sách khoan hồng nhất quán của Nhà nước ta, thể hiện truyền thống nhân đạo của dân tộc ta đối với những người lầm lỗi mà chịu ăn năn hối cải. Thành tâm tự thú là một hành vi tích cực là biểu hiện của sự ăn năn muốn hối cải của người đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi phạm pháp.
Căn cứ dựa trên quy định của Bộ luật dân sự quy định việc người phạm tội tự thú là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Quy định về tự thú còn là quy định mang tính phòng ngừa tích cực trong xã hội và có ý nghĩa rất lớn đối với điều tra vì có thể rút ngắn thời gian. Theo đó mà hành vi tự thú không chỉ giúp cho các cơ quan bảo vệ pháp luật sớm khám phá ra tội phạm và ngăn chặn được những hành vi tiếp tục thực hiện tội phạm mà còn tác động tích cực đến những đối tượng khác đã hoặc đang có hành vi phạm tội, làm cho các đối tượng này phải hoang mang, dao động à tự kiềm chế các hành vi và ý đồ thực hiện tội phạm của mình.
Việc người phạm tội tự thú trước pháp luật về tội phạm của mình có ý nghĩa tích cực đó là quá trình truy bắt đối tượng phạm tội được rút ngắn thời hạn thực hiện các hành vi tố tụng cũng sẽ không tốn nhiều. Vì những ý nghĩa đó, pháp luật tố tụng hình sự của nước ta, luôn khuyến khích tự thú. Cũng chính vì vậy mà luật cũng quy định những thủ tục tố tụng và các điều kiện pháp lý khác có lợi cho người tự thú.
Nếu có bất kỳ vướng mắc nào về vấn đề này hoặc các vấn đề pháp lý khác xin vui lòng liên hệ tới tổng đài tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến của Công ty luật Minh Khuê qua số điện thoại 1900.6162 để được hỗ trợ giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác. Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!